BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LÊ THỊ HẰNG
ĐÁNH GIÁ SAI SÓT TRONG KÊ ĐƠN
VÀ THỰC HÀNH THUỐC
TẠI MỘT BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TUYẾN HUYỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
HÀ NỘI - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LÊ THỊ HẰNG
ĐÁNH GIÁ SAI SÓT TRONG KÊ ĐƠN
VÀ THỰC HÀNH THUỐC
TẠI MỘT BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TUYẾN HUYỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
Hà Nội, ngày 31 tháng 8 năm 2015
Học viên
Lê Thị Hằng
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Kí hiệu
Tên đầy đủ
Tên tiếng việt
ASHP
American Society of Hospital
Pharmacists
Hiệp hội Dược sĩ Bệnh viện Hoa
Kỳ
ADE
Adverse Drug Event
Biến cố bất lợi của thuốc
CI
Confidence intervl
Khoa hồi sức cấp cứu
ME
Medication error
Sai sót liên quan tới thuốc
NCC MERP
The National Coordinating
Council for Medication Error
Reporting ang Prevention
Hội đồng điều phối Quốc gia
Hoa Kỳ về Báo cáo và Phòng
tránh sai sót liên quan tới thuốc
Nhà sản xuất
NSX
OR
Odd ratio
Độ chênh
KĐ
Kê đơn
30
Bảng 3.2
Các sai sót và tỷ lệ các sai sót mắc phải trong tại các khoa
31
Bảng 3.3
Bảng hệ thống phân loại tiêu chuẩn đánh giá sai sót trong kê đơn
32
Bảng 3.4
Một số sai sót khác không được đưa vào phân loại sai sót
trong kê đơn
36
Bảng 3.5
Đặc điểm bệnh nhân trong quan sát thựcc hành
39
Bảng 3.6
Đặc điểm về cách dùng thuốc trong quan sát
43
Bảng 3.12
Tỷ lệ sai sót chung trong thực hành thuốc
44
Bảng 3.13
Tỷ lệ sai sót chung trong kê đơn thuốc
45
Bảng 3.14
Phân loại số liều sai sót theo số sai sót trong một quan sát
46
Bảng 3.15
Tỷ lệ sai sót theo từng loại sai sót cụ thể trong thực hành
47
Bảng 3.16
Số năm kinh nghiệm và trình độ chuyên môn của Bác sĩ kê đơn
58
Bảng
Bảng 3.22
Tên bảng
Số sai sót trong một bệnh án tại các khoa
Trang
58
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình
Tên hình
Trang
Hình 2.1
Sơ đồ mô tả thiết kế nghiên cứu
22
Hình 3.1
DANH MỤC ĐỐI CHIẾU ANH VIỆT
Thuật ngữ tiếng Anh
Thuật ngữ tiếng Việt
Administration error
Sai sót trong thực hành thuốc
Prescribing error
Sai sót trong kê đơn thuốc
Direct observtion
Kỹ thuật quan sát trực tiếp
Dispensing error
Sai sót trong cấp phát thuốc
Displacement vlue
Thể tích gia tăng
Extra - dose error
Sai sót do thêm liều
Wrong dosage - form error
Sai sót do sai dạng bào chế
Wrong - dose error
Sai sót do sai liều
Wrong drug
Sai thuốc
Wrong - patient
Sai bệnh nhân
Wrong preparation technique
Sai kỹ thuật chuẩn bị thuốc
Wrong - time error
Sai thời gian
Wrong - rate error
Sai tốc độ
Wrong - route error
3.1. Xây dựng hệ thống phân loại tiêu chẩn đánh giá sai sót trong kê đơn .......30
3.1.1. Số bệnh án nghiên cứu tìm điểm bão hòa và các sai sót gặp phải ..................30
3.1.2. Bảng hệ thống phân loại tiêu chuẩn đánh giá sai sót trong kê đơn .................32
3.2. Đánh giá sai sót trong thực hành và kê đơn thuốc. .......................................37
3.2.1. Tỷ lệ sai sót chung, tỷ lệ sai sót theo từng loại sai sót gặp phải trong thực
hành và kê đơn thuốc. ...............................................................................................37
3.2.2. Đánh giá các yếu tố liên quan đến tỷ lệ sai sót trong thực hành và kê đơn
thuốc…………………………………………………………… ... …………..........53
CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN ................................................................................................. 60
4.1. Xây dựng hệ thống phân loại tiêu chẩn đánh giá sai sót trong kê đơn .......60
4.2. Đánh giá sai sót trong thực hành và kê đơn thuốc tại bệnh viện. ................61
4.2.1. Tỷ lệ sai sót chung thực hành và kê đơn thuốc ...............................................61
4.2.2. Tỷ lệ sai sót của một số loại sai sót cụ thể trong thực hành và kê đơn. ..........62
4.2.3. Đánh giá các yếu tố liên quan đến sai sót trong thực hành và kê đơn ............70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ....................................................................................... 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
`
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong chiến lược chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân, điều trị bằng thuốc
nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân đồng thời phải
giảm thiểu tối đa những nguy cơ, phản ứng có hại cho bệnh nhân [1]. Nhưng trong
quá trình sử dụng thuốc, không tránh khỏi xảy ra các sai sót. Trên thế giới cũng như
ở Việt Nam hiện nay vấn đề sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả đang ngày
Với mong muốn tìm hiểu, đánh giá sai sót trong kê đơn và thực hành thuốc
để từ đó đề xuất các biện pháp phòng ngừa và nâng cao an toàn, hiệu quả điều trị
trong sử dụng thuốc cho bệnh nhân, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài
“Đánh giá sai sót trong kê đơn và thực hành thuốc tại một bệnh viện đa
khoa tuyến huyện” với 2 mục tiêu chính sau:
1. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn phân loại đánh giá sai sót trong kê đơn tại
bệnh viện.
2. Đánh giá sai sót trong kê đơn và trong thực hành thuốc tại một số khoa lâm
sàng của bệnh viện.
Qua nghiên cứu này chúng tôi muốn đưa ra những đề xuất nhằm góp phần
giảm thiểu các sai sót trong kê đơn và thực hành thuốc tại bệnh viện.
2
`
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về sai sót liên quan đến thuốc (Medication error)
Có rất nhiều tài liệu đề cập đến “Sai sót liên quan đến thuốc” với các định
nghĩa khác nhau. Tuy nhiên định nghĩa thông dụng và được chấp nhận rộng rãi trên
thế giới hiện nay về sai sót liên q uan đến thuốc được đưa ra bởi Hội đồng điều phối
Quốc gia Hoa Kỳ về báo cáo và phòng tránh sai sót liên quan đến thuốc (NCC
MERP). Theo đó “sai sót liên quan đến thuốc (ME) là bất kỳ biến cố có thể phòng
tránh nào có khả năng gây ra hoặc dẫn đến việc sử dụng thuốc không hợp lý, hoặc
gây hại cho bệnh nhân trong khi thuốc được kiểm soát bởi nhân viên y tế, bệnh nhân
hoặc người tiêu dùng. Các biến cố như vậy có thể liên quan tới thực hành chuyên
môn, các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, quy trình và hệ thống bao gồm: kê đơn và quá
trình chuyển giao tiếp đơn thuốc; Ghi nhãn, đóng gói và danh pháp; pha chế, cấp
phát, phân phối; quản lý, giáo dục; Giám sát và sử dụng trên người bệnh” [33].
Những năm 1960, nghiên cứu về sai sót liên quan đến thuốc của Barker và
thường gặp là gộp liều hoặc chẻ liều thuốc, sai liều dùng, sai kỹ thuật thực hiện, sai
tốc độ (truyền thuốc), thuốc không chỉ định (y lệnh không cho hoặc đã chỉ định
ngưng thuốc nhưng vẫn cho bệnh nhân sử dụng), bỏ sót liều, sai kỹ thuật chuẩn bị,
thuốc. Trong đó, sai tốc độ chiếm tỷ lệ cao nhất với hơn 40%, kế đến là sai kỹ thuật
chuẩn bị (hòa tan, dung môi) và sai kỹ thuật thực hiện. Đáng chú ý, sai sót thuốc
chủ yếu tập trung ở thuốc tiêm truyền (hơn 49%) và tiêm tĩnh mạch chậm (gần
37%). Tuy nhiên, sau khi có sự giám sát và can thiệp của bộ phận dược bệnh viện,
mức độ sai sót nghiêm trọng đã giảm rõ rệt, từ hơn 9,4% xuống gần 3% [3].
1.2. Phân loại sai sót liên quan đến thuốc
Sai sót liên quan đến thuốc bao gồm các sai sót chính là sai sót trong kê đơn
thuốc “Prescribing error”, sai sót trong cấp phát thuốc “Dispensing error” và sai sót
trong thực hành thuốc “Administration error” [27].
Nguyên nhân của các sai sót liên quan đến thuốc
Khi tiếp cận vấn đề sai sót liên quan đến thuốc, vấn đề ai đã gây ra không
quan trọng bằng việc xác định sai sót xảy ra ở đâu, sai sót xảy ra như thế nào và tại
sao xảy ra sai sót đó [31], [43]. Nhiều trường hợp tiếp cận sai sót theo quan điểm
4
`
quy trách nhiệm cho cá nhân gây ra, tuy nhiên trên thực tế mỗi sai sót xảy ra đều ít
nhiều do những thiếu sót của hệ thống và có nguy cơ xảy ra sai sót tương tự trong
tương lai nếu vấn đề đó không được nhìn nhận tổng thể. Đây chính là tiếp cận một
cách hệ thống nguyên nhân gây ra sai sót, tạo cơ sở cho cách tiếp cận trong phòng
tránh sai sót được đưa ra bởi Viện thực hành an toàn thuốc Hoa Kỳ (ISMP –
Institute for Safe Medication Practices). Theo đó, nguyên nhân mang tính chất hệ
thống của các sai sót cần được chỉ ra thông qua nỗ lực chung của nhiều bên liên
quan do các sai sót này xuất phát từ những điểm yếu và hạn chế của tổ chức, đơn vị
[26].
mua, hạn chế sự đa dạng về chủng loại để nhân viên y tế có thời gian làm quen với
thiết bị, kiểm tra lại với những quy trình thường gây sai sót (ví dụ hệ thống cấp phát
lại đơn kê tự động, cài đặt bơm tiêm giảm đau do bệnh nhân điều khiển).
- Các yếu tố về môi trường: Các yếu tố về môi trường như thiếu ánh sáng, khu
vực làm việc lộn xộn, ồn ào, xen ngang có thể gây cản trở sự tập trung của cán bộ y
tế trong quá trình sử dụng thuốc. Sự thiếu hụt nhân viên y tế và quá tải công việc
trong nhiều cơ sở y tế hiện nay có thể là nguyên nhân gây ra nhiều loại sai sót.
- Năng lực và sự đào tạo nhân viên: Mặc dù chỉ áp dụng biện pháp đào tạo
nhân viên là cách tiếp cận chưa đầy đủ để giảm được sai sót, nhưng biện pháp này
vẫn đóng vai trò quan trọng khi kết hợp với các chiến lược giảm thiểu sai sót khác
dựa trên hệ thống. Các hoạt động có hiệu quả nhất bao gồm việc đánh giá liên tục
khả năng của cán bộ y tế và đào tạo về các thuốc mới, các thuốc ngoài danh mục,
thuốc có nguy cơ cao và dự phòng sai sót.
- Giáo dục bệnh nhân: Bệnh nhân có vai trò then chốt trong việc dự phòng sai
sót nếu được hướng dẫn về các thuốc mà họ sử dụng và được khuyến khích đặt câu
hỏi trong sử dụng thuốc đang dùng và tìm kiếm câu trả lời.
- Quy trình chất lượng và kiểm soát nguy cơ: Các cơ sở y tế, bao gồm cả nhà
thuốc/cơ sở bán lẻ thuốc trong cộng đồng, cần triển khai những hệ thống phát hiện,
báo cáo, phân tích và giảm thiểu nguy cơ sai sót liên quan đến thuốc. Cần xây dựng
môi trường an toàn không trách phạt để khuyển khích thảo luận, xác định các giải
pháp hiệu quả tác động trên hệ thống để giảm thiểu sai sót. Cần có những chiến
lược kiểm tra chất lượng, hỗ trợ kiểm tra chéo kép đối với những thuốc có nguy cơ
cao và những quy trình dễ bị sai sót để thúc đẩy việc phát hiện và sửa chữa sai sót
trước khi chúng gây hại cho người bệnh.
6
`
Điểm hạn chế trong các yếu tố thuộc về hệ thống ảnh hưởng đến sử dụng
`
4. Ghi nhãn thuốc không rõ ràng, thiếu nhãn thuốc, hoặc nhãn thuốc và bao bì
nhìn giống nhau, tên thuốc không rõ ràng, nhìn giống nhau hoặc nghe giống
nhau.
5. Tiêu chuẩn hóa, bảo quản và phân phối thuốc không an toàn.
6. Các dụng cụ, phương tiện cấp phát/đưa thuốc không đạt tiêu chuẩn, thiếu
sót hoặc không an toàn.
7. Yếu tố môi trường và nhân viên y tế không trợ giúp cho sự an toàn.
8. Sự định hướng nhân viên, đào tạo liên tục, giám sát, đánh giá năng lực nhân
viên không đầy đủ.
9. Giáo dục bệnh nhân về thuốc và sai sót liên quan đến thuốc không đẩy đủ.
10. Thiếu môi trường an toàn, thất bại trong việc học hỏi từ các sai sót, và thất
bại hoặc thiếu chiến lược giảm thiểu các sai sót.
1.2.1. Sai sót trong kê đơn thuốc
Sai sót trong kê đơn được định nghĩa là sự kê đơn sai thuốc (sai so với chỉ
định, chống chỉ định, thuốc gây dị ứng đã biết trước và thuốc trùng với thuốc đang
dùng), sai liều, sai hàm lượng, sai dạng bào chế, sai số lượng, sai đường dùng, sai
nồng độ, sai số lần dùng, phối hợp tương kỵ, hướng dẫn sai cách dùng, chữ viết
không đọc được dẫn đến dùng sai [8]. Một định nghĩa khác của sai sót trong kê đơn
là những sai sót dẫn đến việc làm giảm đáng kể hiệu quả và tính kịp thời của điều
trị, hoặc làm tăng nguy cơ gây hại của thuốc so với các hướng dẫn chung [28].
Để xem xét tỷ lệ và bản chất của các sai sót trong kê đơn điều trị nội trú từ các
nghiên cứu đã công bố, Lewis và cộng sự đã tiến hành một tổng quan hệ thống vào
năm 2009. Kết quả cho thấy tỷ lệ sai sót trung bình là 7% (dao động từ 2% đến
14%) các đơn thuốc, cứ 100 bệnh nhân nhập viện thì có 52 (dao động từ 8 đến 227)
sai sót kê đơn xảy ra. Sai sót xảy ra phổ biến nhất với các thuốc kháng sinh. Dùng
thuốc trên bệnh nhân là người lớn xảy ra sai sót nhiều hơn trên trẻ em và liều lượng
thuốc chính xác là sai sót phổ biến nhất trong nghiên cứu này [24].
đơn kê được đánh giá là không thích hợp về mặt lâm sàng [30].
Có nhiều nguyên nhân gây ra sai sót trong kê đơn thuốc, như sự mất tập
trung trong lúc kê đơn, hoặc không áp dụng các quy định có liên quan. Nhiều yêu tố
9
`
nguy cơ như môi trường làm việc, khối lượng công việc, vấn đề thể chất và tinh
thần, kiến thức của Bác sĩ. Nhiều nguyên nhân mang tính hệ thống như đào tạo
không đầy đủ, không đề cao tầm quan trọng của bước kê đơn, không tự nhận thức
được sai sót xảy ra [24]. Đặc biệt đối với các Bác sĩ mới (sau ra trường 1 hoặc 2
năm), khối lượng công việc và áp lực thời gian cũng như kiến thức và kinh nghiệm,
thiếu tài liệu đầy đủ về các thuốc là những yếu tố nguy cơ cao đối với sai sót trong
kê đơn thuốc [41].
Các biện pháp nhằm làm giảm sai sót trong kê đơn thuốc đã được đề cập
trong nhiều nghiên cứu, trong đó đáng chú ý là chiến lược phát triển giáo dục, cập
nhật thông tin cho các Bác sĩ kê đơn và sử dụng kê đơn điện tử trong bệnh viện
[28]. Ngoài ra, cần triển khai cho các dược sĩ thực hiện duyệt đơn thuốc trước khi
đưa ra ngoài sử dụng [23]. Trong các biện pháp này, dược sĩ và điều dưỡng đóng
vai trò quan trọng trong việc phát hiện ra các sai sót trong đơn thuốc. Một nghiên
cứu thuần tập tiến cứu trong 6 tháng trên tất cả các bệnh nhân nhập viện tại hai
Bệnh viện đại học ở Mỹ cho thấy gần một nửa các sai sót trong kê đơn đã được phát
hiện, trong đó điều dưỡng phát hiện được 55 đơn và dược sĩ phát hiện được 8 đơn
có sai sót [31]
Tổng quan phân loại các sai sót trong kê đơn: Dựa vào một số các nghiên
cứu đã được công bố trên thế giới về sai sót và các loại sai sót trong kê đơn [18],
[42], [48]. Theo đó có 10 loại sai sót trong kê đơn (phụ lục 1) gồm:
- Sai liều.
- Sai thời gian và khoảng thời gian điều trị.
rằng sai sót trong cấp phát xảy ra khoảng 2% các khoản mục được cấp phát. Các
cấp phát có ít nhất 1 sai sót là 2,1% của 4849 khoản mục được cấp phát ở giai đoạn
cuối cùng và 0,02% của 194.584 khoản mục được cấp phát bên ngoài khoa dược.
Sai sót trong giai đoạn kiểm tra cuối cùng chủ yếu do việc lựa chọn nhầm thuốc
hoặc sai sót trong việc đưa ra giả thuyết về sản phẩm liên quan. Các yếu tố ảnh
hưởng đến sai sót bao gồm việc dán nhãn và bảo quản tại các hộp trong phòng cấp
phát thuốc, bị gián đoạn và sao nhãng khi cấp phát [7].
Các sai sót trong cấp phát gồm [1], [27]:
- Sai sót do nội dung: Sai thuốc, sai nồng độ, sai dạng bào chế, sai số lượng,
bỏ lỡ thuốc, sai chất lượng và sai khác.
11
`
- Sai sót trong ghi nhãn: Sai thông tin đơn thuốc trong nhãn, sai chỉ dẫn nhãn
thuốc, lỗi sai khác.
- Sai hồ sơ: Thiếu hoặc sai hồ sơ của thuốc cần được kiểm soát, sai hồ sơ khác.
1.2.3. Sai sót trong thực hành thuốc
Sai sót trong thực hành thuốc được tính từ khi y tá nhận thuốc đến khi dùng
cho bệnh nhân theo y lệnh.
Sai sót trong thực hành thuốc được định nghĩa như một sai lệch so với y lệnh
của thầy thuốc được viết trong bệnh án hoặc được nhập vào hệ thống máy tính của
bệnh viện bởi bác sỹ [17]. Một số nghiên cứu đã định nghĩa sai sót trong thực hành
thuốc là “Bất kỳ sai lệch nào trong giai đoạn chuẩn bị hoặc giai đoạn dùng của một
thuốc so với y lệnh của bác sỹ, quy trình chuẩn của bệnh viện hoặc hướng dẫn của
nhà sản xuất” [21],[34],[46].
Nghiên cứu tiến cứu tại khoa Chỉnh hình, khoa phẫu thuật và khoa tiêu hóa
của một Bệnh viện giảng dạy ở Tehran (Iran) trên tổng số 357 lượt chuẩn bị và thực
hiện thuốc cho bệnh nhân đã chỉ ra rằng với mỗi thuốc trong trong tổng số 28 thuốc
Mô tả sai sót
Giai đoạn chuẩn bị thuốc
Là việc chuẩn bị một loại thuốc khác so với chỉ định của bác sỹ [25]
Sai thuốc
Việc thực hành một liều thuốc không được bác sỹ chỉ định cho bệnh
Sai do dùng
thuốc không nhân [12 ], [14], [25], [27].
được kê đơn
Sai sót này có thể là sai thuốc đối với bệnh nhân nhận được liều
Sai do sai
thuốc và là một sai sót do bỏ lỡ thuốc với bệnh nhân được chỉ định
bệnh nhân
nhưng không nhận được thuốc này.
Sai do dùng
thuốc hỏng
Sai do thêm
liều
Chuẩn bị một loại thuốc hết hạn sử dụng hoặc tính chất vật lý/hóa
học của dạng bào chế đã bị thay đổi hay do dùng thuốc không được
bảo quản cẩn thận trong nhiệt độ thích hợp nên dạng bào chế bị thay
đổi [12].
Được ghi nhận nếu một bệnh nhân được dùng thêm 1 liều thuốc
vượt mức tổng số lần được chỉ định bởi bác sỹ [12], [25] hoặc được
dùng thêm 1 liều thuốc khi bác sỹ đã dừng chỉ định [12], [14], [27].
Ví dụ, nếu một bệnh nhân được chỉ định 1 thuốc dùng 1 lần vào
buổi sáng nhưng bệnh nhân được nhận thêm 1 lần vào buổi tối, khi
Sai dạng
bào chế
Sử dụng một dạng bào chế khác so với sự kê đơn của Bác sĩ [12],
[14], [25], [27]. Không tính sai dạng bào chế nếu bệnh nhân có nhu
cầu đặc biệt cần phân phối dưới dạng thuốc thay thế (ví dụ: dạng
thuốc lỏng được dùng với các loại ống thông mũi dạ dày). Với một
thuốc dạng viên nén kiểm soát giải phóng, nếu thời gian giải phóng
bị phá hủy thì một sai sót do sai dạng bào chế sẽ được tính [25].
Trường hợp viên nén bị nghiền nát thì không được coi là sai sót do
sai dạng bào chế vì thiếu thông tin về sự ảnh hưởng của việc nghiền
nát viên thuốc tới tác dụng của viên nén [27].
Ví dụ, Bác sĩ chỉ định Aspirin viên bao tan trong ruột nhưng lại
dùng Aspirin dạng không bao [14], [27]; chỉ định một dạng hỗn
dịch nhưng được dùng một dang viên nén [27].
Sai kỹ thuật
chuẩn bị
thuốc
Kỹ thuật chuẩn bị thuốc không đúng quy trình hay bỏ lỡ thao tác khi
chuẩn bị thuốc [27] (so với hướng dẫn của nhà sản xuất, quy trình
bệnh viện [35]).
Sai kỹ thuật chuẩn bị thuốc bao gồm sai sót do sai dung môi pha
loãng, sai dung môi hoàn nguyên; sai thể tích pha loãng hoặc sai thể
tích dung môi hoàn nguyên, tương kỵ giữa các thuốc trộn cùng [35].
14
`
nhân phải tiến hành các xét nghiệm khác hoặc phải phẫu thuật sau
đó [25], [27]. Khoảng thời gian được dùng đánh giá cho những
thuốc được chỉ định dùng trước, trong hay sau bữa ăn [14].
Nếu bác sỹ không chỉ định thời điểm dùng thuốc thì không tính sai
sót do sai thời gian cho đến khi liều thứ hai được nhận. Liều đầu
tiên được nhận theo lịch trình chuẩn thiết lập lịch trình có hiệu lực
và liều tiếp theo trong các ngày giống nhau sau đó có thể đánh giá
sai sót do sai thời gian [27].
15
`
Tên sai sót
Mô tả sai sót
Barker và cộng sự [17] đã giải thích rằng khoảng thời gian trung
bình nên được dựa trên các phép đo lường về thời gian trung bình
được chỉ định cho việc hoàn thành một liều thuốc bởi một điều
dưỡng. Nhiều tác giả xác nhận rằng 9 điều dưỡng được quan sát
trong các nghiên cứu của họ đều có thể chuẩn bị và dùng tất cả các
liều thuốc trong đơn nguyên có khoảng 40 giường bệnh trong
khoảng 60phút. Mặc dù, khoảng thời gian được chấp nhận là ± so
với thời điểm thực hành thuốc theo giờ chuẩn được ghi nhận trong
quy trình bệnh viện.
Sai đường
dùng