Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội về vấn đề an toàn, sức khỏe lao động trong ngành khai thác mỏ hiện nay - Pdf 48

1
MỤC LỤC


2
LỜI NÓI ĐẦU
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được coi như là cam kết của doanh
nghiệp về đạo đức kinh doanh, minh bạch trong sản xuất và nâng cao thương hiệu.
Thực hành trách nhiệm xã hội đóng góp vào phát triển kinh tế bền vững, nâng cao
chất lượng cuộc sống cho người lao động và gia đình họ, cộng đồng địa phương và
xã hội nói chung. Tuy nhiện, hiện nay các vân đề về trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp ở nước ta chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Rất nhiều nội dung trách
nhiệm đối với xã hội mà các doanh nghiệp đã bỏ qua hoặc thực hiện còn mang tính
hình thức, không thực chất. Tuy nhiên không phải tất cả các ngành, các doanh
nghiệp đều không thực hiện các trách nhiệm xã hội của mình. Đặc biệt, trong các
vấn đề liên quan đến an toàn, sức khỏe lao động đã có sự quan tâm đến. Vì nội dung
này rất quan trọng và không thể thiếu trong các doanh nghiệp. Do vậy, em xin chọn
đề tài “Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội về vấn đề an toàn, sức khỏe lao
động trong ngành khai thác mỏ hiện nay” để nghiên cứu, tìm hiểu thực tế trách
nhiệm xã hội trong các doanh nghiệp ngành khai thác mỏ nói chung, cũng như trách
nhiệm về các vấn đề an toàn, sức khỏe lao động nói riêng. Qua việc nghiên cứu giúp
bản thân hiểu rõ hơn tầm quan trong của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các
doanh nghiệp cung như củng cố thêm các kiến thức đã được học trong học phần
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Bài tiểu luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về an
toàn, sức khỏe lao động.
Chương 2: Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội về vấn đề an toàn, sức
khỏe lao động trong ngành khai thác mỏ hiện nay.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện trách nhiệm
xã hội về vấn đề an toàn, sức khỏe lao động của doanh nghiệp trong ngành khai thác
mỏ.

hội. Khía cạnh kinh tế thể hiện qua việc tạo công ăn cho người lao động với mức
thù lao xứng đáng, cơ hội làm việc như nhau, làm việc trong môi trường an toàn và
lành mạnh; cung cấp các hàng hóa, dịch vụ chất lượng, an toàn cho người tiêu
dùng…
Khía cạnh pháp lý: là phải thực hiện đầy đủ những quy định về pháp lý chính


4
thức đối với các bên liên quan. Những điều luật như thế này sẽ điều tiết được cạnh
tranh, bảo vệ khách hàng, bảo vệ môi trường, thúc đẩy sự công bằng, an toàn và
cung cấp những sáng kiến chống lại hành vi sai trái.
Khía cạnh đạo đức: là những hành vi và hoạt động mà xã hội mong đợi ở
doanh nghiệp nhưng không được quy định trong hệ thống pháp luật, không được thể
chế hóa thành luật. Khía cạnh đạo đức của một doanh nghiệp được thể hiện thông
qua những nguyên tắc, giá trị đạo đức được tôn trọng trình bày trong bản sứ mệnh
và chiến lược của doanh nghiệp. Thông qua các công bố này, nguyên tắc và giá trị
đạo đức trở thành kim chỉ nam cho sự phối hợp hành động của các thành viên trong
doanh nghiệp và các bên có liên quan.
Khía cạnh nhân văn: là những hành vi và hoạt động thể hiện những mong
muốn đóng góp cho cộng đồng xã hội. Khía cạnh nhân văn liên quan đến những
đóng góp về tài chính và nguồn nhân lực cho cộng đồng và xã hội lớn hơn để nâng
cao chất lượng cuộc sống
1.1.2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về an toàn, sức khỏe lao động
An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy
hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá
trình lao động. An toàn vệ sinh lao động là tổng hợp các quy định của nhà nước về
các biện pháp đảm bảo an toàn và vệ sinh lao động nhằm ngăn ngừa tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp và khắc phục hậu quả cảu tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, cải thiện điều kiện lao động cho người lao động. An toàn và sức khỏe lao
động là một vấn đề mang ý nghĩa to lớn đối với việc bảo toàn nguồn nhân lực, đồng

động cơ làm việc của người lao động;
Các vấn đề như lao động cưỡng bức, sử dụng lao động trẻ em, quấy nhiễu và
lạm dụng, phân biệt đối xử sẽ bị hạn chế và loại bỏ;
Vấn đề an toàn, sức khỏe lao động của người lao động se được doanh nghiệp
chú trọng đầu tư, chế độ làm việc- nghỉ ngơi khoa học sẽ được thực hiện, qua đó tạo
ra môi trường làm việc an toàn, chế độ làm việc hợp lý cho người lao động;
Người lao động sẽ được làm việc trong điều kiện đảm bảo sự phát triển toàn
diện cả về thể lực, trí lực và vật chất, tinh thần .
*Đối với xã hội:
Cộng đồng và xã hội được sống trong một môi trường không ô nhiễm, hạn


6
chế được tối đa các bệnh tật do sự ô nhiễm môi trường gây ra;
Xã hội sẽ được sống trong một môi trường trong đó, không tồn tại các tệ nạn
xã hội, không có sự ky thị, đảm bảo công bằng dân chủ;
Sẽ được hưởng lợi từ các hoạt động nhân đạo, từ thiện của doanh nghiệp, giúp
cho những đối tượng yếu thế trong xã hội hòa nhập tốt với cộng đồng.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lao
động
Quy định của pháp luật:
Quy định của pháp luật là cơ sở, là nền tảng củatrách nhiệm xã hội. Đây là tiêu
chí ràng buộc cho các doanh nghiệp phải hướng tới và phải thực hiện để đạt được
hiệu quả kinh tế cao. Các nhà kinh doanh, các doanh nghiệp khi đã tuân thủ theo các
quy định của pháp luật thì sẽ tạo được một môi trường pháp lý, trong đó các doanh
nghiệp hoạt động theo một mục tiêu đúng đắn, tạo nên môi trường kinh doanh công
bằng, bình đẳng, thông thoáng và tạo sự gần gũi giữa các doanh nghiệp với nhau.
Tuy nhiên, pháp luật không thể là căn cứ phán xét một hành động là có đạo đức hay
vô đạo đức trong những trường hợp cụ thể mà nó chỉ thiết lập những quy tắc cơ bản
cho những hành động được coi là có trách nhiệm trong kinh doanh.

lao động cưỡng bức, ví dụ sử dụng tù nhân, ràng buộc người lao động,…
Về vấn đề phân biệt đối xử: Doanh nghiệp không được tham gia hoặc ủng hộ
việc phân biệt đối xử khi thuê mướn, bồi dưỡng, tạo cơ hội huấn luyện, đề bạt,
chấm dứt hợp đồng lao động, không được can thiệp vào quyền sử lý người lao động
trong việc tuân thủ các nguyên lý hoặc đáp ứng các nhu cầu liên quan đến chủng
tộc…
Về kỷ luật lao động: Doanh nghiệp không được tham gia hoặc ủng hộ việc
dùng nhục hình, ép buộc về vật chất hoặc tinh thần và sỉ nhục người lao động khi
xử lý kỉ luật lao động đối với người lao động
Về thời giờ làm việc: Doanh nghiệp phải tuân thủ pháp luật hiện hành và
các tiêu chuẩn công nghệ về thời gian làm việc (48 giờ/ tuần),cứ 7 ngày làm việc thì
phải sắp xếp ít nhất 1 ngày nghỉ cho người lao động.Doanh nghiệp phải đảm bảo
làm thêm giờ không quá 12 giờ/người/ngày.
Về tiền lương: Doanh nghiệp phải đảm bảo trả lương đúng với thời gian
làm việc của người lao động không thấp hơn tiền lương tối thiểu theo quy định của
luật hoặc của ngành.


8
Vấn đề An toàn, sức khỏe lao động: Doanh nghiệp phải đảm bảo môi trường
làm việc an toàn và lành mạnh đề phòng nhũng tai nạn, thương tích có hại đến sức
khỏe của người lao động, đào tạo cho người lao động về an toàn lao động trong sản
xuất, có biện pháp và hệ thống quản lý thích hợp đảm bảo an toàn lao động, phổ
biến kiến thức nghề nghiệp và các nguy hiểm có thể xảy ra, cung cấp môi trường
làm việc an toàn vệ sinh, có biện pháp thích hợp để ngăn ngừa các tai nạn và tổn hại
đến sức khỏe xảy ra khi làm việc trong khả năng cho phép….
1.5. Lợi ích của việc thực hiện trách nhiệm xã hội về vấn đề an toàn vệ sinh lao
động.
Việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong các doanh nghiệp về vấn đề an toàn vệ
sinh lao động là yếu tố quyết định cho sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh

Đối với khách hàng, sẽ giúp thỏa mãn những yêu cầu cơ bản của khách hàng
đặt ra đối với doanh nghiệp: Sản phẩm chất lượng cao, giá cả hợp lý được sản xuất
trong một môi trường sạch và các vấn đề xã hội được đảm bảo.
Đối với cộng đồng xã hội, thực hiện trách niệm xã hội gắn liền với bảo vệ môi
trường, tạo không gian sạch, an toàn, hạn chế tối đa bệnh tật do ô nhiễm gây ra;
đồng thời được thể hiện qua các hoạt động hỗ trợ cộng đồng, nhân đạo, từ thiện.


10
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VỀ
VẤN ĐỀ AN TOÀN, SỨC KHỎE LAO ĐỘNG TRONG NGÀNH KHAI
THÁC MỎ
2.1. Tổng quan về ngành khai thác mỏ
Ngành mỏ là một tổ hợp đa ngành kỹ thuật – công nghệ liên quan tới các công
tác xây dựng mỏ, khai thác mỏ, làm giàu, chế biến khoáng sản phục vụ cho nền
kinh tế quốc dân như công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải v.v…
Khoáng sản có thể được khai thác dưới lòng đất, dưới đáy biển và đại dương. Hiện
nay, ngành mỏ tiến hành khai thác các loại khoáng sản dạng rắn (than, quặng, vật
liệu xây dựng), dạng khí (khí đốt) và dạng lỏng (nước khoáng, nước nóng, nước
ngầm, dầu mỏ). Tại một số nước, người ta đã bắt đầu khai thác nhiệt năng trong
lòng đất. Thợ mỏ là người khai thác các quặng hay các khoáng vật trong lòng đất.
Ngày xưa họ thường đào những đường hầm và thu thập tất cả các khoáng vật có
trong đất từ đó hình thành các mỏ khai thác, ngày nay ở những nơi có các máy móc
hiện đại họ không cần thiết phải đào hầm khi mỏ địa chất ở gần mặt đất, họ sẽ đào
cả mặt đất lên để làm các mỏ lộ thiên và mang khối lượng đất đá lật lên đi xử lý để
lấy khoáng vật nhưng ở những nơi chưa có công nghệ cao hay đủ điều kiện việc
khai thác vẫn làm theo kiểu thủ công là đào hầm đến những nơi có nhiều khoáng
vật. Ngoài ra thợ mỏ không có nghĩa chỉ là đào hầm mà còn là lọc và thu thập các
khoáng vật có trên mặt đất hay được mang từ dưới hầm lên như đãi vàng hay khai
thác đá,...


mỏ phải tiếp xúc với tiếng ồn hầu hết vượt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép và cao nhất
ở khu vực khoan, nghiền đá có nơi vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10-18 dBA. Tỷ lệ
mắc bệnh điếc nghề nghiệp của công nhân nghiền sàng than, khoan than, khoan đá
từ 8 - 23,6 %.
Trong quy trình khai thác mỏ có nhiều công đoạn phát sinh bụi như đào, xúc,
múc, khoan đá, nổ mìn, vận chuyển, nghiền sàng, bốc dỡ đất đá than, quặng. Vì vậy
có nhiều vị trí lao động bị ô nhiễm bụi nghiêm trọng, nồng độ bụi toàn phần cao từ
30 - 100mg/m3, vượt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép từ 15 – 30 lần, nồng độ bụi hô
hấp có nơi vượt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép từ 9 – 11 lần, hàm lượng silic tự do
trung bình từ 15 – 21%. Tỷ lệ


12
mắc bệnh bụi phổi - silic trong công nhân khai thác than từ 3-14%, trong đó
khai thác hầm lò là chủ yếu (chiếm 70%) và bệnh viêm phế quản mạn tính là
khoảng 19,3%.
Bệnh rung chuyển nghề nghiệp cũng hay gặp trong công nhân khai thác mỏ
bao gồm bệnh rung cục bộ tần số cao do sử dụng máy khoan cầm tay và bệnh nghề
nghiệp do rung toàn thân do lái các xe chuyên dụng trên 20 tấn: Bệnh rung chuyển
cục bộ ở công nhân khoan có biểu hiện rối loạn vận mạch bàn tay khoảng 4,3%, tổn
thương xương khớp cổ tay và khuỷu tay là 15%; tỷ lệ giảm độ giãn cột sống thắt
lưng ở lái xe là 42,3%; hội chứng đau thắt lưng có tỷ lệ là 12,7%.
Ngoài ra do điều kiện lao động ẩm ướt, tỷ lệ bệnh da nghề nghiệp của công
nhân khai thác than là khoảng 40,8%, trong đó bệnh nấm da có tỷ lệ mắc cao nhất là
27,5%. Một điều cần hết sức lưu ý là do tính chất lao động của khai thác mỏ, người
lao động phải cùng một lúc tiếp xúc với nhiều yếu tố tác hại nên họ có thể bị mắc
từng loại bệnh nghề nghiệp riêng lẻ hoặc kết hợp hai hay thậm chí vài bệnh nghề
nghiệp. Ví dụ, công nhân khoan có thể cùng một lúc bị mắc bệnh điếc nghề nghiệp
và bệnh bụi phổi nghề nghiệp, hoặc vừa mắc bệnh điếc nghề nghiệp lại vừa mắc

2.3. Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội về vấn đề an toàn, sức khỏe lao
động trong ngành khai thác mỏ.
2.3.1. Thực trạng thực hiện các tiêu chuẩn về an toàn, sức khỏe lao động.
Thực hiện các tiêu chuẩn về an toàn, sức khỏe lao động là việc người sử
dụng lao động phải đảm bảo nơi làm việc đạt tiêu chuẩn về không gian, độ thoáng,
độ sáng, đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép về bụi, hơi, khí độc, phóng xạ, điện từ
trường, nóng, ẩm, ồn, rung và các yếu tố có hại khác. Các yếu tố đó phải được kiểm
tra đo lường định kỳ. tiêu chuẩn: tiêu chuẩn cấp Nhà nước và tiêu chuẩn cấp ngành.
Tiêu chuẩn cấp Nhà nước là tiêu chuẩn bắt buộc thi hành cho nhiều ngành, nhiều
nghề trong phạm vi cả nước. Các tiêu chuẩn này do Chính phủ hoặc cơ quan được
Chính phủ ủy quyền ban hành. Đối tượng áp dụng tiêu chuẩn này bao gồm tất cả
các cơ sở tư nhân, tổ chức sản xuất kinh doanh dịch vụ, nghiên cứu khoa học; các
cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang có sử dụng, vận chuyển,
lưu giữ máy thiết bị, vật tư, chất phóng xạ, thuốc nổ, hóa chất, nhiên liệu, điện,… có
sử dụng lao động trên lãnh thổ Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, không phân


14
biệt quy mô tổ chức lớn hay nhỏ, nhiều hay ít lao động và người quản lý là công
nhân Việt Nam hay nước ngoài. Tiêu chuẩn cấp ngành, cấp cơ sở là tiêu chuẩn do
cơ quan quản lý cấp ngành ban hành phù hợp với các tiêu chuẩn của Nhà nước và
có giá trị bắt buộc thi hành trong phạm vi đối tượng mà tiêu chuẩn quy định áp
dụng. Dựa trên những tiêu chuẩn này, các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động
xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cho phù hợp với đơn vị minh. Việc tuân theo những
tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động do Chính phủ ban hành là đảm bảo
cần thiết và quan trọng để phòng ngừa sự cố xảy ra.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong ngành khai thác mỏ chưa thực sự thực
hiện được hết các tiêu chuẩn về an toàn, vệ sinh lao động hoặc có thực hiện nhưng
chỉ mang tính hình thức hoặc thực hiện còn thiếu sót. Như việc trang bị phương tiện
bảo hộ cá nhân cho người lao động chưa đầy đủ, hay công tác huấn luyên, hướng

đính trành cho người lao động bị ành hưởng bởi các yếu tố độc hại của môi trường
làm việc. Các trang thiết bị bảo hộ cá nhân được quy định trong Thông tư
04/2014/TT-BLĐTBXH có quy định rất rõ ràng, cụ thể các phương tiện bảo hộ cá
nhân phải trang bị cho người lao động làm công việc khai thác mỏ, bao gồm: Quần
áo lao động phổ thông; mũ chống chấn thương sọ não cho công nhân hầm lò (mũ
thợ lò); găng tay vải bạt; giầy vải bạt thấp cổ; khẩu trang lọc bụi; ghệt vải bạt; ủng
cao su; khăn mặt bông; xà phòng; ….Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp trong
ngành khai thác mỏ cũng chưa trang bị một cách đầy đủ nhất các phương tiện bảo
hộ cá nhân cho người lao động mà chỉ dừng lại ở những phương tiện cơ bản nhất
như quần áo, mũ, ủng… Ngoài việc trang bị các phương tiện bảo hộ cá nhân cho
người lao động thì các doanh nghiệp ngành khai thác mỏ cũng đã có sự quan tâm
đến công tác cải thiện điều kiện lao động. Áp dụng các tiến bộ khoa học vào trong
sản xuất, trang bị máy đo khí để kiểm tra nồng độ của các ca làm việc, hệ thống
thông gió, trạm đo khí, cấp nước cứu hỏa, phòng, chống cháy nổ; hệ thống cấp khí
nén trong lò, chiếu sáng, thông tin liên lạc. Một số doanh nghiệp như công ty than
Thống Nhất còn lắp đặt hệ thống định vị nhân sự có thể xác định được vị trí của
từng công nhân trong suốt thời gian làm việc trong ngày, từ đó có thể kiểm soát tình
trạng mất an toàn lao động và trong những trường hợp rủi ro xác định nhanh nhất vị
trí của người lao động cần ứng cứu. Việc ứng dụng công nghệ thông tin liên lạc


16
trong hầm lò, trang thiết bị hướng dẫn bằng laser, hệ thống kiểm soát khí mỏ bằng
máy đo quang học và máy Impact pro cũng góp phần tạo thuận lợi không chỉ cho
công tác điều hành mà còn bảo đảm độ chính xác và an toàn trong sản xuất, góp
phần giảm thiểu tai nạn lao động.
Tuy đã áp dụng các tiến bộ khoa học, máy móc kỹ thuật hiện đại vào trong
khai thác nhưng ngành khai thác mỏ vẫn có rất nhiều số vụ tai nạn lao động xảy ra,
hầu hết đều là các vụ sập hầm, mỏ do các mỏ khai thác không kiên cố, được chống
đỡ bằng các cột gỗ thô sơ mỏ có quy mô nhỏ, không tiến hành thăm dò khoáng sản,

trách nhiệm vật chất trong công tác an toàn lao động); điều kiện lao động, các yếu
tố nguy hiểm độc hại gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và biện pháp phòng
ngừa; công tác tự chủ an toàn; dự báo các nguy cơ tiềm ẩn, các yếu tố nguy hiểm có
thể xảy ra sự cố, tai nạn; kỹ năng sống sót trong hầm lò; đặc điểm sản xuất, quy
trình làm việc, các quy định về an toàn vệ sinh lao động áp dụng đối với từng ngành
nghề tại Công ty; quy trình, quy định an toàn công nghệ khai thác, đào lò, nổ mìn;
kiến thức an toàn trong chỉ huy khắc phục sự cố; hướng dẫn sử dụng, vận chuyển,
bảo quản vật liệu cháy nổ; an toàn trong lắp đặt, vận hành, sửa chữa thiết bị điện
máy; nhận định các nguy cơ, biện pháp phòng ngừa nguy cơ cháy nổ CH4; công tác
tổ chức sản xuất, khai báo thông tin sự cố, tai nạn trong sản xuất; biện pháp phòng
ngừa nguy cơ cháy nổ khí mỏ, bục nước, tụt đổ lò và các kỹ năng duy trì sự sống
trong vùng sự cố; cách xử lý tình huống, phương pháp sơ cứu người bị nạn; công
tác phòng cháy chữa cháy, bảo vệ, tuần tra…
Tuy nhiên ở một số doanh nghiệp ngành khai thác mỏ còn chưa thực sự quan
tâm đến công tác huấn luyện an toàn, sức khỏe lao động cho người lao động. Công
tác huấn luyện an toàn cho người lao động còn làm hình thức, giao cho các công
trường, phân xưởng tự huấn luyện; câu hỏi, nội dung huấn luyện hàng năm không
thay đổi, người lao động chép lại bài kiểm tra có sẵn, thậm chí có thể nhờ người
khác chép hộ rồi ký tên. Công tác huấn luyện cấp chứng chỉ về quản lý, vận hành
thiết bị, huấn luyện thợ mìn, chỉ huy bắn mìn, huấn luyện PCCC chưa đảm bảo yêu
cầu. Do liên quan đến chi phí, thời gian huấn luyện sẽ ảnh hưởng đến sản xuất nên
có đơn vị không tổ chức huấn luyện hoặc chỉ làm để đối phó. Có tình trạng như vậy
là do những bất cập trong quy định về huấn luyện an toàn như: doanh nghiệp tự tổ


18
chức huấn luyện; không quy định về thời lượng, nội dung chương trình huấn luyện,
tiêu chuẩn điều kiện được huấn luyện và cấp giấy chứng nhận; tài liệu huấn luyện
do đơn vị sử dụng lao động tự biên soạn… dẫn đến không có sự thống nhất, mỗi
đơn vị làm khác nhau, tổ chức huấn luyện không chặt chẽ...

vấn đề liên quan đến sức khỏe của người lao động, nhưng số lượng cán bộ y tế
không đủ và chuyên môn còn non kém, cũng như điều kiện khám chữa bệnh của các
doanh nghiệp này cũng chưa đầy đủ máy móc, thiết bị.
Các vấn đề về nhà tắm, nhà vệ sinh cho người lao động tại nơi làm việc cũng
ngành khai thác mỏ quan tâm. Ngành khai thác mỏ được đánh giá là ngành có xây
dựng được hệ thống nhà tắm và nhà vệ sinh cho người lao động, tỷ lệ có nhà vệ sinh
của ngành khai thác mỏ cao nhất trong các ngành. Tuy nhiên, chất lượng của các
nhà vệ sinh này vẫn chưa cao, vẫn còn tình trạng nhà vệ sinh bẩn, kém chất lượng.
Về bữa ăn cho người lao động cũng đã được thực hiện tại một số doanh nghiệp của
ngành khai thác mỏ. Một số doanh nghiệp đã có xây dựng nhà ăn riêng cho cán bộ
công nhân viên của công ty, các bữa ăn đủ dinh dưỡng và thường xuyên được thay
đổi thực đơn cũng như đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Ví dụ, ở công ty cổ
phần Than Đèo Nai- Vinacomin đã thực hiện rất tốt chế độ bữa ăn cho người lao
động trong công ty. Hiện nay, công ty có 6 nhà ăn tập thê, với 116 công nhân làm
nhiệm vụ cấp dưỡng phục vụ bữa ăn công nghiệp cho công nhân trong cả 3 ca sản
xuất của phân xưởng, đảm bảo những bữa ăn đủ chất dinh dưỡng cho công nhân
làm việc; ngoài việc phục vụ bữa ăn cho người lao động tại các nhà ăn tập thể thì
công ty còn thực hiện giao cơm đến tận công trường cho một số bộ phận công nhân
không thể đến nhà ăn được. Ngoài ra, công ty còn trang bị các thiết bị phòng cháy
chữa cháy tại nhà ăn, các tủ bảo quản thực phẩm để đảm bảo thực phẩm luôn tươi
ngon, nguồn gốc của các nguyên liệu cũng được kiểm soát chặt chẽ. Tuy nhiên, vẫn
còn tình trạng các công ty nhỏ vẫn chữa xây dựng được nhà ăn tập thể, mà chỉ trợ
cấp tiền bữa ăn cho người lao động, vì vậy mà người lao động phải tự lo bữa ăn cho
mình bằng cách mang cơm từ nhà đi hoặc ăn cơm bụi, việc này sẽ không kiểm soát
được mức độ ăn toàn cho bữa ăn của người lao động, cũng như chưa thể hiện được
trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người lao động. Hoặc một số doanh nghiệp
đã có bếp ăn nhưng chất lượng các bữa ăn chưa tốt, chưa phong phú, nhà ăn tập thể


20


21
tuổi lao động.
Đặc biệt, trong các doanh nghiệp, cơ sở khai thác mỏ trái phép hầu như không
hề triển khai các biện pháp kỹ thuật, cũng như an toàn trong khai thác mỏ. Việc thuê
lao động thường giao khoán cho các nhóm lao động thông qua cai thầu, nên người
lao động không hề được hưởng quyền lợi và an toàn lao động, vệ sinh lao động.
Ngoại trừ họ được hưởng tiền công theo khoán sản phẩm hoặc công nhật. Khi xảy
ra tai nạn, đa số người lao động phải tự trả chi phí y tế và không được bồi thường
khi suy giảm khả năng lao động. Nếu bị chết, người thân của họ cũng không được
đền bù hay hỗ trợ.
2.4. Đánh giá chung về tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội về vấn đề an
toàn, sức khỏe lao động trong ngành khai thác mỏ.
Ưu điểm:
Nhìn chung, do đặc thù ngành khai thác mỏ đôc hại, điều kiện lao động khó
khăn, nên các doanh nghiệp ngành khai thác mỏ đã có sự quan tâm đến vấn đề
đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động cho công nhân, cũng như các vấn đề về sức
khỏe của người lao động. Sự quan tâm này đã thể hiện ngành khai thác mỏ đã
thực hiện trách nhiệm xã hội của mình trong vấn đề an toàn, sức khỏe lao động.
Các trách nhiệm xã hội về an toàn, sức khỏe lao động chưa thực sự rõ ràng
nhưng đã được thể hiện qua việc trang bị các phương tiện bảo hộ cá nhân cho
người lao động, đảm bảo các bữa ăn công nghiệp, xây dựng nhà ăn tập thể, nhà
vệ sinh, nhà tắm cho công nhân. Quan tâm đến viêc khám chữa bệnh cho người
lao động, do ngành khai thác mỏ có rất nhiều các bệnh nghề nghiêp như bụi
phổi, bệnh liên quan đến đường hô hấp, bệnh viêm phế quản… xây dựng các
phòng y tế, với các cán bộ có chuyên môn trong việc khám và chữa bệnh; tổ
chức khám bệnh định kỳ cho người lao động. Đối với các trường hợp người lao
động bị tai nạn lao động đã có sự thăm hỏi kịp thời.
Nhược điểm:
Ngoài những ưu điểm đã đạt được thì việc thực hiện trách nhiệm xã hội về an

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. PGS.TS Lê Thanh Hà, Trách nhiệm xã hội trong doanh nghiệp- Chuyên đề
chuyên sâu, Trường Đại học Lao động- Xã hội, 2005.

2. ThS. Hà Duy Hào, Tập bài giảng “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
trong lao động” (Bản thảo), Trường Đại học Lao động- Xã hội, 2016.

3. Lê Minh Tiến, Phạm Như Hồ (dịc), Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp,
Hà Nội, NXB Tri Thức, 2009.

4. Luật An toàn vệ sinh lao động.
5. Http://molisa.vn


PHỤ LỤC
Bảng 1: Các yếu tố điều kiện lao động gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của
người lao động.
Đơn vị: %
Chung tất

Phân theo ngành
Da
Khai
Thuỷ

Xây

Dịch


9,3

7,1
50,0
42,9
28,6

61,1
55,6
33,3
5,6

57,9
36,8
31,6
47,4

25,9

71,4

5,6

63,0

14,3

66,7

14,8


66,7
66,7
33,3
33,3

độc
Độ ẩm

23,1

cao
Nóng,

53,7

khó chịu
Khác

13,0


Không

31,0
69,0

7,3
92,7



-

-

-

18,2

-

nạn cho

không

người lao

che chắn
Không

-

-

-

27,3

28,6


66,7

42,1

dễ gây tai
44.1

nạn
Các yếu tố
nguy hiểm

44.2

44.3

9,6



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status