TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA 2007 -2011
Đề tài:
CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
LẤY THỰC TIỄN Ở TỈNH HẬU GIANG
Giảng viên hướng dẫn:
ThS. Võ Duy Nam
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thanh Lil
MSSV: 5075039
Lớp: Luật Hành chính K33
Cần Thơ, 4/2011
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài..................................................................................... ... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài............................................................................... ... 2
cho CBCCHC........................................................................................................... ... 30
2.1.4.1. Đối tượng được phổ biến, giáo dục pháp luật.................................... ... 30
2.1.4.2. Nội dung phổ biến, giao dục pháp luật cho từng nhóm CBCCHC .... ... 30
2.1.4.3. Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật cho CBCCHC ..................... ... 31
2.2. Các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật ........................................... ... 33
2.2.1. Chương trình phổ biên, giáo dục pháp luật từ năm 2008 đến năm 2012 .. 33
2.2.1.1. Mục tiêu .............................................................................................. ... 33
2.2.1.2. Yêu cầu................................................................................................ ... 34
2.2.1.3. Nội dung và đối tượng được phổ biến, GDPL.................................... ... 35
2.2.1.4. Các giải pháp thực hiện...................................................................... ... 37
2.2.1.5. Kinh phí thực hiện chương trình......................................................... ... 41
2.2.1.6. Tổ chức thực hiện ............................................................................... ... 42
2.2.2. Chương trình phổ biến, giáo duc pháp luật trong đội ngũ cán bộ, công
chức hành chính...................................................................................................... ... 47
2.3. Thực trạng về công tác PBGDPL ở nước ta hiện nay.................................. ... 48
2.3.1. Thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật.................................................. ... 48
2.3.2. Tổ chức và lực lượng cán bộ làm công tác PBGDPL ............................. ... 49
2.3.2.1. Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL các cấp.................................. ... 49
2.3.2.2. Lực lượng cán bộ làm công tác PBGDPL.......................................... ... 49
2.3.3. Các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật............................................ ... 50
2.3.3.1. Nội dung pháp luật được tuyên truyền ............................................... ... 50
2.3.3.2. Các hình thức, biện pháp tuyên truyền ............................................... ... 50
2.3.4. Đầu tư cơ sở vật chất cho công tác PBGDPL.......................................... ... 52
2.4. Thực trạng về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho CBCCHC......... ... 52
2.4.1. Về tổ chức của Hội đồng PHCT PBGDPL .............................................. ... 52
2.4.2. Về hoạt động của Hội đồng PHCT PBGDPL.......................................... ... 53
2.4.3. Kết quả đạt được của công tác PBGDPL ............................................... ... 54
2.4.3.1. Công tác triển khai văn bản................................................................ ... 54
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Nhưng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính (CBCCHC) ở nước ta hiện nay còn
thiếu ở nhiều mặt chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới và xây dựng Nhà nước pháp
quyền (NNPQ) xã hội chủ nghĩa (XHCN). Trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật của
đội ngũ cán bộ, công chức còn có những hạn chế nhất định, chưa theo kịp và chưa
được nâng tầm tương xứng đối với đổi mới hệ thống pháp luật. Chính vì vậy, giáo dục
pháp luật (GDPL) cho CBCCHC là một biện pháp hữu hiệu nhằm trang bị kiến thức,
hiểu biết pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật, hình thành lối sống và làm việc theo
pháp luật cho CBCCHC; góp phần bảo đảm cho Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp
luật có hiệu quả, xây dựng đội ngũ CBCCHC trong sạch, vững mạnh.
Trong thời gian qua công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán
bộ, công chức chưa được quan tâm đúng mức, chưa đạt hiệu quả, chưa ngang tầm với
sự quản lý của xã hội bằng pháp luật. Do thiếu sự đồng bộ giữa các cơ quan, thiếu sự
quan tâm của Nhà nước.
Từ khi Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư về việc
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng
cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân; Chương trình phổ biến, giáo dục
pháp luật từ năm 2003 đến năm 2007 của Thủ tướng chính phủ ra đời thì công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật được chuyển sang một bước ngoặc mới.
Với những nguyên nhân trên, và để mang lại hiệu quả thiết thực cho công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật cho công dân Việt Nam nói chung và cán bộ, công chức nói
riêng, nên người viết đã chọn đề tài “Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán
GVHD: ThS. VÕ DUY NAM
Trang 1
SVTH: NGUYỄN THANH LIL
chính ở nước ta hiện nay – Lấy thực tiễn ở tỉnh Hậu Giang”. Ngoài lời nói đầu, mục
lục và danh mục tài liệu tham khảo thì đề tài có bố cục như sau:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về pháp luật và công tác phổ biên, giáo dục pháp
luật cho cán bộ, công chức hành chính ở nước ta hiện nay.
GVHD: ThS. VÕ DUY NAM
Trang 2
SVTH: NGUYỄN THANH LIL
LVTN: Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho Cán bộ, công chức hành chính ở nước ta
hiện nay - Lấy thực tiễn ở tỉnh Hậu Giang
Chương II: Thực trạng về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ công
chức hành chính ở nước ta và thực tiễn ở tỉnh Hậu Giang.
Chương III: Phương hướng và giải pháp để hoàn thiện công tác phổ biên, giáo
dục pháp luật cho cán bộ công chức hành chính.
Kết luận
GVHD: ThS. VÕ DUY NAM
Trang 3
SVTH: NGUYỄN THANH LIL
LVTN: Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho Cán bộ, công chức hành chính ở nước ta
hiện nay - Lấy thực tiễn ở tỉnh Hậu Giang
1
Trường Đại học Luật Hà Nội, Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư pháp, H. 2006, tr 336.
GVHD: ThS. VÕ DUY NAM
Trang 4
SVTH: NGUYỄN THANH LIL
LVTN: Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho Cán bộ, công chức hành chính ở nước ta
hiện nay - Lấy thực tiễn ở tỉnh Hậu Giang
Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh các quan hệ xã
hội. Mục đích của pháp luật trước hết nhằm điều chỉnh các quan hệ giữa các giai cấp,
tầng lớp trong xã hội. Vì vậy, pháp luật là nhân tố để điều chỉnh về mặt giai cấp các
quan hệ xã hội nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo một “trật tự” phù hợp
với ý chí của giai cấp thống trị. Với ý nghĩa đó, pháp luật chính là công cụ thể hiện sự
thống trị giai cấp.
Tuy nhiên, vì pháp luật do nhà nước đại diện chính thức của toàn xã hội ban hành
nên nó còn mang tính chất xã hội. Nghĩa là, ở mức độ ít hay nhiều (tùy thuộc và hoàn
cảnh trong mọi giai đoạn cụ thể), pháp luật còn thể hiện ý chí và lợi ích của các tầng
lớp khác trong xã hội. Ví dụ: Pháp luật tư sản ở giai đoạn đầu, sau khi cách mạng tư
sản thắng lợi, bên cạnh việc thể hiện ý chí của giai cấp thống trị cón thể hiện nguyện
vọng dân chủ và lợi ích của nhiều tầng lớp khác trong xã hội. Trong quá trình phát
triển tiếp theo, tùy theo tình hình cụ thể, giai cấp tư sản đã điều chỉnh mức độ thể hiện
đó theo ý chí của mình để pháp luật có thể “thích ứng” với điều kiện và hoàn cảnh của
xã hội cụ thể. Đối với pháp luật xã hội chủ nghĩa cũng vậy, bên cạnh việc pháp luật thể
pháp luật là phương tiện thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng, bảo đảm sự lãnh
đạo của Đảng thực hiện có hiệu quả trên quy mô toàn xã hội; là phương tiện cho nhà
nước quản lý mọi mặt của đời sống xã hội; là phương tiện để nhân dân phát huy quyền
dân chủ và quyền làm chủ, thực hiện quyền làm chủ của mình.
Pháp luật với tư cách là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, nó luôn tác động
và ảnh hưởng rất mạnh mẽ tới các quan hệ nói chung, cũng như tới tất cả các yếu tố
của thượng tầng chính trị - pháp lý nói riêng. Sự tác động và ảnh hưởng của pháp luật
ở nhiều mức độ khác nhau tùy thuộc vào từng loại đối tượng và từng loại quan hệ cụ
thể cần có sự điều chỉnh của pháp luật. Nhưng sự biểu hiện cụ thể của sự tác động đó
bao giờ cũng phản ánh trong khuôn mẫu của các hành vi xử sự được xác định, mà các
chủ thể pháp luật phải tuân thủ, cháp hành hoặc lấy làm cơ sở để sử dụng và áp dụng
chúng phù hợp với những điều kiện tương ứng trong hoạt động thực tiễn.
Sự khác nhau về mức độ (trình độ) điều chỉnh nói lên vai trò của pháp luật được
thể hiện ở các hình thức chính để tổ chức thực hiện các chức năng của nhà nước là xây
dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật. Để giải quyết những
nhiệm vụ hết sức phức tạp đòi hỏi nhà nước phải dựa trên cơ sở pháp luật vững chắc,
vì vậy phải chú trọng công tác xây dựng pháp luật luôn gắn liền với việc tổ chức thực
hiện pháp luật. Đồng thời, phải chú trọng tới việc bảo vệ pháp luật, bảo đảm cho pháp
luật phát huy vai trò trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội, bảo đảm cho nó
không bị xâm hại, không bị coi thường.
Tuy nhiên, những điểm nói trên mới phản ánh vai trò của pháp luật ở bình diện
chung. Để thấy rõ vai trò của pháp luật cần phải xem xét nó ở góc độ cụ thể gắn với
việc thực hiện các chức năng cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhu cầu điều
chỉnh bằng pháp luật các quan hệ xã hội. Vì vậy, pháp luật được đặt ra nhằm thực hiện
các mục đích đã được xác định. Những mục đích đó luôn xuất phát từ chức năng và
nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhu cầu cần thiết phải có sự điều chỉnh
của pháp luật các quan hệ xã hội trong thời kỳ quá độ, cũng như trong mỗi giai đoạn
cụ thể. Trong mối quan hệ này có thể nhận thấy vai trò của pháp luật thể hiện ở những
mặt sau:
GVHD: ThS. VÕ DUY NAM
nhấn mạnh phát huy vai trò của pháp luật. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm
1992 đã được sửa đổi bổ sung, hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy
nhà nước ta đã có những bước phát triển mới, tạo cơ sở cho việc củng cố và hoàn thiện
bộ máy nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam của dân, do dân, vì dân.
+ Pháp luật bảo đảm cho việc thực hiện có hiệu quả chức năng tổ chức và quản
lý kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội
- Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế có phạm vi rộng và phức tạp bao gồm
nhiều mối quan hệ, nhiều vấn đề mà nhà nước cần xác lập, điều tiết và giải quyết như:
hoạch định các chính kinh tế, xác định chỉ tiêu kế hoạch, quy định các chế đọ tài
2
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Sđd, tr. 91 và 92.
GVHD: ThS. VÕ DUY NAM
Trang 7
SVTH: NGUYỄN THANH LIL
LVTN: Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho Cán bộ, công chức hành chính ở nước ta
hiện nay - Lấy thực tiễn ở tỉnh Hậu Giang
chính, tiền tệ, giá cả… toàn bộ quá trình tổ chức và quản lý từ hoạch định chính sách,
đề ra kế hoạch cho tới tổ chức thực hiện trên thực tế, kiểm tra giám sát, tổng kết và
đánh giá kết quả… đều đòi hỏi sự hoạt động tích cực của nhà nước để tạo ra cơ chế
đồng bộ, thúc đẩy quá trình phát triển đúng hướng của nền kinh tế và mang lại hiệu
quả thiết thực. Do tính chất phức tạp (nhiều vấn đề nhiều quan hệ cần giải quyết) và
phạm vi rộng (trên quy mô toàn quốc) của chức năng quản lý kinh tế, nhà nước không
SVTH: NGUYỄN THANH LIL
LVTN: Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho Cán bộ, công chức hành chính ở nước ta
hiện nay - Lấy thực tiễn ở tỉnh Hậu Giang
đó xác lập những nguyên tắc và quy định phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển đồng bộ của hệ thống chính trị. Tất cả những điều đó chỉ có thể thực hiện khi có
cơ sở pháp lý vững chắc. Pháp luật xã hội chủ nghĩa với bản chất dân chủ, thể hiện ý
chí và những lợi ích cơ bản của tất cả các tầng lớp nhân dân lao động sẽ là điều kiện
quan trọng để phát huy dân chủ, cũng cố và hoàn thiện hệ thống chính trị.
- Những năm vừa qua Đảng và nhà nước ta đã có nhiều biện pháp nhằm cũng cố
hệ thống chính trị, phát huy sức mạnh của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhưng chưa
có đủ hệ thống quy phạm pháp luật để tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho việc tổ chức
và hoạt động của hệ thống chính trị, nên việc phát huy sức mạnh của toàn bộ hệ thống
đó còn có những hạn chế nhất định. Nhận thức rõ điều này, Đại hội lần thứ VII của
Đảng đã khẳng định “thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là thực chất của việc đổi
mới và kiện toàn hệ thống chính trị… điều kiện quan trọng để phát huy dân chủ là xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng
cao dân trí, trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức tuân thủ pháp luật của người dân”3.
- Dân chủ xã hội chủ nghĩa được biểu hiện trong việc xác lập và điều chỉnh mối
quan hệ giữa nhà nước và công dân. Những quyền tự do dân chủ của công dân phải
được quy định cụ thể trong pháp luật; nhà nước phải bảo đảm cho công dân thực hiện
các quyền đó trong khuôn khổ luật định. Đồng thời, pháp luật cũng quy định những
nghĩa vụ tương ứng mà công dân phải thực hiện để bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội.
+ Pháp luật là cơ sở để giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Pháp luật xã hội chủ nghĩa với những tính chất và những đặc thù của mình có vai
trò rất quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Xuất
phát từ tình hình thực tiễn trong thời kỳ quá độ, bên cạnh hệ thống quy phạm pháp luật
đặt ra để điều chỉnh, hướng dẫn hành vi xử sự của các chủ thể, thiết lập một quan hệ
quyền và lợi ích của các chủ thể khác, tập thể và nhà nước.
- Sự tồn tại của hệ thống quy phạm pháp luật tự bản thân của nó có ý nghĩa giáo
dục, nó tác động tới nhận thức và tư tưởng của mỗi thành viên trong xã hội, giáo dục ý
thức của mỗi người, mọi người vì một người, tôn trọng các nguyên tắc xã hội chủ
nghĩa.
Ý nghĩa giáo dục còn thể hiện ở việc pháp luật còn quy định những hình thức và
mức độ khen thưởng, khuyến khích vật chất và tinh thần đối với những thành viên có
nhiều cống hiến cho nhà nước và xã hội đồng thời xử lý và trừng trị nghiêm khắc đối
với những người vi phạm pháp luật làm xâm hại tới lợi ích cá nhân, tập thể hoặc nhà
nước.
+ Pháp luật xã hội chủ nghĩa góp phần xây dựng những mối quan hệ mới
- Bên cạnh chức năng phản ánh, mô hình hóa các nhu cầu khách quan của xã hội,
pháp luật xã hội chủ nghĩa còn có khả năng “đi trước”, định hướng cho sự phát triển
các quan hệ xã hội, vì vậy nó có vai trò rất lớn trong việc tạo dựng những quan hệ mới.
- Đời sống xã hội luôn thay đổi thường xuyên và thay đổi theo một quy luật mà
con người có thể nhận thức được. Dựa trên những kết quả và dự báo khoa học, người
ta có thể dự kiến được những diễn biến thay đổi có thể diễn ra với những tình huống
cụ thể, điển hình cần tới sự điều chỉnh của pháp luật, từ đó pháp luật được đặt ra để tạo
cơ sở cho việc xác lập những quan hệ mới, đồng thời có thể thiết kế những mô hình tổ
chức tương ứng mới, chủ động thúc đẩy nhanh quá trình phát triển của xã hội.
- Tuy nhiên, pháp luật bao giờ cũng có sự ổn định tương đối. Sự hình thành mới
hoặc những thay đổi thường diễn ra với từng bộ phận nhất định của hệ thống pháp
luật, ít có những đột biến toàn phần trong một thời gian ngắn. Tính định hướng của
GVHD: ThS. VÕ DUY NAM
Trang 10
SVTH: NGUYỄN THANH LIL
phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh trong nước, đồng thời phù hợp với xu hướng phát
triển chung của tình hình quốc tế và khu vực.
GVHD: ThS. VÕ DUY NAM
Trang 11
SVTH: NGUYỄN THANH LIL
LVTN: Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho Cán bộ, công chức hành chính ở nước ta
hiện nay - Lấy thực tiễn ở tỉnh Hậu Giang
1.1.4.2. Vai trò của pháp luật đối với cuộc sống
- Trong quá trình phát triển lịch sử nhân loại, cùng với Nhà nước, pháp luật ra đời
nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Bên cạnh đạo đức và dư luận xã hội thì pháp
luật là công cụ quản lý xã hội chủ yếu của Nhà nước.
- Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay thì việc tăng cường vai trò của pháp
luật được đặt ra như một tất yếu khách quan. Điều đó không chỉ nhằm mục đích xây
dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh, mà còn hướng đến bảo vệ và phát
triển các giá trị chân chính, trong đó có ý thức đạo đức.
- Nhưng trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó là
phương tiện không thể thiếu bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội
nói chung và của nền đạo đức nói riêng. Pháp luật không chỉ là một công cụ quản lý
Nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức đạo
đức, làm lành mạnh hoá đời sống xã hội và góp phần bồi đắp nên những giá trị mới.
- Giữa đạo đức và pháp luật luôn có mối quan hệ qua lại và tác động tương trợ lẫn
nhau. Để nâng cao vai trò và phát triển ý thức đạo đức, ngoài các biện pháp tích cực
khác, thì không thể thiếu vai trò của pháp luật và ý thức pháp quyển. Pháp luật càng
chặt chẽ, càng đầy đủ và được thi hành nghiêm chỉnh thì đạo đức càng được đề cao,
thống pháp luật hoàn chỉnh, thể hiện đúng đắn ý chí và nguyện vọng của số đông, phù
hợp với xu thế vận động của lịch sử sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã
hội. Do đó, pháp luật cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ nền đạo
đức của xã hội. Có thể nói, pháp luật là phương tiện không thể thiếu được cho sự tồn
tái bình thường của xã hội nói chung và nền đạo đức nói riêng. Bởi lẽ, "pháp luật bao
giờ cũng là một trong những biện pháp để khẳng định một chuẩn mực đạo đức và biến
nó thành thói quen. Chuẩn mực càng khó khẳng định bao nhiêu thì vai trò của pháp
luật càng quan trọng bấy nhiêu. Vì vậy, không thể buông lỏng pháp luật nếu việc này
chưa được chuẩn bị bằng sự tiến bộ đạo đức của xã hội".
- Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa hiện nay, yêu
cầu đặt ra đối với pháp luật là phải tác động tích cực đến nền đạo đức của xã hội. Nền
kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường đòi hỏi mỗi cá nhân trong hoạt động của mình
phải tính toán chặt chẽ những điều kiện khách quan và hiệu quả kinh tế. Khi đời sống
kinh tế - xã hội đã và đang có những chuyển biến, thì quan hệ giữa con người với con
người không thể chỉ là "mối quan hệ trực tiếp, cảm tính, chủ yếu bị chi phối bở những
nguyên tắc và chuẩn mực của sự phát triển về đạo đức"
- Pháp luật và đạo đức là đều góp phần bảo vệ các giá trị chân chính, đều liên
quan đến hành vi và đụng chạm đến lợi ích của con người và xã hội. Pháp luật tham
gia điều chỉnh quan hệ xã hội bằng những quy phạm pháp luật, những điều khoản quy
định các quyền và nghĩa vụ của chủ thể, điều chỉnh các mối quan hệ giữa con người
với con người, giữa con người và xã hội bằng sự bắt buộc và cưỡng chế. Còn đạo đức
lại điều chỉnh các mối quan hệ bằng dư luận của xã hội, bằng sự giác ngộ và sự thôi
thúc từ bên trong. Do đó có thể nói pháp luật là công cụ để Nhà nước quản lý mà còn
là môi trường thuận lợi cho sự hình thành và pháp triển ý thức đạo đức.
- Thực tế cho thấy hệ thống pháp luật và việc thi hành pháp luật có những tác
động rõ rệt đến đời sống xã hội. Những quy định trong Hiến pháp, trong các luật và
các văn bản dưới luật luôn đề cao tính nhân đạo, luôn đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp
GVHD: ThS. VÕ DUY NAM
Trang 13
không nhỏ cán bộ, Đảng viên, trong đó có cả cán bộ có chức, có quyền” đang là nỗi
bất bình cho toàn xã hội. Thực tế do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do
pháp luật chưa đầy đủ hoặc thiếu chặt chẽ và việc thi hành pháp luật chưa nghiêm,
chưa công bằng. Trong bối cảnh như vậy, pháp luật cần phải tỏ rõ sức mạnh của mình
để lập lại trật tự, kỷ cương. Bởi lẽ, nếu đạo lý không đủ mạnh để thuyết phục thì pháp
lý phải ra tay. Nếu dư luận xã hội chưa đủ bộ để lên án thì luật pháp phải kết án”.
- Trong những năm qua, các cơ quan chức năng đã không ngừng nỗ lực trong
việc thanh tra, khám phá và xét xử công khai nhiều vụ trọng án, nghiêm trị những kẻ
phạm tội góp phần giữ vững trật tự xã hội, an ninh trong quân chúng nhân dân, tạo thế
GVHD: ThS. VÕ DUY NAM
Trang 14
SVTH: NGUYỄN THANH LIL
LVTN: Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho Cán bộ, công chức hành chính ở nước ta
hiện nay - Lấy thực tiễn ở tỉnh Hậu Giang
lực đưa nước ta từng bước hòa nhập vào thế giới. Chúng ta cần phải từng bước xây
dựng, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật cho phù hợp với tình hình mới và
nhiệm vụ mới. Nhiều văn bản luật và dưới luật được ban hành và cùng với việc tuyên
truyền, phổ biến pháp luật rộng rãi hơn, nhanh chống đi vào cuộc sống thì sẽ đáp ứng
được nguyện vọng của nhân dân.
Pháp luật không phân biệt đối xử với bất kỳ ai, không loại trừ ai, đứng trước pháp
luật thì mọi công dân đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau. Pháp luật là công cụ hữu
hiệu để quản lý xã hội, điều chỉnh hành vi của con người theo hướng ngăn chặn, đẩy
lùi cái ác, cái xấu và phát huy cái tốt, cái hoàn thiện vón có của con người4.
1.2. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho CBCCHC hiện nay
1.2.1. Khái niệm giáo dục pháp luật cho cán bộ công chức hành chính
LVTN: Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho Cán bộ, công chức hành chính ở nước ta
hiện nay - Lấy thực tiễn ở tỉnh Hậu Giang
+ Thấy được quá trình xã hội hóa cá nhân nói chung và GDPL nói riêng chịu sự
tác động, chi phối của nhiều yếu tố xã hội. Chủ thể giáo dục có thể khai thác, phát huy
các yếu tố tích cực và hạn chế ảnh hưởng của các yếu tố tiêu cực, có tính tự phát, làm
hạn chế hoặc làm suy giảm hiệu quả của GDPL trong thực tiễn hiện nay.
+ Không đồng nhất, không coi GDPL đã có trong giáo dục chính trị, giáo dục
đạo đức, đo đó đã hạ thấp vai trò của GDPL. Ví dụ, quan niệm đạo đức là pháp luật tối
đa còn pháp luật chỉ là đạo đức tối thiểu nên không cần GDPL, mọi người dân đều có
nghĩa vụ chấp hành pháp luật. Quan niệm như vậy rõ ràng là đã bó hẹp phạm vi của
GDPL, coi GDPL chỉ còn là tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật của Nhà
nước, là việc mọi công dân đều chấp hành pháp luật.
- GDPL theo nghĩa hẹp là quá trình tác động (hoạt động) có mục đích, có tổ
chức, có kế hoạch của nhà giáo dục (chủ thể GDPL) để chuyển tải, truyền đạt những
nội dung (thông tin, tri thức về các bộ luật, đạo luật…), thông qua các phương pháp
giáo dục khoa học và hình thức giáo dục phù hợp tới đối tượng tiếp cận giáo dục
(khách thể GDPL) nhằm đạt được những mục tiêu, hiệu quả giáo dục nhất định.
Theo nghĩa hẹp nói trên, có thể định nghĩa: GDPL là quá trình tác động có mục
đích, có tổ chức, có kế hoạch, theo nội dung và thông qua những phương pháp, hình
thức nhất định từ phía chủ thể giáo dục đến khách thể giáo dục nhằm làm hình thành
và phát triển ở họ hệ thống tri thức pháp luật, trình độ hiểu biết (nhận thức) vầ pháp
luật, tình cảm, thói quen và hành vi xử sự theo các chuẩn mực pháp luật.
Nội dung định nghĩa GDPL nêu trên đề cập đến những khía cạnh sau:
- Hoạt động GDPL là hoạt động có mục đích (chỉ bao hàm những tác động mang
tính chất tự giác) của chủ thể GDPL lên đối tượng (cá nhân, tổ chức) cần và được
GDPL với các nội dung, nhiệm vụ cụ thể khác nhau. Tính có mục đích trong hoạt động
của chủ thể GDPL mang tính khách quan, thể hiện những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội
về pháp luật, được chủ thể GDPL chuyển tải và biến nó thành nhu cầu, động cơ bên
trong của đối tượng tiếp nhận GDPL. Quá trình GDPL chỉ đạt được hiệu quả khi đối
pháp luật…); mục tiêu về hành vi (kỹ năng vận dụng tri thức, hiểu biết pháp luật để
giải quyết công việc chuyên môn, hành vi pháp luật tích cực, lối sống pháp luật…).
Xuất phát từ định nghĩa GDPL và vai trò của GDPL cho CBCCHC, có thể khẳng
định, GDPL cho CBCCHC là hoạt động có định hướng, có tổ chức, thông qua các
phương pháp đặc thù và bằng nhiều hình thức khác nhau, hướng tới cung cấp, trang
bị cho CBCCHC những tri thức, hiểu biết về các vấn đề pháp luật nói chung, về các
vấn đề pháp luật cụ thể liên quan đến hoạt động công vụ nói riêng, tình cảm pháp luật
và hành vi phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành5.
1.2.2. Vai trò của GDPL cho CBCCHC
GDPL cho CBCCHC ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là một trong những việc
làm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa.
GDPL cho CBCCHC góp phần làm hình thành ở họ ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp
luật, phát huy vai trò hiệu quả của pháp luật trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp
quyền Xã hội chủ nghĩa (NNPQ XHCN) Việt Nam. Từ đó, chúng ta có thể khẳng định
rằng, GDPL cho CBCCHC là yêu cầu khách quan và đòi hỏi cấp bách.
5
Nguyễn Quốc Sửu, Tập chí nghiên cứu lập pháp, số 7(168)/ tháng 04/2010, tr. 40.
GVHD: ThS. VÕ DUY NAM
Trang 17
SVTH: NGUYỄN THANH LIL
LVTN: Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho Cán bộ, công chức hành chính ở nước ta
hiện nay - Lấy thực tiễn ở tỉnh Hậu Giang
thể, một bộ phận CBCCHC còn yếu về năng lực chuyên môn, một bộ phận không nhỏ
bị thoái hóa, biến chất dưới tác động của cơ chế kinh tế thị trường. Dân chủ dở nhiều
GVHD: ThS. VÕ DUY NAM
Trang 18
SVTH: NGUYỄN THANH LIL
LVTN: Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho Cán bộ, công chức hành chính ở nước ta
hiện nay - Lấy thực tiễn ở tỉnh Hậu Giang
lúc, nhiều nơi bị vi phạm, kỹ cương phép nước chưa nghiêm. Quan liêu, lãng phí còn
nghiêm trọng, đặc biệt là tình trạng tham nhũng, của quyền, thiếu trách nhiệm của một
bộ phận cán bô, công chức, nhất là các cơ quan giải quyết công việc cho dân và doanh
nghiêp6.
Mặt khác, hoạt động chuyên môn của cán bộ, công chức cũng chính là cơ sở để
nhân dân đánh giá về hiệu lực và hiệu quả của bộ máy nhà nước. NNPQ có những yêu
cầu riêng như pháp luật vì con người, phân công quyền lực, chủ quyền nhân dân, chính
quyền chịu sự ràng buộc bởi pháp luật, tư pháp độc lập… Nhưng, suy cho cùng, những
yêu cầu của NNPQ chỉ hướng về một mục tiêu là chống lại sự lạm quyền của Nhà
nước, sự vi phạm của Nhà nước đối với những nguyên tắc pháp lý của việc hành xử
quyền lực để bảo vệ những quyền và tự do của con người. NNPQ là Nhà nước bị hạn
chế quyền lực bằng pháp luật. Trong khi kêu gọi mọi công dân phải tuân thủ pháp luật
thì bả thân các CBCCHC phải là dội ngũ đi đầu, phải triệt để tuân thủ pháp luật. Đó
cũng là đảm bảo nguyên tắc quan trọng trong NNPQ: mọi công dân đều bình đẳng
trước pháp luật.
CBCCHC là “công bộc”, là “đầy tớ” của nhân dân, hằng ngày trực tiếp hoặc gián
tiếp giải quyết các công việc thuộc bộ máy nhà nước, các quyền và lợi ích của nhân
dân… Giải quyết những công việc đó đòi hỏi phải đảm bảo tính trung thực trên cơ sở
cơ hội hạch sách, vòm vĩnh doanh nghiệp. Còn tham nhũng cấp cao thì thường không
lộ liễu, nhưng nó bóp méo quy trình hoạch định chính sách và làm xói mòn long tin
của nhân dân đối với công quyền. Những kẻ tham nhũng đó thường coi các cơ quan
nhà nước là một thứ công cụ để tạo ra nguồn thu nhanh chống7
Như vậy, việc GDPL cho CBCC ở nước ta hiện nay có vai trò hết sức quan trọng,
góp phần nâng cao ý thức pháp luật và trình độ hiểu biết pháp luật cho đôin ngũ
CBCC, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của tiến trình xây dựng NNPQ XHCN Việt
Nam.
1.2.3 Đặc điểm của GDPL cho CBCCHC
GDPL cho CBCCHC là một bộ phận cấu thành GDPL nói chung, nghĩa là nó
cũng phải tuân theo các quy luật chung của quá trình GDPL, phải đáp ứng các yêu cầu
về chủ thể, khách thể, về nôi dung, phương pháp và hình thức tổ chức của quá trình
này. Bên cạnh đó, GDPL cho CBCCHC cũng có những đặc điểm riêng xuất phát từ
những nét đặc thù về vị trí công tác, tiêu chuẩn chuyên môn và chức năng của họ trong
điều kiện xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam.
- GDPL cho CBCCHC đòi hỏi tính chuyên ngành, chuyên nghiệp cao cả trên
phương diện chủ thể GDPL và nội dung GDPL. CBCCHC là những người đang làm
việc trong các cơ quan thuộc bộ máy hành chính nhà nước nên họ rất cần đến kiến
thức pháp luật. Bởi vì, trong NNPQ, pháp luật có một vị trí độc tôn, đòi hỏi mọi cơ
quan, tổ chức, cá nhân ngay cả Nhà nước người ban hành pháp luật – cũng phải đặt
mình dưới sự tác động, điều chỉnh của pháp luật. Điều đó có nghĩa, CBCCHC phải
gương mẫu, đi đầu trong “sống, làm việc theo pháp luật”. Do đó, ngoài kiến thức
chuyên môn, họ rất cần được trang bị kiến thức, hiểu biết pháp luật, nhất là kiến thức
chuyên ngành. Nhận định về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Cán bộ
là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng
hiểu rõ và thi hành. Đồng thời, cán bộ đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng,
7
Nguyễn Quốc Sửu, Tập chí nghiên cứu lập pháp, số 7(168)/ tháng 04/2010, tr. 40.