LUẬN văn LUẬT HÀNH CHÍNH ĐĂNG ký và QUẢN lý HỘTỊCH tại ủy BAN NHÂN dân cấp xã - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 31 (2005 - 2009)

ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH TẠI
ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ

Giáo viên hướng dẫn:
Nguyễn Hữu Lạc

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Kim Liên
MSSV: 5054803
Lớp: Luật Hành Chính - K31

Cần Thơ, tháng 4 năm2009


Đề tài: Đăng ký và quản lý hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………………………………………………

………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

3

SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên


Đề tài: Đăng ký và quản lý hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do, mục đích chọn đề tài.
Quản lý dân cư là một trong những lĩnh vực trọng yếu của nền hành chính mà
mọi quốc gia, dù ở bất kỳ chế độ chính trị với trình độ phát triển nào cũng đều quan

cấp xã là rất cần thiết, có ý nghĩa và quan trọng. Bên cạnh đó, đề tài cũng nêu
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

4

SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên


Đề tài: Đăng ký và quản lý hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã

những mặt hạn chế của đăng ký và quản lý hộ tịch để từ đó đưa ra một số giải pháp
nhằm hoàn thiện công tác đăng ký và quản lý hộ tịch.
5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
Luận văn này có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu về đăng ký và
quản lý hộ tịch. Các cán bộ làm công tác hộ tịch, các cơ quan hữu quan tham khảo,
để từ đó đưa ra những biện pháp, cách thức điều chỉnh về hoạt động đăng ký và
quản lý hộ tịch, góp phần ngày càng hoàn thiện hơn qui định của pháp luật phù hợp
thực tiễn cũng như phù hợp với xã hội ngày càng tiến bộ.
6. Kết cấu của luận văn.
Mục lục
Lời nói đầu
Chương 1: Lý luận chung về đăng ký và quản lý hộ tịch.
Chương 2: Cơ sở pháp lý về đăng ký và quản lý hộ tịch cấp xã.
Chương 3: Thực trạng đăng ký và quản lý hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã.
Kết luận
Tài liệu tham khảo.

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

5

trong một địa phường”3;
“Hộ tịch: Sổ của cơ quan chính quyền đăng ký cư dân trong địa phương
mình theo đơn vị hộ”4;
“Hộ tịch: Các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của
pháp luật”5;
“Hộ tịch: Quyền cư trú, được chính quyền công nhận của một người tại nơi
mình ở thường xuyên, của những người thường trú thuộc cùng một hộ, do chính
quyền cấp cho từng hộ để xuất trình khi cần”6;
1

Đào Duy Anh – Từ điển Hán – Việt, quyển hạ - Nxb Khoa học xã hội – 1992, trang 384.
Nguyễn Như Ý (chủ biên) – Từ điển Tiếng việt thông dụng – Tái bản lần 2 – Nxb Giáo Dục, trang 332.
3
Nguyễn Lân (chủ biên) – Từ điển từ và ngữ Hán – Việt – NxbTP.HCM – 1989, trang 321.
4
Viện ngôn ngữ học – Từ điển Tiếng việt phổ thông – NxbTP.HCM - 2002 .
5
Nguyễn Như Ý (chủ biên) – Đại từ điển Tiếng việt – Nxb Văn hóa Thông tin – 1998, trang 835.
2

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

6

SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên


Đề tài: Đăng ký và quản lý hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã

Như vậy, nghĩa của từ “hộ tịch” xét về góc độ ngôn ngữ còn tồn tại nhiều

trở nên dài dòng và khái niệm về đăng ký hộ tịch tiếp tục được ghi nhận lại ở Nghị
định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ
6

Nguyễn Văn Đạm – Từ điển tường giải và liên tưởng Tiếng việt – Nxb Văn hóa Thông tin – 1999.

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

7

SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên


Đề tài: Đăng ký và quản lý hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã

tịch. Nghị định này được ban hành thay thế Nghị định số 83/1998/NĐ-CP. Khái
niệm về đăng ký hộ tịch ở Nghị định số 158/2005/NĐ-CP được trình bày ngắn gọn,
đầy đủ ý hơn ở Nghị định số 83/1998/NĐ-CP.
Ví dụ 1: Các sự kiện ở Nghị định số 83/1998/NĐ-CP như: thay đổi họ, tên, chữ
đệm; cải chính họ, tên, chữ đêm, ngày, tháng, năm sinh; đăng ký khai sinh, khai tử
quá hạn; đăng ký lại các việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi; được thay thế
bằng cụm từ thay đổi, cải chính bổ sung, điều chỉnh hộ tịch ở Nghị định
158/2005/NĐ-CP.
Ví dụ 2: So với Nghị định số 83/1998/NĐ-CP thì Nghị định số 158/NĐ-CP có
sự bổ sung thêm vấn đề “xác định lại giới tính” . Từ thực tế hiện nay cho thấy vấn
đề xác định lại giới tính là một vấn đề đáng quan tâm. Có những người khi sinh ra
đã xác định giới tính nhưng khi lớn lên lại có những biểu hiện bên ngoài cũng như
những biểu hiện về mặt sinh lý thì ngược lại và cộng đồng xã hội vẫn có sự nhằm
lẫn giới tính của người đó. Việc bổ sung qui định mới về xác định lại giới tính có ý
nghĩa rất lớn, tạo điều kiên thuận lợi cho cá nhân này tham gia các mối quan hệ gia

Hiện nay, hệ thống cơ quan quản lý hộ tịch ở nước ta được tổ chức theo
nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ. Theo đó, tương ứng với
mỗi cơ quan quản lý có thẩm quyền chung của một cấp hành chính có một cơ quan
chuyên ngành cùng cấp có nhiệm vụ giúp cơ quan quản lý có thẩm quyền chung đó
thực hiện việc quản lý hộ tịch. Quản lý hộ tịch là một nội dung quản lý Nhà nước
trong lĩnh vực hành chính tư pháp. Những cơ quan có thẩm quyền trong quản lý hộ
tịch gồm có: Chính phủ - cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước ta; Bộ
Tư pháp; Bộ ngoại giao; Cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của việt nam ở nước
ngoài; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp huyện và
Phòng Tư pháp; Ủy ban nhân dân cấp xã và công chức tư pháp hộ tịch.
Vì vậy, quản lý hộ tịch là nhiện vụ quan trọng, thường xuyên của chính
quyền các cấp, nhằm theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, trên cơ sở đó
bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình, đồng thời góp phần xây
dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và dân số, kế hoạch hóa
gia đình.
1.2. Quá trình phát triển của hoạt động quản lý hộ tịch ở Việt Nam.
Dựa trên các thông tin lịch sử và các tài liệu khoa học pháp lý có thể thấy rằng
chế độ quản lý hộ tịch ở Việt Nam phát triển qua các giai đoạn sau:
1.2.1. Quản lý “đinh” trong thời kỳ phong kiến
Thời kỳ phong kiến không gọi là quản lý hộ tịch mà gọi là quản lý “đinh”,
bởi đinh7 là người đàn ông thuộc lứa tuổi phải đóng thuế thân và đi lính trong thời
kỳ phong kiến. Dưới Triều Ngô, Đinh, Tiền Lê thì vấn đề quản lý Nhà nước đã
được Nhà nước phong kiến quan tâm để củng cố sức mạnh vương triều do đó chưa
có các qui định về quản lý đinh. Đến triều Lý thì việc kiểm soát đinh rất được coi
trọng, nhằm phục vụ cho hai mục đích thiết yếu của Nhà nước là củng cố sức mạnh
về quân sự và thu thuế do đó chỉ quản lý những dân “đinh” 18 tuổi trở lên là nam.
Sang nhà Trần thì việc quản lý hộ tịch có sự phức tạp hơn: Phân loại cư dân theo
đơn vị xã hội; phân loai theo độ tuổi, sức khỏe; phân loại theo tính chất cư trú. Song
đến cuối nhà Trần thì việc thực hiện hoạt động này vẫn không được như trước. Đến
triều Hồ thì Hồ Quý Ly đã tổ chức làm gộp hộ tịch trong cả nước, nhưng không

hàng chục năm và được thực hiện hết sức chặt chẽ nhằm phục vụ cho mục đích
củng cố chính quyền thuộc địa.
1.2.3. Quản lý hộ tịch của Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng
Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, sự nghiệp cách mạng
phải đối phó với trăm mối thù trong giặc ngoài, trong hoàn cảnh đó Hồ Chí Minh đã
quyết định tạm thời duy trì hiệu lực các Luật lệ của chế độ cũ theo nguyên tắc:
“không trái với nền độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa”8 .
Do đó các Luật lệ của chế độ cũ tiếp tục được thi hành trong suốt thời gian hơn 10
năm. Đến ngày 08/05/1956 Thủ tướng Chính phủ ra một Điều lệ mới kèm theo
Nghị định 764/TTg nhằm thay thế toàn bộ các thể lệ đăng ký hộ tịch của chế độ cũ.
Bản Điều lệ này: “gồm 34 Điều, qui định các vấn đề cơ bản về việc đăng ký khai
sinh, đăng ký kết hôn, đăng ký khai tử, việc sửa chữa và ghi chú các thay đổi về hộ
tịch, việc đăng ký và công nhận hộ tịch đối với ngoại Kiều và Việt Kiều về cư trú ở
trong nước”. Bản Điều lệ này thi hành được 5 năm thì bãi bỏ và thay thế bằng bản
Điều lệ mới ban hành ngày 16/01/1961 và hiệu lực của nó được duy trì trong suốt
gần 40 năm sau. Đến ngày 10/10/1998, Chính phủ ban hành Nghị định số
83/1998/NĐ-CP về đăng ký hộ tịch thì bãi bỏ các văn bản về hộ tịch trước đó.
Đến ngày 01/04/2006 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP qui định về đăng ký và
quản lý hộ tịch, có hiệu lực đã thay thế Nghị định số 83/1998/NĐ-CP. Nghị định
8

Điều 12 Sắc lệnh ngày 10.10.1945 của Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa.

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

10

SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên


Thứ nhất, quản lý hộ tịch là cơ sở để Nhà nước hoạch định các chính sách phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng,…và tổ chức thực hiện có hiệu
quả các chính sách đó. Thông tin về hộ tịch ngày càng đầy đủ, chính xác, kịp thời sẽ
là nguồn tài sản thông tin hết sức quý giá hỗ trợ đắc lực cho việc hoạch định các
chính sách xã hội một cách chính xác, có tính khả thi, tiết kiệm chi phí xã hội.
Ví dụ: Trên địa bàn một đơn vị cấp xã, khi cần triển khai các chính sách cộng
đồng liên quan đến dân cư về: chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, phổ cập giáo
dục, thống kê số lượng thanh niên trong tuổi đoàn, hôn nhân và gia đình,…thì chính
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

11

SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên


Đề tài: Đăng ký và quản lý hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã

quyền thường căn cứ vào các sổ hộ tịch đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn….để xác
định đối tượng và triển khai các biện pháp phù hợp với đặc điểm dân cư trong xã.
Thứ hai, hoạt động đăng ký và quản lý hộ tịch thể hiện tập trung nhất, sự tôn
trọng của Nhà nước đối với việc thực hiện một số quyền nhân thân cơ bản của công
dân như: quyền đối với họ và tên, quyền thay đổi họ tên, quyền xác định dân tộc,
quyền được khai sinh, quyền được khai tử, quyền kết hôn, quyền ly hôn, quyền
được nuôi con nuôi và được nhận làm con nuôi, quyền đối với quốc tịch…đã được
ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992, Bộ luật dân sự năm 1995 và đến Bộ luật dân
sự năm 2005 tiếp tục khẳng định lại.Ở phương diện này, một mặt, đăng ký hộ tịch
chính là để người dân thực hiện, hưởng thụ các quyền nhân thân đó, mặt khác, các
thông tin về căn cước của mỗi cá nhân thể hiện trên giấy tờ hộ tịch (giấy khai sinh,
giấy chứng nhận kết hôn…) là sự khẳng định có giá trị pháp lý về đặc điểm nhân
thân của mỗi người, mà qua đó, các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thể đánh giá


1.4. Mục đích, ý nghĩa của đăng ký và quản lý hộ tịch.
Nghị định số 158/2005/NĐ-CP tại Điều 1 qui định các sự kiện hộ tịch là:
“những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra
đến khi chết”. Tình trạng nhân thân đó được thể hiện bởi các yếu tố và các mối quan
hệ như: họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, dân tộc, quốc tịch, quan hệ chacon, mẹ-con, ông-cháu, bà-cháu, anh, chị, em, quan hệ vợ chồng…Vì vậy, đăng ký
và quản lý hộ tịch có ý nghĩa rất quan trọng xét theo hai phương diện chủ yếu sau
đây:
a. Phương diện bảo hộ các quyền nhân thân của cá nhân.
Việc đăng ký hộ tịch là công việc giúp cho công dân có các giấy tờ xác nhận
của Nhà nước về hộ tịch, trên cơ sở đó Nhà nước có trách nhiệm bảo hộ các
quan hệ đó.
Ví dụ: Việc kết hôn của hai người nếu đã được đăng ký tại cơ quan hộ
tịch có thẩm quyền thì họ được Nhà nước công nhận là vợ - chồng, quan hệ
hôn nhân và quan hệ gia đình của họ được Nhà nước bảo hộ. Mọi hành vi
xâm phạm đến quan hệ hôn nhân và gia đình này sẽ bị Nhà nước xử lý.
b. Đăng ký hộ tịch là phương thức để Nhà nước quản lý dân cư đồng thời phục
vụ cho các hoạt động quản lý trong các lĩnh vực quan trọng khác như: an
ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, giáo dục, y tế, dân số - kế hoạch
hóa gia đình…Các số liệu thống kê về hộ tịch là rất cần thiết cho hoạt động
nghiên cứu khoa học, hoạch định chính sách kinh tế - xã hội…
Chính vì vậy, đăng ký hộ tịch vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ của mỗi người.
1.5. Mối liên hệ giữa “đăng ký hộ tịch” và “đăng ký hộ khẩu”.
Thực tế cho thấy, người dân còn nhầm lẫn giữa khái niệm “hộ tịch” và “hộ
khẩu” cũng như giữa hoạt động “đăng ký hộ tịch” và “đăng ký hộ khẩu”. Đăng ký
và quản lý hộ khẩu là biện pháp quản lý hành chính của Nhà nước nhằm xác định
việc cư trú của một công dân, đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, tăng
cường quản lý xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đăng ký và
quản lý hộ khẩu là thực hiện những công việc sau đây: đăng ký và quản lý thường
trú; đăng ký và quản lý tạm trú; đăng ký và quản lý tạm vắng; đăng ký bổ sung, điều


14

SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên


Đề tài: Đăng ký và quản lý hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã

CHƯƠNG 2
CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH CẤP XÃ
Trong chương này, người viết trình bày những qui định của pháp luật về đăng
ký và quản lý hộ tịch. Bên cạnh đó người viết cũng phân tích, so sánh, nhận xét,
những qui định này để làm sáng tỏ vấn đề.
2.1. Cơ quan đăng ký và quản lý hộ tịch cấp xã.
2.1.1. Ủy ban nhân dân cấp xã.
Là cấp hành chính cơ sở, nên trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về hộ tịch, Ủy
ban nhân dân cấp xã có những nhiệm vụ và quyền hạn, được qui định tại điều 79
Nghị định 158/2005/NĐ-CP như sau:
- Thực hiện đăng ký các việc hộ tịch thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp
xã;
- Tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân chấp hành các qui định của pháp luật
về hộ tịch;
- Quản lý, sử dụng các loại sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch theo qui định của Bộ Tư
pháp;
- Lưu trữ sổ hộ tịch, giấy tờ hộ tịch;
- Cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch;
- Tổng hợp tình hình và số liệu thống kê hộ tịch báo cáo Ủy ban nhân dân cấp
huyện theo định kỳ sáu tháng và hàng năm;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm về hộ tịch theo thẩm quyền;
2.1.2. Ban Tư pháp xã.

a. Tiêu chuẩn.
Quyết định số 04/04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ trưởng Bộ
Nội Vụ (về việc ban hành qui định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ , công chức xã,
phường, thị trấn) qui định về tiêu chuẩn của công chức Tư pháp hộ tịch như sau:
Tuổi đời: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.
Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng và đô
thị; tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi.
Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận
chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên.
Chuyên môn nghiệp vụ: Ở khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp Luật trở
lên và phải qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ tư pháp cấp xã sau khi được tuyển
dụng. Ở khu vực đồng bằng và đô thị phải sử dụng được kỹ thuật tin học
trong công tác chuyên môn. Với công chức đang công tác ở khu vực miền
núi hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ tư pháp cấp xã;
nếu mới được tuyển dụng lần đầu phải có trình độ trung cấp luật trở lên. Phải
qua bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước sau khi được tuyển dụng.
Để phù hợp với Quyết định số 04/04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ
trưởng Bộ Nội Vụ (về việc ban hành qui định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ ,
công chức xã, phường, thị trấn) thì Nghị định 158/2005/NĐ-CP qui định Cán bộ
tư pháp hộ tịch phải có đủ các tiêu chuẩn của Cán bộ công chức cấp xã theo qui
định của pháp luật về Cán bộ công chức và phải có thêm các tiêu chuẩn sau:
Có bằng tốt nghiệp trung cấp Luật trở lên;
Được bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác hộ tịch;
Chữ viết rõ ràng;
Qui định của Nghị định này không phân biệt trình độ theo từng vùng miền, mặc
dù giữa hai văn bản (Quyết định số 04/04/2004/QĐ-BNV và Nghị định
158/2005/NĐ-CP) ban hành có hiệu lực cách nhau khoản 2 năm điều đó cũng
khẳng định rằng trình độ của cán bộ cấp xã ngày càng được nâng lên, đặc biệt là
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc


xoáy mạnh vào nghiệp vụ hộ tịch của người cán bộ hộ tịch như ở Nghị định
158/2005/NĐ-CP.
c. Nhiệm vụ, quyền hạn Cán bộ Tư pháp hộ tịch.
Trong đăng ký và quản lý hộ tịch, Cán bộ Tư pháp hộ tịch giúp Ủy ban nhân
dân cấp xã thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
• Thụ lý hồ sơ, kiểm tra, xác minh và đề xuất với Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp xã xem xét việc đăng ký hộ tịch.
• Thường xuyên kiểm tra và vận động nhân dân đi đăng ký kịp thời các sự kiện
hộ tịch. Đối với những khu vực mà người dân còn chi phối bởi phong tục,
tập quán hoặc điều kiện đi lại khó khăn, Cán bộ Tư pháp hộ tịch phải có lịch
định kỳ đến tận nhà dân để đăng ký những sự kiện hộ tịch đã phát sinh. Cán
bộ Tư pháp hộ tịch phải chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân cấp xã về
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

17

SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên


Đề tài: Đăng ký và quản lý hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã

những sự kiện hộ tịch đã phát sinh trên địa bàn xã, phường, thị trấn mà
không được đăng ký.
• Sử dụng các loại sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch theo qui định của Bộ Tư pháp.
• Tổng hợp tình hình và thống kê chính xác số liệu hộ tịch để Ủy ban nhân dân
cấp xã báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện theo định kỳ 6 tháng hoặc hàng
năm.
• Tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân chấp hành các qui định của pháp
luật về hộ tịch.
• Giữ gìn, bảo quản, lưu trữ sổ hộ tịch và giấy tờ hộ tịch; khi thôi giữ chức vụ

SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên


Đề tài: Đăng ký và quản lý hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã

Khi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ.
Trong trường hợp cả hai bên nam, nữ là công dân Việt nam đang trong thời hạn
công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn, đã cắt hộ khẩu
thường trú trong nước, thì việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại Ủy ban nhân dân
cấp xã, nơi cư trú trước khi xuất cảnh của một trong hai bên nam, nữ. (Thẩm quyền
này được áp dụng trong trường hợp đăng ký lại việc kết hôn)
Khi đăng ký khai tử, tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người
chết. Trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết, thì Ủy
ban nhân dân xã nơi người đó chết thực hiện việc đăng ký khai tử. (Thẩm quyền này
được áp dụng trong trường hợp đăng ký quá hạn, đăng ký lại việc tử).
Khi đăng ký nuôi con nuôi, tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người
nhận con nuôi. Trường hợp, trẻ bị bỏ rơi được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân
dân cấp xã, nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ bị bỏ rơi đăng ký việc nuôi con
nuôi; nếu trẻ em đã đó được đưa vào cơ sở nuôi dưỡng, thì Ủy ban nhân dân xã, nơi
có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng đăng ký việc nuôi con nuôi. (Thẩm quyền này được
áp dụng trong trường hợp đăng ký lại việc nuôi con nuôi).
Khi đăng ký việc giám hộ, tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người giám
hộ hoặc nơi có trụ sở của cơ quan, tổ chức đảm nhận giám hộ thực hiện đăng ký
việc giám hộ và Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký việc giám hộ thì thực hiện
đăng ký chấm dứt việc giám hộ.
Khi đăng ký việc nhận cha, mẹ, con tại, Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của
người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con.
• Theo Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/07/2002 của Chính phủ qui định
chi tiết một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình về quan hệ hôn nhân và
gia đình có yếu tố nước ngoài thì Ủy ban nhân cấp xã thuộc khu vực biên

người nước ngoài hoặc người không quốc tịch cư trú ổn định lâu dài tại Việt
Nam được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người mẹ
hoặc người cha. Thẩm quyền đăng ký khai sinh theo nơi cư trú của người
mẹ hoặc người cha được xác định như đối với việc đăng ký khai sinh cho
trẻ em sinh ra tại Việt Nam, có cha và mẹ là công dân Việt Nam cư trú ở
trong nước.
Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam, có cha hoặc mẹ là
người nước ngoài, người không quốc tịch cư trú ổn định lâu dài tại Việt
Nam, còn người kia là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước, được thực
hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người là công dân Việt
Nam.
Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam, có cha hoặc mẹ là
công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới, còn người kia là công
dân của nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam, được
thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người là công dân Việt
Nam.
2.3. Thủ tục đăng ký hộ tịch cấp xã.
2.3.1. Thủ tục đăng ký khai sinh
a. Đăng ký khai sinh đúng hạn:
Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi đăng ký
khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người
thân thích10 khác đi khai sinh cho trẻ em.

9

Thông tư 01/2008/TT-BTP hướng dẫn thực hiện một số qui định của Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng
ký và quản lý hộ tịch

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc


• Phần khai về người cha của trẻ trong Giấy khai sinh, Sổ đăng ký khai sinh phải
để trống, không được gạch chéo;
• Chỉ ghi thông tin về người cha khi người cha đã có Quyết định công nhận việc
cha nhận con;
• Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú mà có người nhận là
cha đứa trẻ, thì Ủy ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng
ký khai sinh.
Đăng ký khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi:
• Người phát hiện trẻ sơ sinh bị bỏ rơi có trách nhiệm bảo vệ trẻ và báo ngay cho
Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an xã, phường, thị trấn, nơi trẻ bị bỏ rơi để
lập biên bản và tìm người hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ đó;
10

Nghị quyết 01/2005/HĐTP-TANDTC hướng dẫn thi hành một số qui định trong phần thứ nhất “những qui
định chung” của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004, có giải thích về người thân thích.

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

21

SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên


Đề tài: Đăng ký và quản lý hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã

• Ủy ban nhân xã, nơi lập biên bản có trách nhiệm thông báo trên Đài phát thanh
hoặc Đài truyền hình địa phương để tìm cha, mẹ đẻ của trẻ. Đài phát thanh hoặc
Đài truyền hình có trách nhiệm thông báo miễn phí 3 lần trong 3 ngày liên tiếp
các thông tin về trẻ sơ sinh bị bỏ rơi. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo
cuối cùng, nếu không tìm thấy cha đẻ, mẹ đẻ, thì người hoặc tổ chức đang tạm

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

22

SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên


Đề tài: Đăng ký và quản lý hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã

chính Giấy chứng nhận kết hôn. Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn được cấp theo
yêu cầu của vợ, chồng.
2.3.3. Thủ tục đăng ký khai tử
a. Đăng ký khai tử đúng hạn:
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày chết, thân nhân của người chết có trách nhiệm
đi khai tử; nếu người chết không có than nhân, thì chủ nhà hoặc người có trách
nhiệm của cơ quan, đơn vị tổ chức, nơi người đó cư trú hoặc công tác trước khi chết
đi khai tử.
Bước 1: Người đi khai sinh phải nộp giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay cho giấy
báo tử.(Giấy báo tử phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của người chết; giờ, ngày, tháng,
năm chết; địa điểm chết và nguyên nhân chết). Trường hợp người chết không có
thân nhân thì Giấy báo tử được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi có thẩm quyền
đăng ký khai tử.


Đối với người chết tại bệnh viện hoặc tại cơ sở y tế, thì Giám đốc bệnh viện
hoặc người phụ trách cơ sở y tế đó cấp Giấy báo tử;



Đối với người cư trú ở một nơi, nhưng chết ở nơi khác, ngoài cơ sở y tế, thì



Trường hợp một người chết có nghi vấn, thì văn bản xác định nguyên nhân
chết của cơ quan Công an hoặc của cơ quan y tế cấp huyện trở lên thay cho
Giấy báo tử;



Đối với người chết trên phương tiện giao thông, thì người chỉ huy hoặc điều
khiển phương tiện giao thông phải lập biên bản xác nhận việc chết, có chữ ký

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

23

SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên


Đề tài: Đăng ký và quản lý hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã

của ít nhất hai người cùng đi trên phương tiện giao thông đó. Biên bản xác
nhận việc chết thay cho Giấy báo tử;
Đối với người chết tại nhà ở nơi cư trú, thì văn bản xác nhận việc chết của
người làm chứng thay cho Giấy báo tử.
Bước 2: Sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ, Cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ
đăng ký khai tử và Giấy khai tử.
Bước 3: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho người đi khai tử một bản


chính Giấy khai tử. Bản sao Giấy khai tử được cấp theo yêu cầu của người đi khai

24

SVTH: Nguyễn Thị Kim Liên


Đề tài: Đăng ký và quản lý hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã

Khi đăng ký việc giám hộ, người cử giám hộ và người được cử làm giám hộ phải có
mặt.
Bước 3: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho người giám hộ và người cử
giám hộ mỗi bên một bản chính Quyết định công nhận việc giám hộ. Bản sao Quyết
định công nhận việc giám hộ được cấp theo yêu cầu của người giám hộ và người cử
giám hộ.
2.3.6. Thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con.
Bước 1: Người nhận cha, mẹ, con phải:
-Nộp tờ khai (theo mẫu qui định).
-Xuất trình Giấy khai sinh (bản chính hoặc bản sao) của người con. Các giấy tờ, đồ
vật hoặc các chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con (nếu có).
Bước 2: Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy việc
nhận cha, mẹ, con là đúng sự thật và không tranh chấp thì Cán bộ Tư pháp hộ tịch
ghi vào sổ đăng ký việc nhận cha, mẹ, con và Quyết định công nhận việc nhận cha,
mẹ, con. Khi đăng ký việc nhận cha, mẹ, con các bên cha, mẹ, con phải có mặt, trừ
trường hợp người được nhận là cha hoặc mẹ đã chết.
Bước 3: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bên một bản chính
Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con. Bản sao Quyết định công nhận được
cấp theo yêu cầu của các bên.
2.3.7. Thủ tục đăng ký việc thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch.
Bước 1: Người có yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch phải:
-Nộp tờ khai (theo mẫu qui định).
-Xuất trình bản chính Giấy khai sinh của người cần thay đổi, cải chính hộ tịch và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status