LUẬN văn LUẬT HÀNH CHÍNH VI PHẠM HÀNH CHÍNH về GIAO THÔNG ĐƯỜNG bộ TRONG đoàn VIÊN THANH NIÊN - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ 
KHOA LUẬT 
BỘ MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH 
­­­­­o0o­­­­­ 

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP LUẬT 
Tên đề tài: 

VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ GIAO 
THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRONG ĐOÀN 
VIÊN THANH NIÊN 

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 
SVTH: Bùi Trung Hiến 
MSSV: 5054758 
Lớp     : Luật hành chính K31 

Cần Thơ 11/2008


NHÂN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN 

............................................................................................................................... 
............................................................................................................................... 
............................................................................................................................... 
............................................................................................................................... 
............................................................................................................................... 
............................................................................................................................... 
............................................................................................................................... 
............................................................................................................................... 
............................................................................................................................... 

............................................................................................................................... 
...............................................................................................................................


Đề tài: “Vi phạm hành chính về giao thông đường bộ trong Đoàn viên thanh niên” 

Mục Lục 
LỜI NÓI ĐẦU ....................................................................................................... 1 
CHƯƠNG 1 ........................................................................................................... 4 
KHÁI NIỆM CHUNG VỀ VI PHẠM HÀNH CHÍNH........................................ 4 
1.1 Khái niệm về vi phạm hành chính. ................................................................................. 4 
1.1.1 Khái niệm.................................................................................................................. 4 
1.1.2 Đặc điểm cơ bản của vi phạm hành chính. ............................................................. 5 
1.1.3 Các dấu hiệu pháp lý của vi phạm hành chính. ...................................................... 5 
1.2 Vi phạm hành chính về giao thông đường bộ trong Đoàn viên Thanh niên................ 8 
1.2.1 Khái niệm.................................................................................................................. 8 
1.2.2. Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính................................................................ 9 
1.2.3 Đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính. ................................................................. 9 
1.2.4 Hình thức xử phạt vi phạm hành chính:................................................................ 10 

CHƯƠNG 2 ......................................................................................................... 12 
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ. 
.............................................................................................................................. 12 
2.1 Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. ..................... 12 
2.1.1 Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ:.............. 12 
2.1.2 Các vi phạm hành chính trong Đoàn viên thanh niên: ......................................... 14 
2.2 Thẩm quyền xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. ..................... 15 
2.3. Xử lý vi phạm hình sự trong lĩnh vực giao thông đường bộ...................................... 16 
2.3.1 Các tội liên quan đến an toàn giao thông đường bộ theo Bộ luật hình sự năm 
1999. ................................................................................................................................. 16 


Đề tài: “Vi phạm hành chính về giao thông đường bộ trong Đoàn viên thanh niên” 

LỜI NÓI ĐẦU 
1. Tính cấp thiết của đề tài: 
Lịch sử phát triển của xã hội loài người, có thể nói từ khi còn sơ khai cho đến 
xã hội văn minh như ngày nay đều gắn bó chặt chẽ với hoạt động giao thông đường 
bộ. Trong những năm qua, cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, Đảng và Nhà 
nước ta đã chú trọng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, phương tiện giao 
thông, ban hành các văn bản pháp luật về giao thông vận tải và trật tự an toàn giao 
thông. 
Ngày nay, toàn cầu hóa kinh tế là xu hướng khách quan, lôi cuốn các nước bao 
trùm  hầu  hết  các  lĩnh  vực  kinh  tế,  xã  hội,  vừa  thúc  đẩy  hợp  tác,  vừa  tăng  sức ép 
cạnh tranh và tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế. Một trong những nguyên 
nhân thúc đẩy toàn cầu hóa kinh tế chính là nhờ sự phát triển không ngừng của giao 
thông  đường  bộ.  Sự  phát  triển  của  giao  thông  vận  tải  đã  góp  phần  thúc  đẩy  phát 
triển kinh tế xã hội, mang lại những thành tựu đáng kể, ví dụ như việc Việt Nam là 
thành viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc, hay việc Việt 
Nam gia nhập vào WTO, đăng cay cuộc thi hoa hậu hoàn vũ thế giới,… Song song 
với  việc  phát  triển  không  ngừng  của  giao  thông  vận  tải  nói  chung  và  giao  thông 
đường bộ nói riêng thì tình hình trật tự an toàn giao thông có nhiều diễn biến phức 
tạp: Phương tiện giao thông tăng nhanh, nhất là xe môtô, xe máy trong khi kết cấu 
hạ tầng giao thông chưa đáp  ứng được  nhu cầu đi lại của người dân, ý thức chấp 
hành luật lệ giao thông của người dân còn thấp, tình hình tai nạn giao thông còn khá 
phổ biến; tình trạng ùn tắc giao thông trong giờ cao điểm còn xảy ra ở nhiều tuyến 
đường trên Quốc lộ 1A và đặc biệt là tình hình vi phạm hành chính về an toàn giao 
thông trong lứa tuổi thanh thiếu niên ngày càng gia tăng. 
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến vấn đề gia tăng tai nạn giao thông, ùn tắc giao 
thông, ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông đường bộ trong đó có nguyên nhân 
hệ thống pháp luật về giao thông đường bộ chưa hoàn chỉnh, công tác tuyên truyền 

đường bộ. 
3. Mục đích: 
Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống các cơ sở lý luận – thực tiễn về vi 
phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Từ đó, chỉ ra những nguyên 
nhân gây ra vi phạm giao thông và hướng hoàn thiên cho đề tài, góp phần bảo vệ 
trật tự xã hội ngày càng chặt chẽ hơn, tăng cường ý thức của người dân trong việc 
chấp hành luật giao thông, hạn chế đến mức tối đa thiệt hại về người và của do vi 
phạm hành chính gây ra, tăng cường vai trò của pháp luật trong việc xử lý vi phạm. 
4. Ý nghĩa: 
Thực  tiễn  nghiên  cứu  của  đề  tài  thể  hiện  rõ  tình  hình  trật  tự  an  toàn  giao 
thông  và  kết  quả  đạt  được  trong  việc  xử  lý  vi  phạm  hành  chính  về  an  toàn  giao 
thông đường bộ trong Đoàn viên thanh niên. 
5. Phương pháp nghiên cứu: 
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở nền tảng của phương pháp duy vật biện 
chứng, kết hợp với thu thập  tài liệu, kết hợp phương pháp phân tích, thống kê, so 
sánh và một số phương pháp khác. 
6. Bố cục của luận văn: 
Bố cục của luận văn gồm: lời nói đầu, phần nội dung, phần kết luận và danh 
mục tài liệu tham khảo. Trong phần nội dung được chia làm ba chương: 
Chương 1: Khái niệm chung về vi phạm hành chính. 
Chương 2: Quy định chung về thẩm quyền xử phạt hành chính trong lĩnh vực 
giao thông đường bộ.

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 

SVTH: Bùi Trung Hiến 


Đề tài: “Vi phạm hành chính về giao thông đường bộ trong Đoàn viên thanh niên” 


Định nghĩa vi phạm hành chính lần đầu tiên được nêu ra trong Pháp lệnh Xử 
lý Vi phạm Hành chính ngày 30/11/1989, Điều 1 pháp lệnh này chỉ rõ: “ Vi phạm 
hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm 
phạm  quy  tắc  quản  lý  Nhà  nước  mà  không  phải  là  tội  phạm  hình  sự  và  theo  quy 
định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. 
Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính 1995 không trực tiếp đưa ra định nghĩa về 
vi  phạm  hành  chính  nhưng  khoản  2  Điều  1  của  Pháp  lệnh  này  đã  định  nghĩa  vi 
phạm hành chính một cách gián tiếp, theo đó “ Xử phạt vi phạm hành chính được áp 
dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản 
lý nhà nước mà  chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và  theo quy định của 
pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. 
Tại khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002, cũng quy định 
“ Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức ( sau 
đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 

SVTH: Bùi Trung Hiến 


Đề tài: “Vi phạm hành chính về giao thông đường bộ trong Đoàn viên thanh niên” 

của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của 
pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. 
Tuy  có  sự  khác  nhau  về  cách  diễn  đạt,  quan  niệm  về  vi  phạm  hành  chính 
trong  các  văn  bản  pháp  luật  nêu  trên  đều  thống nhất  với  nhau  về  những  dấu hiệu 
bản chất của loại vi phạm pháp luật này. Trên cơ sở những nội dung đã được nêu ra 
trong  hai  văn  bản  pháp  luật  nêu  trên,  có  thể  đưa  ra  định  nghĩa  về  vi  phạm  hành 
chính như sau: 
“Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý 

SVTH: Bùi Trung Hiến 


Đề tài: “Vi phạm hành chính về giao thông đường bộ trong Đoàn viên thanh niên” 

cấm hoặc không thực hiện những hành vi gì mà pháp luật quy định. Tính trái pháp 
luật của hành vi xét về maẹt hình thức nó thể hiện ở các dạng dưới đây: 
+ Làm một việc( hành động) mà pháp luật cấm không được làm. 
+ Không làm một việc mà pháp luật đòi hỏi phải làm( nghĩa vụ pháp lý). 
+ Sử dụng quyền hạn vượt quá giới hạn pháp luật cho phép. 
­ Hậu quả của hành vi trái pháp luật: Là trật tự quản lý nhà nước bị hành vi vi 
phạm  hành  chính  tác  động  tới,  gây  xâm  hại.  Tuy  nhiên,  do  đa  số  các  hành  vi  vi 
phạm hành chính là hành vi có cấu thành hình thức nên hậu quả phải được xem là 
trật tự đã vi phạm, chứ không có cần hậu quả nhất định nào đó trên thực tế. 
­ Quan hệ nhân quả: Là mối quan hệ giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu 
quả của vi phạm hành chính, trong đó hậu quả cuả vi phạm hành chính có tiền đề 
xuất hiện của nó là hành vi khách quan của vi phạm hành chính. Việc xác định mối 
quan hệ nhân quả cần phải có những căn cứ nhất định, cụ thể. 
Ngoài ra, còn có một số dấu hiệu khác như: địa điểm, thời gian, phương tiện, 
công cụ,…của vi phạm hành chính. Đây không phải là những dấu hiệu có ý nghĩa 
quyết định trong mọi cấu thành vi phạm. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ thể 
chúng sẽ trở thành dấu hiệu bắt buộc, có ý nghĩa, làm tăng hoặc giảm mức độ của 
hành vi vi phạm hành chính. 
b) Dấu hiệu trong mặt chủ quan 
Mặt chủ quan của vi phạm hành chính là quan hệ tâm lý bên trong, bao gồm 
các yếu tố: lỗi, mục đích, động cơ của vi phạm hành chính. 
+ Lỗi là trạng thái tâm lý của một người khi thực hiện hành vi vi phạm hành 
chính, biểu hiện thái độ của người đó đối với hành vi của mình. 
Lỗi trong vi phạm hành chính bao gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý 
+ Lỗi cố ý trong vi phạm hành chính: Là thái độ tâm lý của một người khi thực 

cùng lúc từ khi tổ chức đó có quyết định thành lập hoặc công nhận hoạt động hợp 
pháp. Vì  vậy,  cả  hai loại  năng  lực  này  cùng chấm  dứt khi  tổ  chức  chấm  dứt  hoạt 
động hoặc theo pháp luật, bị buộc phải chấm dứt hoạt động. 
Đối với cá nhân, năng lực pháp luật phát sinh khi cá nhân đó ra đời và mất đi 
khi cá  nhân đó  chết đi. Còn năng lực hành vi được  phát sinh sau khi có năng lực 
pháp  luật  mà  tự  mình  có  thể  nhận  thức  và  điều  khiển  hành  vi  bản  thân,  thể  hiện 
người  đó  thỏa  mãn  các  điều  kiện  luật  định; đạt  đến  một  độ  tuổi  nhất  định, không 
mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng điều khiển hành vi. Trong 
khi đó, độ tuổi có năng lực hành vi theo pháp lệnh vi phạm hành chính năm 1995 và 
năm 2002 ( điều 7)  được xác định như sau: 
+  Người  từ  đủ  16  tuổi  trở  lên  phải  chịu  trách  nhiệm  hành  chính  về  mọi  vi 
phạm hành chính do mình gây ra; 
+ Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ bị xử phạt hành chính đối với những vi 
phạm hành chính được thực hiện với lỗi cố ý. 
Riêng đối với cá  nhân, tổ  chức nước  ngoài được hưởng các quyền ưu đãi về 
ngoại giao, lãnh sự nếu họ vi phạm pháp luật hành chính thì việc xử lý hành chính 
của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao. 
d) Dấu hiệu về mặt khách thể 
Khách thể  của vi  phạm  hành  chính  là  các quy tắc  quản  lý  nhà nước  có  nội 
dung xã hội là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước được 
pháp luật quy định và bảo vệ. Còn hình thức pháp lý của chúng là các quy tắc xử sự 
mang tính bắt buộc chung, bao gồm: 
Khách thể chung: là các quan hệ xã hội phát sinh trong kĩnh vực quản lý nhà 
nước  hay  nói  cách  khác  là  trật  tự  quản  lý  nhà  nước  nói  chung.  Khách  thể  chung 
được thể hiện trong các quy phạm pháp luật tổng quát, có tính luật.

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 

SVTH: Bùi Trung Hiến 



Phường thường Thạnh 

965 

12.060 

8,0 % 

Quận Cái Răng 

20.486 

80.561 

25,4 % 

Thành Phố Cần Thơ 

86.120 

1.210.000 

7,1 % 

Toàn Quốc 

6.000.000 

86.000.000 

phạt tiền thì thẩm quyền xử phạt được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung 
tiền phạtquy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể. 
+ Trong trường hợp xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành 
chính thì thẩm quyền xử phạt được xác định theo nguyên tắc sau đây: 
­ Nếu hình thức, mức xử phạt được quy định đối với từng hành vi đều thuộc 
thẩm quyền của người xử phạt thì thẩm quyền vẫn thuộc người đó. 
­  Nếu hình  thức,  mức xử phạt được  quy định đối  với  một  trong các hành  vi 
vượt quá thẩm quyền của người xử phạt thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến 
cấp có thẩm quyền xử phạt. 
­ Trong trường hợp vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều 
người thì việc xử phạt do người thụ lý đầu tiên thực hiện. 
1.2.3 Đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính. 
Các đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính bao gồm: 
+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành 
chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi  trở lên bị xử phạt hành chính về mọi vi  phạm 
hành chính do mình gây ra. 
+ Quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện và 
những người  thuộc  lực  lượng  Công an  nhân  dân  vi  phạm  hành  chính  thì  bị  xử  lý 
như đối với các công dân khác; trong trường hợp cần áp dụng hình thức phạt tước 
quyền  sử  dụng  một  số  giấy  phép  hoạt  động  vì  mục  đích  quốc  phòng, an  ninh  thì 
người xử phạt không trực tiếp xử lý mà đề nghị cơ quan, đơn vị Quân đội, Công an 
có thẩm quyền xử lý theo điều lệnh kỷ luật; 
+ Tổ chức bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra. 
Sau khi chấp hành quyết định xử phạt, tổ chức bị xử phạt xác định cá nhân có lỗi 
gây ra vi phạm hành chính để xác định trách nhiệm pháp lý của người đó theo quy 
định của pháp luật; 
+  Cá  nhân,  tổ  chức  nước  ngoài  vi  phạm  hành  chính  trong  phạm  vi  lãnh  thổ 
Việt nam, Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ 
nghĩa Việt nam thì bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ


đường bộ nếu qua một năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc từ 
ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm thì được coi như 
chưa bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. 
1.2.4 Hình thức xử phạt vi phạm hành chính: 
Hình thức xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cà nhân, tổ chức 
vi phạm hành chính theo qui định của pháp luật. Đây là các hình thức được áp dụng, 
trước  hết  là  nhằm  trừng  phạt người  vi  phạm,  thông qua  đó  giáo dục  moi  người ý 
thức tuân thủ pháp luật, tôn trọng các quy tắc của đời sống cộng đồng, phòng ngừa 
các quy phạm pháp luật có thể xảy ra. 
Theo điều 5 nghị định  số 146/2007/NĐ­CP ngày  14  tháng 9 năm 2007 của 
Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thong đường 
bộ,  có  qui  định  hình  thức  xử  phạt  vi  phạm  hành  chính  trong  lĩnh  vực  giao  thong 
đường bộ như sau:

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 

SVTH: Bùi Trung Hiến 


Đề tài: “Vi phạm hành chính về giao thông đường bộ trong Đoàn viên thanh niên” 

1. Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường 
bộ được quy định tại Nghị định này, cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong 
các hình thức xử phạt chính sau đây: 
a) Phạt cảnh cáo; 
b) Phạt tiền. 
Khi áp dụng hình thức phạt tiền, mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi 
phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt quy định đối với hành vi 
đó; nếu vi phạm có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống thấp hơn 
mức trung bình nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu 

­ Vi phạm quy tắc giao thông đường bộ. 
­ Vi phạm về quy định kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. 
­ Vi phạm quy định về phương tiện tham gia giao thông đường bộ. 
­  Vi  phạm  quy  định  về  người  điều  khiển  phương  tiện  tham  gia  giao  thông 
đường bộ. 
­ Vi phạm quy định về vận tải đường bộ. 
­ Các vi phạm khác có liên quan đến giao thông đường bộ. 
Các hành vi vi phạm hành chính đó được quy định cụ thể như sau: 
+ Đối với hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ gồm có các hành vi 
sau: 
­  Chuyển  làn  đường  không  đúng  nơi  cho  phép  hoặc  không  có  tín  hiệu  báo 
trước. 
­ Quay đầu xe tại nơi cấm quay đầu xe, trên phần đường dành cho người đi 
bộ qua đường. 
­ Lùi xe ở đường một chiều, ở khu vực cấm dừng, trên phần đường dành cho 
người đi bộ qua đường, nơi đường bộ giao nhau, nơi đường bộ giao cắt đường sắt, 
nơi tầm nhìn bị che khuất, nơi cấm quay đầu xe, lùi xe không quan sát hoặc không 
có tín hiệu báo trước. 
­  Khi  dừng  xe,  đỗ  xe  không  có  tín  hiệu  báo  trước  cho  người  điều  khiển 
phương tiện khác biết. 
­ Dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy ở đoạn đường ngoài đô thị có lề 
đường rộng, dừng xe, đỗ xe không quan sát mép đường phía bên phải theo chiều đi 
ở nơi có lề  đường hẹp hoặc không có lề đường, dừng xe, đỗ xe không đúng vị trí 
quy định ở những đoạn đường ngoài đô thị đã có bố trí nơi dừng xe, đỗ xe, đỗ xe 
trên dốc không chèn bánh. 
­ Dừng  xe,  đỗ xe  tại  các  vị  trí,  bên  trái đường  một  chiều,  trên đoạn  đường 
cong  hoặc  gần  đầu  dốc  nơi  tầm  nhìn  bị  che  khuất,  trên  cầu,  gầm  cầu  vượt,  song 
song  với  một  xe  khác  đang  dừng  đỗ,  nơi  đường  giao  nhau,  điểm  dừng  đón,  trả

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 

+ Đối với hành vi vi phạm vi định về phương tiện tham gia giao thông đường 
bộ gồm các hành vi sau; 
­ Điều khiển xe không có đủ đèn chiếu sáng, đèn soi biển báo, đèn báo hãm, 
đèn  tín  hiệu,  cần  gạt  nước,  gương  chiếu  hậu,  đồng  hồ  báo  tốc  độ  của  xe  hoặc  có 
những  thứ  đó nhưng  không có  tác dụng,  không  đúng  tiêu  chuẩn  thiết  kế  (  nếu  có 
quy định phải có những thứ đó) hoặc lấp thêm đèn chiếu sáng xa phía sau xe. 
­ Điều  khiển xe  không có còi hoặc có nhưng  không đủ  tiêu chuẩn  kỹ  thuật 
cho từng loại xe. 
­ Điều khiển xe không có bộ phận giảm thanh hoặc có nhưng không đủ tiêu 
chuẩn kỹ thuật. 
­ Điều  khiển xe  không  gắn  đủ biển số hoặc gắn biển số  không đúng  vị  trí, 
biển số mờ, biển số bị bẻ cong, biển số bị che lấp, biển số hỏng.

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 

SVTH: Bùi Trung Hiến 


Đề tài: “Vi phạm hành chính về giao thông đường bộ trong Đoàn viên thanh niên” 

­ Điều khiển xe lấp bánh lốp không đúng kích cỡ hoặc không đảm bảo tiêu 
chuẩn kỹ thuật. 
­ Tự ý thay đổi kích thước thành thùng xe. 
­  Điều  khiển  xe  không  đủ  hệ  thống  hãm  hoặc  có  nhưng  không  đúng  tiêu 
chuẩn an toàn kỹ thuật. 
­ Hệ thống chuyển hướng của xe không đúng tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật. 
­ Sử dụng còi không đúng tiêu chuẩn kỹ thuật cho từng loại xe. 
­ Không có đèn chiếu xa, gần hoặc có nhưng không có tác dụng. 
+  Đối  với  hành  vi  vi  phạm  quy  định  về  người  điều  khiển  phương  tiện  khi 
tham gia giao thông đường bộ gồm các hành vi sau: 



Đề tài: “Vi phạm hành chính về giao thông đường bộ trong Đoàn viên thanh niên” 

+ Tổ chức đua xe trái phép. 
+ Chạy lạng lách, đánh võng, lôi kéo nhau trên đường. 
+ Chạy xe hàng 2, hàng 3 trên đường. 
+ Cản trở người thi hành công vụ. 
+ Tự ý thay đổi hình dáng, khung máy, màu sơn của xe. 
+ Chở quá số người quy định. 
+ Vượt đèn đỏ. 
+ Không theo hướng dẫn của người điều khiển giao thông. 

2.2 Thẩm quyền xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. 
Khác  với  việc  xét  sử  các  hành  vi  tội  phạm  mà  ở  đó  thẩm  quyền  thực  hiện 
công việc này được giao cho một cơ quan duy nhất là tòa án thực hiện, việc xử phạt 
vi  phạm  hành  chính  trong  lĩnh  vực  giao  thông  đường  bộ  được  giao  cho  nhiều  cơ 
quan, cán bộ có thẩm quyền khác nhau thực hiện. Theo quy định của pháp luật hiện 
hành cụ thể là tại điều 42 nghị định số 146/2007/NĐ­CP ngày 14­09­2007 của chính 
phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, thẩm 
quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc về các cơ quan sau: 
+ Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp, Trưởng công an các cấp. 
+ Lực lượng cảng sát giao thông đường bộ. 
+ Lực lượng Cảnh sát trật tự, Cảnh sát phản ứng nhanh, Cảnh sát cơ động, 
Cảnh sát quản lý hành chính. 
+ Lực lượng Thanh tra giao thông đường bộ. 
Đồng thời pháp luật cũng quy định thẩm quyền xử phạt hành chính cụ thể của 
mỗi cán bộ có thẩm quyền xử phạt trong các cơ quan này. 
Một điều đáng chú ý là, mức tiền phạt mà pháp luật quy định cho những người 
có thẩm quyền xử phạt như trên là mức phạt cho một hành vi vi phạm hành chính. 

sát quản lý hành chính về trật ự xã hộicó thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi 
phạm pháp luật. 
­ Lực lượng Thanh tra giao thông đường bộ có thẩm quyền xử phạt đối với các 
hành vi vi phạm của người và phương tiện tham gia giao thông, hoạt động vận tải 
đường bộ. 

2.3. Xử lý vi phạm hình sự trong lĩnh vực giao thông đường bộ. 
2.3.1 Các tội liên quan đến an toàn giao thông đường bộ theo Bộ luật hình sự 
năm 1999. 
Trong số 22 Điều của bộ luật hình sự năm 1999 quy định về các tội xâm phạm 
trật tự, an toàn giao thông đường bộ thì có 7 điều luật quy định về các tội xâm phạm 
trật tự, an toàn giao thông đường bộ, cụ thể: 
­  Tội  quy  phạm  quy  định  về  điều  khiển  phương  tiện  giao  thông  đường  bộ 
(Điều 202). 
­ Tội cản trở giao thông đường bộ (Điều 203). 
­ Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an 
toàn (Điều 204). 
­  Tội  điều  động  hoặc  giao  cho  người  không  đủ  điều  kiện  điều  khiển  các 
phương tiện giao thông đường bộ (Điều 205). 
­ Tội tổ chức đua xe trái phép (Điều 206). 
­ Tội đua xe trái phép (Điều 207). 
­Tội vi phạm quy định về duy tu, sữa chữa, quản lý các công trình giao thông 
(Điều 220).

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 

SVTH: Bùi Trung Hiến 


Đề tài: “Vi phạm hành chính về giao thông đường bộ trong Đoàn viên thanh niên” 

như: cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền. 
2.3.3 Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 
trong Bộ luật hình sự 1999. 
Điều  202  Bộ  luật  hình  sự  năm  1999  quy  định  tội  phạm  quy  định  về  điều 
khiển phương tiện giao thông đường bộ như sau: 
+ Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ  mà  vi phạm quy 
định về an toàn giao thông đường bộ mà gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt 
hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 

SVTH: Bùi Trung Hiến 


Đề tài: “Vi phạm hành chính về giao thông đường bộ trong Đoàn viên thanh niên” 

đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 
sáu tháng đến năm năm. 
+ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm 
đến mười năm’ 
­ Không có giấy phép lái xe hoặc bằng lái xe theo quy định; 
­ Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác; 
­ Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp 
người bị nạn; 
­ Không chấp  hành hiệu  lệnh  của ngưòi đang  làm nhiệm  vụ  điều khiển hoặc 
hướng dẫn giao thông. 
­ Gây hậu quả rất nghiêm trọng. 
+ Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì biọ phạt tù từ bảy năm đến 
mười lăm năm. 
+ Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế 
dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặng kịp thời, thì bị 

Tại điều 5 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 có quy định về giám sát, 
kiểm tra trong xử lý vi phạm hành chính cụ thể như sau: 
­ Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Hội đồng nhân dân trong phạm 
vi  nhiệm  vụ,  quyền hạn  của  mình  giám  sát  việc  thi  hành pháp  luật  trong xử  lý  vi 
phạm hành chính. 
­ Thủ trưởng cơ quan Nhà nước có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra việc xử 
lý  vi  phạm  hành chính của người  có  thẩm  quyền xử  lý  vi phạm  hành chính  thuộc 
phạm vi quản lý của mình, kịp thời xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, 
tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 

SVTH: Bùi Trung Hiến 


Đề tài: “Vi phạm hành chính về giao thông đường bộ trong Đoàn viên thanh niên” 

CHƯƠNG 3 
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 
Ở QUẬN CÁI RĂNG 

3.1 Thực trạng về an toàn giao thông đường bộ ở Quận Cái Răng. 
Trong những năm  qua,  đặc biệt  là  từ khi chính phủ ban hành  Nghị  Quyết số 
32/2007/NQ­CP  ngày  29­06­2007  của  chính  phủ  về  một  số  giải  pháp  cấp  bách 
nhằm  kiềm  chế  tai  nạn  giao  thông  và  ùn  tắc  giao  thông  và  Nghị  Định  số 
146/2007/NĐ­CP ngày  14/09/2007  về  xử phạt  vi  phạm  hành chính  trong  lĩnh  vực 
giao thông đường bộ, thì các ngành hữu quan, các địa phương, các tổ chức chính trị, 
các  đoàn  thể  của  Mặt  trận  Tổ  quốc  Việt  Nam  đã  tăng  cường  công  tác  giáo  dục, 
tuyên truyền về trật tự an toàn giao thông  trong cả nưóc nói chung, ở Thành Phố 
Cần Thơ và ở Quận Cái Răng nói riêng. Thì ý thức chấp hành pháp luật về trật tự an 


508 



528 



374 



409 

+35 

150 



568 

+159 

130 

­20 

22.9% 

+20 
­154 


vi 

37.8% 

206 

­68 

40.55% 

190 

­16 

35.9% 

84 

­106 

22.5% 

+66 

36.7% 


giao thông đường bộ ở Quận Cái Răng đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện 
có hiệu quả Luật giao thông đường bộ và các Nghị định của chính phủ về bảo đảm 
trật tự an toàn giao thông đường bộ ở Thành phố cần thơ nói riêng và cả nước nói 
chung. 
3.1.1 Tình hình chấp hành pháp luật về an toàn giao thông đường bộ ở Quận 
Cái Răng trong Đoàn viên thanh niên. 
Từ kết quả của công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức từ nhiều phía và đặc biệt 
là ý thức chấp hành luật lệ an toàn giao thông đường bộ của Đoàn viên thanh niên ở 
quận cái răng là khá cao cho nên trong tất cả các vụ vi phạm hành chính về trật tự 
an  toàn  giao  thông  đường bộ  trong quận  thì  số  lượt  vi  phạm  của đoàn  viên  thanh 
niên quận nhà là rất ít, cụ thể như sau:

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 

SVTH: Bùi Trung Hiến 


Đề tài: “Vi phạm hành chính về giao thông đường bộ trong Đoàn viên thanh niên” 

Tháng 

Tổng số  Số lượt vi 

Tăng 

Số lượt vi 

Tăng 

Tỉ lệ % 

quận 

chiếm 



274 

31 

243 

11.3% 



206 

25 

­06 

181 

+38 

12.1% 




25 

­03 

125 

+69 

16.7% 



130 

23 

­02 

107 

­18 

17.7% 



110 

27 


148 

­07 

12.9% 

Báo cáo tình hình vi phạm trật tự an toàn giao thông ở quận Cái Răng 
trong 09 tháng đầu năm 2008 
Trong  09  tháng  đầu  năm  2008  tổng  số  lượt  vi  phạm  về  trật  tự  an  toàn  giao 
thông  đường  bộ  ở  Quận  Cái  Răng  là  1494  trường  hợp,  trong  đó  thanh  niên  trong 
quận chiếm 232 trường hợp, còn lại thanh niên ngoài quận chiếm 1262 trường hợp. 
Qua kết quả đó cho ta thấy được tỷ lệ vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ 
trong đoàn viên trong quận cái răng chiếm một tỉ lệ rất nhỏ cụ thể như trong 1494 
trường hợp vi phạm của thanh niên thì thanh niên quận chiếm 15.5% trong tổng số 
lượt vi phạm. Đây là một tỷ lệ đáng khích lệ cho Quận Cái Răng trong công tác thực 
hiện an toàn giao thông. 
Phân tích 303 trường hợp vi phạm an toàn giao thông đường bộ trong tháng 09 
năm 2008 ở quận cái răng cho chúng ta thấy được hầu hết các lỗi vi phạm đều do ý 
thức chủ quan xem thường pháp luật, trong đó có các lỗi cụ thể như sau: 
­ Không giấy phép lái xe: 06 trường hợp 
­ Điều khiển xe chạy quá tốc độ cho phép: 150 trường hợp 
­ Sử dụng rượu bia quá nồng độ cho phép: 07 trường hợp 
­ Xe chở quá số người quy định: 09 trường hợp 
­ Không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông: 60 trường hợp 
­ Đi vào đường cấm: 02 trường hợp 
­ Thiết bị không bảo đảm an toàn: 09 trường hợp 
­ Lạng lách đánh võng: 01 trường hợp
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc 

SVTH: Bùi Trung Hiến 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status