LUẬN VĂN: Sai lệch xã hội của người tham gia giao
thông đường bộ tại thành phố Hà Nội Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
sự thiếu ý thức trong việc chấp hành pháp luật giao thông của các đối tượng tham gia
giao thông. “Nếu so sánh với tháng 8 đầu năm 2004 thì tháng 8 đầu năm 2005 tai nạn
giao thông đường bộ xảy ra 14.314 vụ (tăng 1,6%), làm chết 4.499 người (tăng 7,4%) và
bị thương 16.423 người (tăng 12%). Chỉ tính trong 15 ngày đầu của tháng 9/2005 (tháng
an toàn giao thông) trung bình mỗi ngày xảy ra 46,7 vụ, làm chết và bị thương 52,4
người” [14, tr.3]. Đối với thủ đô Hà Nội, do chiếm vị trí trọng yếu trung tâm kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội của một quốc gia, hoạt động giao thông tại thủ đô Hà Nội giữ
vai trò hết sức quan trọng. Thông qua hoạt động giao thông tại thủ đô Hà Nội có thể đánh
giá trình độ phát triển của nền kinh tế, xã hội của đất nước. Vì vậy, đảm bảo trật tự an
toàn giao thông tại thủ đô Hà Nội luôn là yêu cầu hết sức cấp thiết của Đảng, của ngành,
các cấp, của toàn bộ nhân dân đang sống và làm việc tại thủ đô. Thế nhưng, trật tự an
toàn giao thông đường bộ tại thủ đô Hà Nội hiện nay đang gây nhiều lo lắng đối với nhân
dân thủ đô. Tình trạng vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ ngày một
tăng; ý thức tuân thủ các quy tắc trong hoạt động giao thông của những người điều khiển
các phương tiện giao thông còn kém, tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng không
giảm. “Chỉ tính trong năm 2005, tại thành phố Hà Nội đã xảy ra 2.350 vụ tai nạn giao
thông đường bộ làm 413 người chết và 2.213 người bị thương. Lực lượng Cảnh sát giao
thông đã kiểm tra xử lý 41.891 trường hợp vi phạm Luật giao thông, tạm giữ 3.926 lượt
phương tiện vi phạm” [9, tr.6]. Thêm vào đó, tình trạng đua xe máy, đánh võng, phóng
nhanh, vượt ẩu không tuân thủ quy định trật tự giao thông tại thủ đô đang gây nên những
nhức nhối cho xã hội.
Tất cả những vấn đề nêu trên đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách nghiêm túc về
thực trạng những sai lệch xã hội vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ
cũng như về các nguyên nhân, điều kiện của nó. Từ đó, mới có thể đưa ra các giải pháp
nhằm ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả với những sai lệch hiện nay trong hoạt động
giao thông đường bộ tại thủ đô Hà Nội.
Vì vậy, đề tài: “Sai lệch xã hội của người tham gia giao thông đường bộ tại thành
phố Hà Nội” có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng.
2. Tình hình nghiên cứu
Mô tả và phân tích thực trạng sai lệch xã hội trong hoạt động giao thông đường bộ
của những người tham gia giao thông ở thành phố Hà Nội. Trên cơ sở đó, đề xuất một số
giải pháp cơ bản nhằm phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả đối với những sai lệch của
người tham gia giao thông đường bộ tại thành phố Hà Nội.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích của đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra bao gồm:
- Làm rõ khái niệm “Sai lệch xã hội”, “Giao thông đường bộ”, “sai lệch xã hội của
người tham gia giao thông đường bộ” và một số khái niệm cơ bản của luật giao thông
đường bộ.
- Mô tả phân tích đánh giá thực trạng sai lệch xã hội của người tham gia đường bộ
tại thành phố Hà Nội về loại hình, quy mô, mức độ, tính chất và hậu quả của nó.
- Tìm hiểu những nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh những sai lệch xã hội của
người tham gia giao thông đường bộ tại thành phố Hà Nội.
- Đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản nhằm tăng cường cuộc đấu tranh phòng chống
sai lệch xã hội trên lĩnh vực giao thông đường bộ tại thành phố Hà Nội hiện nay.
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu sai lệch xã hội của người tham gia
giao thông đường bộ tại thành phố Hà Nội.
* Khách thể nghiên cứu: Người tham gia giao thông đường bộ.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Tìm hiểu thực trạng sai lệch xã hội của những người tham gia giao thông đường bộ
tại địa bàn thành phố Hà Nội.
- Không gian: Giao thông đường bộ ở thành phố Hà Nội
- Thời gian: 2005 - 2006
5. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
* Giả thuyết nghiên cứu
- Tình hình sai lệch xã hội của người tham gia giao thông đường bộ tại thành phố
Hà Nội đang diễn ra hết sức phức tạp và đa dạng, cả về loại hình lẫn cơ cấu, đặc điểm,
- Hoạt động phối hợp của các cơ quan, tổ chức xã hội về việc phòng ngừa sai lệch
trong hoạt động giao thông đường bộ: truyền thông đại chúng, cơ quan bảo vệ pháp luật.
+ Biến số can thiệp
Môi trường kinh tế - xã hội: Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ, quá trình đô thị
hóa, hiện đại hóa tại thành phố.
Khung lý thuyết nghiên cứu
Môi trường Kinh tế - xã
hội
- Cơ sở hạ tầng giao
thông đường bộ
-
Quá trình
đ
ô th
ị
hóa,
Đặc điể
m cá
nhân
+ Giới tí
nh,
độ tuổi
+ Trình độ
mô,
lo
ạ
i
Cơ cấu
Mức
độ
tính
Hậu
qu
ả
6. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
- Đề tài vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác-lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc phòng chống tội phạm và
những hiện tượng sai lệch xã hội trong hoạt động tham gia giao thông.
- Đề tài vận dụng lý thuyết và phương pháp tiếp cận của xã hội học về sai lệch
xã hội như: Lý thuyết phi quy tắc của E. DurKheim, Lý thuyết phi quy tắc của K.
Merton
* Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, luận văn
áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
+ Phương pháp phân tích tài liệu
Trước khi tiến hành khảo sát thực địa, việc nghiên cứu của đề tài sử dụng
phương pháp phân tích tài liệu để bước đầu nắm bắt được thực trạng của những hiện
tượng sai lệch của người tham gia giao thông đường bộ.
Kết quả của phương pháp nghiên cứu này là hình dung một cách tổng quan
7. Phương pháp chọn mẫu
Mẫu đánh giá được chọn theo phương pháp phân cụm địa lý - kinh tế - hành
chính kết hợp với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên tại cấp cơ sở. Trên cơ sở phân
tích các đặc trưng của tổng thể qua niên giám thống kê của Thành phố, kết hợp với
các báo cáo về tự nhiên, kinh tế, văn hoá, xã hội ở Quận, Huyện của địa bàn nghiên
cứu, trong Thành phố chọn có chủ đích 2 phường/xã thuộc quận và huyện của thành
phố Hà Nội. Các hộ gia đình trong phường/xã được chọn ngẫu nhiên từ danh sách
do Uỷ ban nhân dân phường/xã cung cấp. Ngoài mẫu gia đình, nghiên cứu còn chọn
những đối tượng có chủ đích là những người vi phạm luật lệ giao thông ở 2 đội
cảnh sát giao thông của Công an thành phố Hà Nội để phỏng vấn. Ngoài mẫu hộ gia
đình, nghiên cứu còn chọn mẫu cá nhân gồm các nhà quản lý các cấp, các tổ chức
cơ quan để tiến hành phỏng vấn sâu.
* Chọn địa bàn thu thập thông tin
Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, địa bàn thu
thập thông tin được chọn từ cộng đồng phường/xã ở một quận và một huyện của
thành phố Hà Nội là:
- Phường Thượng Đình - Quận Thanh Xuân - thành phố Hà Nội.
- Xã Mễ trì - Huyện Từ Liêm - Thành phố Hà Nội. * Chọn các hộ gia đình được phỏng vấn theo phiếu trưng cầu ý kiến và cỡ mẫu
Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đã xác định, đề tài tập trung thu
thập thông tin từ 2 nhóm đối tượng chính là:
+ Nhóm dân cư: Hộ gia đình, trong đó đối tượng được hỏi là thành viên gia
đình có tham gia hoạt động giao thông đường bộ.
- Cỡ mẫu của nhóm dân cư được tính theo công thức sau:
n = t
2
p (1 - p) / e
2
* Giới tính của người vi phạm
Biểu 1.1: Giới tính của người vi phạm
Nam
N÷
* Độ tuổi của người vi phạm
Độ tuổi Số lượng %
Dưới 18 tuổi 13 5,5
18 - 25 tuổi 84 35,7
26 - 35 tuổi 82 34,9
36 - 45 tuổi 34 14,5
Trên 45 tuổi 22 9,4
Tổng cộng 235 100
* Nghề nghiệp hoặc việc làm chính của người vi phạm
Nghề nghiệp Số lượng %
Học sinh - sinh viên 36 15,3
Cán bộ công chức 19 8,1
Nông dân 12 5,1
Lái xe 54 23,0
Thương nhân 53 22,6
Hành nghề tự do 61 26,0
Tổng cộng 235 100
* Trình độ học vấn của người vi phạm
92,8%
7,2%
Trình độ học vấn Số lượng %
Chương 1
Cơ sở lý luận nghiên cứu về sai lệch xã hội
của người tham gia giao thông đường bộ
Cơ sở lý luận là khái niệm cơ bản, các quan điểm chỉ đạo, các lý thuyết được
vận dụng để miêu tả, giải thích và dự báo, trong phần này sẽ đề cập một số vấn đề
quan trọng như định nghĩa các khái niệm chủ chốt, lựa chọn các quan điểm chỉ đạo
và các lý thuyết thích hợp. Nêu rõ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước về việc phòng chống sai lệch xã hội của người tham gia giao thông đường bộ.
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm “Giao thông đường bộ”
Theo Đại Từ điển Tiếng việt thì giao thông là “việc đi lại từ nơi này đến nơi
khác của người và phương tiện chuyên chở”
- Đường bộ: Đường đi trên đất liền cho người và xe cộ
Như vậy “Giao thông đường bộ là việc đi lại từ nơi này đến nơi khác của
người và phương tiện chuyên chở đi trên đất liền”.
1.1.2. Khái niệm “trật tự an toàn giao thông”
- Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt nam, Trật tự an toàn giao
thông là trạng thái xã hội có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy phạm
pháp luật trong lĩnh vực giao thông, vận tải công cộng mà mọi người tham gia giao
thông phải tuân theo, nhờ đó bảo đảm cho hoạt động giao thông thông suốt, trật tự,
an toàn, hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn giao thông, gây thiệt hại về người và tài
sản. Trật tự an toàn giao thông là một mặt của trật tự an toàn xã hội. Các điều từ 202
– 220 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định các tội vi phạm các quy định về an toàn
giao thông vận tải.
1.1.3. Khái niệm “trật tự an toàn xã hội”
- Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam, trật tự an toàn xã hội
là trạng thái xã hội bình yên trong đó mọi người được sống yên ổn trên cơ sở các
quy phạm pháp luật, các quy luật, các quy tắc và chuẩn mực đạo đức, pháp lý xác
định. Đấu tranh giữ gìn trật tự an toàn xã hội bao gồm: chống tội phạm, giữ gìn trật
1.1.9. Khái niệm “sai lệch xã hội” Đối với các nhà xã hội học, khái niệm “sai lệch” phản ánh bất kỳ hành vi nào
không phù hợp với sự mong đợi của xã hội. Sai lệch là một hành vi đi chệch khỏi
các quy tắc, chuẩn mực của xã hội hay là của nhóm xã hội. Hành vi sai lệch được
xác định trong các quy tắc sống tồn tại trong văn hoá. Một hành vi có thể được thừa
nhận là đúng đắn ở thiết chế này nhưng chưa chắc được thừa nhận ở thiết chế khác.
Như vậy:
Sai lệch xã hội là hành vi của cá nhân hoặc nhóm người nào đó
không phù hợp với những gì được coi là bình thường của cộng đồng, có
nghĩa là hành vi đó đi chệch những gì mà số đông những người khác mong
đợi ở họ trong những hoàn cảnh nhất định. Sai lệch xã hội là sự vi phạm
các chuẩn mực hoặc các quy tắc đã được chấp nhận của một nhóm xã hội
hay của một xã hội nhất định [52, tr.242].
1.1.10. Khái niệm "sai lệch xã hội của người tham gia giao thông đường
bộ”
“Là loại sai lệch trên một lĩnh vực cụ thể và được hiểu là những hành vi vi
phạm các chuẩn mực hoặc quy tắc của luật giao thông đường bộ do người tham gia
giao thông thực hiện xâm hại đến các quan hệ xã hội được luật giao thông đường bộ
bảo vệ”.
1.2. phương pháp tiếp cận nghiên cứu của đề tài
1.2.1. Phương pháp tiếp cận dựa trên quan điểm Mác-Lênin
Chủ nghĩa Mác-Lênin là một học thuyết cách mạng với mục đích cải tạo thế
giới. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã quan tâm các hiện tượng tiêu
cực nảy sinh trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa mang tính tương đối phổ biến như
tội phạm, tệ nạn xã hội và các vi phạm pháp luật khác. Các nhà kinh điển mác xít đã
phân tích sâu sắc các nguyên nhân xã hội của tội phạm và các hiện tượng vi phạm
pháp luật khác thông qua việc phân tích các mâu thuẫn đối kháng vốn có nằm trong
bản chất của chủ nghĩa tư bản mà đã tạo nên những tiền đề về kinh tế và xã hội của
Trong xã hội nói chung và mỗi nhóm xã hội nói riêng, sự định hướng hành động
của con người và hành vi của họ chịu sự kiểm soát bởi những giá trị - chuẩn mực
nhất định. Kinh nghiệm sống của mỗi người phù hợp ở mức độ nhất định với những
mong đợi của những giá trị- chuẩn mực xã hội. Trên cơ sở chia sẻ những giá trị
chuẩn mực chung, sự liên hệ xã hội giữa các cá nhân được hình thành. Từ đó, nó
góp phần tạo nên sự cố kết, ổn định và thống nhất xã hội. Tuy nhiên, do mỗi một nhóm xã hội đều có giá trị chuẩn mực riêng nên các mô hình hành vi xã hội của cá
nhân chịu ảnh hưởng của mô hình hành vi của nhóm xã hội. Đó chính là sự phong
phú đa dạng trong sự thống nhất của văn hoá.
Trong thời kỳ quá độ, từ trạng thái xã hội này chuyển sang trạng thái xã hội
khác, sự từ bỏ một số giá trị- chuẩn mực cũ không còn phù hợp và sự thiết lập một
số giá trị- chuẩn mực mới phù hợp hơn, nhiều lúc khiến cho các giá trị - chuẩn mực
mâu thuẫn và loại trừ nhau, thậm chí có những giá trị- chuẩn mực cũ tốt đẹp không
được kế thừa. Hậu quả là con người trải qua trạng thái lúng túng, hoang mang, khó có
thể định hướng và chia sẻ được với những giá trị - chuẩn mực chung. Từ đó, nó làm
đứt đoạn mối liên hệ xã hội giữa con người và đẩy con người vào trạng thái cô đơn,
khủng hoảng, dễ dẫn đến hành vi sai lệch.
Lý thuyết này giúp chúng ta lý giải hiện tượng sai lệch của người tham gia
giao thông đường bộ gia tăng trong quá trình chuyển đổi từ thời kỳ bao cấp sang
thời kỳ đổi mới, từ chỗ con người chưa có thói quen thực hành vi theo pháp luật
sang chỗ bắt buộc hành vi thực hiện theo luật pháp.
- Lý thuyết phi quy tắc của R. K. Merton:
Mặc dù tiếp tục theo hướng tiếp cận nghiên cứu của E. Durkheim, nhưng lý
thuyết phi quy tắc của R. K. Merton có sự bổ sung và điều chỉnh nhất định. Cả hai
học thuyết đều chú ý đến các khía cạnh của vấn đề văn hoá khi lý giải nguyên nhân
của hành vi sai lệch. Nhưng khác với E. Durkheim, ông không hoàn toàn tách ‘giá
trị – chuẩn mực xã hội’ thành một phạm trù độc lập để nhấn mạnh vai trò của nó
trong việc điều chỉnh hành vi con người mà đưa ra mối quan hệ giữa những mục
Các phương tiện được chấp nhận
+ - + -
Ghi chú: (dấu: + nghĩa là chấp nhận, dấu: - nghĩa là bác bỏ).
Tuân thủ là hành vi thực hiện đúng giá trị chuẩn mực xã hội (hành vi không
lệch lạc duy nhất). Tuân thủ là sự chấp nhận mục đích xã hội và phương tiện xã hội
dể đạt được mục đích đó do xã hội đề ra.
Ví dụ, mục đích xã hội là an toàn giao thông và phương tiện xã hội để đạt mục
đích đó là hiểu biết về luật giao thông, trang bị phương tiện giao thông đảm bảo an
toàn, cơ sở hạ tầng về giao thông tốt
Cách tân là hành vi sai lệch xã hội. Cách tân là sự chấp nhận mục đích xã hội
do xã hội đề ra nhưng không chấp nhận phương tiện xã hội để đạt được mục đích
đó.
Ví dụ, mặc dù thừa nhận mục đích xã hội là an toàn giao thông nhưng lại lựa
chọn phương tiện không hợp thức để đạt mục đích đó như sử dụng các kỹ năng điều
khiển lượn lách của bản thân mình với hy vọng không va chạm khi tham gia giao
thông.
Nghi thức (lễ nghi, quan liêu) là hành vi sai lệch xã hội. Nghi thức là sự quên
đi mục đích xã hội nhưng lại chấp nhận phương tiện xã hội phù hợp.
Ví dụ, trường hợp quá chú ý đến phương tiện xã hội như khi đường xấu có nhiều
ổ gà nhưng vẫn giữ tốc độ như quy định trong lúc tham gia giao thông.
Rút lui (thoát ly) là hành vi sai lệch xã hội. Rút lui là sự không chấp nhận mục
đích xã hội lẫn phương tiện xã hội để đạt mục đích đó. Ví dụ, không chấp nhận mục đích xã hội là an toàn giao thông và không thừa
nhận phương tiện xã hội để đạt mục đích đó như không tìm hiểu về luật giao thông,
trang bị phương tiện giao thông không đảm bảo an toàn, phóng nhanh vượt ẩu Đó
hành ở Bắc, Trung, Nam bộ vẫn tạm giữ nguyên như cũ, nếu những luật lệ ấy không
trái với những điều thay đổi ấn định trong sắc lệnh này” [63, tr.39]. Tiếp đó, Chính
phủ chỉ đạo các Bộ chức năng ban hành các văn bản để tổ chức quản lý hoạt động
giao thông đường bộ.
Bộ giao thông và bưu điện, Bộ Công an ra Nghị định số 348/NĐLB ngày 5
tháng 12 năm 1955, ban hành kèm theo Quy tắc giao thông đường bộ. Nghị định số
09/NĐLB liên bộ Giao thông và bưu điện - Bộ Công an, ngày 7 tháng 3 năm 1956
ban hành Thể lệ tạm thời về vận tải đường bộ. Thể lệ tạm thời về vận tải đường bộ
gồm 4 chương 42 điều. Chương I "Quản lý xe cộ”; Chương II: "Quản lý người lái,
điều khiển xe”; Chương III: "Quản lý các kinh doanh vận tải bộ”; Chương IV:
"Trừng phạt những vụ vi phạm thể lệ”. Bản Thể lệ quy định các hình thức xử lý
như: phê bình hoặc cảnh cáo; phạt tiền; rút giấy phép sử dụng, giấy phép kinh
doanh; rút bằng lái; truy tố trước tòa án.
Để hạn chế tai nạn giao thông và chống ùn tắc giao thông, Bộ Nội vụ ban hành
thông tư số 915/C17 - P5 ngày 10 tháng 11 năm 1962 về đèn tín hiệu điều khiển
giao thông. Thông tư quy định 3 loại đèn: đỏ, vàng, xanh trong điều khiển giao
thông.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giao thông vận tải có vai trò đặc
biệt quan trọng trong việc chi viện người và của cho chiến trường miền Nam. Hội
đồng Chính phủ đã có Quyết định số 10/CP ngày 11 tháng 1 năm 1968 ban hành
Điều lệnh về Kỷ luật an toàn giao thông vận tải thời chiến. Điều lệ này nêu rõ:
Mọi người, mọi xe cộ tàu thuyền phải nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ
giao thông, triệt để tuân theo sự chỉ dẫn của cán bộ công an và cán bộ giao
thông khi qua cầu, phà và trên các tuyến đường giao thông thủy, bộ Đi
đêm, xe cơ giới chỉ được dùng đèn phòng không các loại; không được dùng
đèn pha, đèn cốt hoặc nháy đèn ở những tuyến đường đã cấm, xe đạp phải
che bớt ánh sáng [45, tr.25].
Tiếp đó, Hội đồng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 141/CP ngày 16 tháng 9 năm
1968 về việc tăng cường biện pháp bảo đảm giao thông vận tải và trật tự an toàn
giao thông thời chiến. Hội đồng Chính phủ yêu cầu các ngành, các cấp thực hiện tốt
Điều lệ này có những quy phạm đã bộc lộ những khiếm khuyết, một số nội dung
Điều lệ chưa đề cập đến Cho nên, qua mấy năm thực hiện, trật tự an toàn giao
thông vẫn diễn ra phức tạp. Tai nạn giao thông ngày một tăng nhanh. Từ năm 1991
đến năm 1994 bình quân tai nạn giao thông của năm sau so với năm trước tăng 22,5% số vụ; 27,7% số người chết và 30,6% số người bị thương [45, tr.28]. Trước
tình hình đó, Quốc hội giao cho Bộ Giao thông vận tải xây dựng Luật Đường bộ
Việt Nam và đưa vào chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội từ năm 1992.
Ngày 26 tháng 5 năm 1995 Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 317/TTg về
tăng cường công tác quản lý trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn
giao thông đô thị. Nghị định số 36/CP ngày 29 tháng 5 năm 1995 về đảm bảo trật tự
an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị. Đồng thời ban
hành Điều lệ trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị
(Ban hành kèm theo Nghị định số 36/CP ngày 29 tháng 5 năm 1995 cuả Chính
phủ). Điều lệ gồm 7 chương, 74 điều. Có thể nói Nghị định 36/CP và Điều lệ trật tự
an toàn giao thông đô thị là văn bản pháp luật quy định tương đối đầy đủ và chi tiết
các hoạt động liên quan đến giao thông đường bộ ở nước ta. Vì vậy, Nghị định số
36/CP đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, góp phần phát triển Kinh tế - xã hội, an
ninh, quốc phòng. Tuy nhiên, bản Điều lệ trật tự an toàn giao thông đường bộ và
trật tự an toàn giao thông đô thị cũng đã bộc lộ những thiếu sót, có những điều
không còn phù hợp với thực tiễn vốn rất năng động và biến đổi nhanh chóng của xã
hội Vì vậy, ngày 26 tháng 9 năm 1998 Chính phủ ban hành Nghị định số
75/1998/NĐ - CP về việc sửa đổi bổ sung 21 điều trong Điều lệ trật tự an toàn giao
thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị ban hành kèm theo Nghị định
36/CP. Phạm vi điều chỉnh của Nghị định là:
- Các công trình giao thông đường bộ và giao thông đô thị, gồm 9 điều từ Điều
4 đến Điều 12.
- Phương tiện tham gia giao thông, gồm 5 điều từ Điều 27 đến Điều 31.
- Quy tắc giao thông, gồm 17 điều: Từ Điều 27 đến Điều 49.
bộ. Vấn đề tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ là một đòi
hỏi bức xúc hiện nay. Vì vậy, cần phải có một đạo luật có giá trị pháp lý cao với
nội dung toàn diện điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan đến đảm bảo trật
tự an toàn giao thông đường bộ. Ngày 29 tháng 6 năm 2001 tại Kỳ họp thứ 9
Quốc hội khoá X đã thông qua Luật giao thông đường bộ, có hiệu lực từ ngày 01
tháng 01 năm 2002. Luật này là cơ sở pháp lý quan trọng để tăng cường hiệu lực
quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực giao thông đường bộ, đề cao ý thức trách
nhiệm của mọi thành viên trong xã hội, buộc các chủ thể tham gia giao thông
phải tuân thủ những quy định chung nhằm lập lại trật tự kỷ cương trong giao
thông đường bộ và làm giảm tai nạn giao thông. Luật giao thông đường bộ gồm 9 chương, 77 điều đã điều chỉnh toàn diện các hoạt động liên quan đến giao
thông đường bộ.
Về cơ bản, Luật giao thông đường bộ có sự phát triển cao hơn về chất so với
văn bản dưới luật hiện có như Pháp lệnh bảo vệ công trình giao thông, các Nghị
định của Chính phủ. Nhiều hành vi trước đây chưa có trong các văn bản dưới luật
nhưng thực tế đặt ra cần được điều chỉnh, thì được đưa vào luật như khoản 5 điều 4
là: “Người nào vi phạm pháp luật Giao thông đường bộ mà gây tai nạn thì phải chịu
trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình; nếu gây thiệt hại cho người khác phải bồi
thường theo quy định của pháp luật” [45, tr.9]. Luật giao thông đường bộ của nước
ta đã tham khảo, tiếp thu Công ước quốc tế về giao thông đường bộ (Công ước Viên
năm 1968, sửa đổi và bổ sung năm 1993). Luật GTĐB của các nước như:
Indônêxia, Thái Lan, Malaixia, Trung Quốc và tài liệu tư vấn của Ngân hàng phát
triển Châu á.
1.3.2. Quá trình phát triển pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ
Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý,
hoặc vô ý xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội có tính chất đơn giản, rõ ràng, hậu
quả gây ra ít nghiêm trọng, chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng