TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN ODA
TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Giáo viên hướng dẫn : Ths.Nguyễn Thị Việt Hoa
Sinh viên thực hiện : Mai Thanh Huyền
Lớp : A1 K38A
ODA…………………………………………
3
3
Các hình thức của
ODA…………………………………………
5
3.1
Phân theo nguồn vốn………………………………………………… 5
3.2
Phân theo phương thức sử
dụng……………………………………
6
3.3
Phân theo góc độ nhà tài
trợ………………………………………
6
3.4
Phân theo dạng quản lý và thực hiện……………………………… 7
4.
Tình hình thu hút và sử dụng vốn ODA ở Việt Nam từ 1993
đến
nay………………………………………………………………
20
Chương II
Thực trạng thu hút và sử dụng vốn ODAtại thành phố hà
nội trong thời gian qua (1993-2002)………………………… 29
I.
Giới thiệu sơ lược về Hà
Nội…………………………………
29
1.
Tổng quan về Hà Nội………………………………………… 29
1.1
Những thuận lợi của Hà Nội trong thu hút và sử dụng vốn ODA
Khái quát 10 năm thu hút và sử dụng ODA trên địa bàn Hà Nội 35
2.
Lĩnh vực thu hút đầu tư
ODA…………………………………
37
3.
Các nhà tài trợ cho thành phố Hà Nội………………………… 39
4.
Tình hình thực hiện 5 dự án trọng điểm của Hà Nội hiện nay…. 40
5.
Đánh giá mức độ hiệu quả của việc sử dụng nguồn vốn ODA… 45
III.
Đánh giá tình hình quản lý thực hiện các dự án ODA ở Hà
Nội………………………………………………………………47
1.
54
3.4
Tiềm
năng………………………………………………………………
54
4.
Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, vướng mắc và tiềm năng trong
chu trình thủ tục quản lý ODA của phía Việt Nam……………
55
4.1
Điểm mạnh…………………………………………………….……… 55
4.2
Điểm yếu và vướng mắc……………………………………….……
56
4.3
Tiềm
năng………………………………………………………………
61
Định hướng vận động ODA thời kỳ 2001-
2005……………………
63
2.2
Định hướng đến năm 2010… ……………………………………… 64
2.3
Định hướng đến năm 2020…………………………………….……. 65
3.
Lựa chọn đối tác và nguồn tài trợ……………………………… 66
3.1
Nhật Bản……………………………………………………….……… 66
3.2
Ngân hàng thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển châu Á
(ADB)………………………………………………………….……….
.
67
3.3
2.
Tổ chức tốt công tác lập kế hoạch và chuẩn bị dự án của các cơ
quan Chính phủ…………………………………………………
70
3.
Chuẩn bị dự án có sự phối hợp nhiều hơn nữa của các nhà tài
trợ
73
4.
Tiến hành phân cấp trong công tác thẩm định và phê duyệt…… 74
5.
Tăng cường đội ngũ cán bộ kế hoạch của Chính phủ………… 74
6.
Làm tốt công tác giải phóng mặt bằng và Tái định cư…………. 76
7.
Giải quyết các vướng mắc, bất cập trong công tác đấu thầu……
3.
Tăng cường công tác kế hoạch hoá nguồn vốn
ODA…………
79
4.
Nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị và lập các dự án sử
dụng các nguồn vốn vay và tài trợ quốc
tế……………………………
82
5.
Nâng cao năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ quản lý……………
84
6.
Tăng cường công tác đánh giá và theo dõi dự án
ODA…………
84
7.
Nghiên cứu hài hoà chu trình dự án giữa chu trình dự án theo
nâng cao…). Đóng góp đáng kể cho những thành tựu này có vai trò không nhỏ của
hoạt động kinh tế đối ngoại, trong đó bao gồm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và
hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Nếu vai trò của FDI thể hiện rõ nhất qua các lĩnh
vực công nghiệp, dịch vụ…thì những cải thiện đáng kể về kết cấu hạ tầng của Thủ đô
nói riêng và Việt Nam nói chung trong những năm gần đây in đậm dấu ấn của nguồn
vốn ODA.
Kể từ khi nối lại quan hệ với cộng đồng tài trợ quốc tế vào năm 1993 cùng với
chính sách đổi mới kinh tế, đa phương hoá chính sách đối ngoại, Việt Nam đã nhận
được nhiều ODA từ các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng
phát triển Châu á (ADB)…, từ các quốc gia như Nhật Bản, Pháp, Phần Lan, Đan
Mạch,…Trong tổng giá trị ODA thì có khoảng 85% là vốn vay ưu đãi để thực hiện
các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội.
HÀ NỘI VỚI VAI TRÒ LÀ TRUNG TÂM CHÍNH TRỊ-KINH TẾ- VĂN HOÁ
CỦA CẢ NƯỚC ĐÃ NHẬN ĐƯỢC SỰ ƯU TIÊN ĐÁNG KỂ CỦA CÁC
NHÀ TÀI TRỢ QUỐC TẾ. NHỮNG THÀNH TỰU VỀ KINH TẾ XÃ HỘI
VÀ CẢI THIỆN KẾT CẤU HẠ TẦNG MÀ HÀ NỘI ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC
TRONG THỜI GIAN QUA CÓ SỰ ĐÓNG GÓP KHÔNG NHỎ CỦA ODA.
ĐẶC BIỆT NHỮNG THAY ĐỔI TRONG KẾT CẤU HẠ TẦNG ĐƯỢC
TÀI TRỢ BỞI NGUỒN VỐN ODA ĐÃ GÓP PHẦN CẢI THIỆN ĐÁNG KỂ
MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ, THÚC ĐẨY CHƯƠNG TRÌNH HUY ĐỘNG
VỐN TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI.
Trong kế hoạch kinh tế-xã hội của Thành phố Hà Nội giai đoạn 2001-2005
cũng như các chương trình phát triển đến các giai đoạn 2010 và 2020, chiến lược thu
hút và sử dụng nguồn vốn ODA đã được nhấn mạnh và thể hiện vai trò là nguồn vốn
quan trọng đối với hình thành cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội của
Thành phố. Những năm vừa qua công tác thu hút và sử dụng vốn ODA của Hà Nội đã
có những kết quả đáng mừng, tuy nhiên vấn đề quản lý và triển khai thực hiện các dự
án ODA cũng không tránh khỏi những vướng mắc đặc biệt là vấn đề giải ngân. Chính
vì vậy xem xét, tổng kết, đánh giá lại hoạt động ODA trong thời gian qua là vô cùng
cần thiết để có thể rút ra những bài học kinh nghiệm, tiếp tục phát huy những mặt
phát triển của các nước đã công nghiệp hoá và các tổ chức quốc tế với các nước
đang và chậm phát triển. Theo quan điểm này, ODA là các khoản viện trợ không
hoàn lại và các khoản vốn vay với điều kiện ưu đãi của Chính phủ các nước, các tổ
chức quốc tế và cá tổ chức phi chính phủ cho các nước đang và chậm phát triể
n.
Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát trển chính thức
(Official Development Assistance- ODA) là hình thức chuyển giao nguồn vốn(
tiền tệ, công nghệ…) từ các nước công nghiệp phát triển, từ các tổ chức tài
chính quốc tế(WB, IMF, ADB,…) các tổ chức của hệ thống Liên hiệp quốc, các
tổ chức phi chính phủ (NGO) gọi chung là các đối tác tài trợ nước ngoài cho
các nước đang và chậm phát triển gọi chung là bên tiếp nhận tài trợ.
Ở Việt Nam, Chính phủ quy định “Hỗ trợ phát triển chính thức” là một hình
thức hợp tác phát triển giữa chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước ngoài, các tổ
chức quốc tế liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ.
2. Lịch sử ra đời của ODA
ODA xuất hiện vào giai đoạn sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 bắt đầu bằng
kế hoạch Marshall của Mỹ viện trợ cho các nước Tây Âu nhằm khôi phục kinh tế
thời kỳ hậu chiến. Tiếp đó, vào năm 1955, Hội nghị Côlômbô đã hình thành những ý
tưởng và nguyên tắc đầu tiên về hợp tác phát triển. Sau khi Tổ chức Hợp tác kinh tế
và phát triển (OECD) được thành lập vào năm 1960 cùng với sự ra đời của Uỷ ban hỗ
trợ phát triển (DAC) vào năm 1961, cộng đồng các nhà tài trợ được hình thành nhằm
phối hợp các hoạt động chung về hỗ trợ hợp tác phát triển. Năm 1972, OECD đã đưa
ra định nghĩa về ODA là “một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích là
thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của các nước đang phát triển. Điều kiện tài chính
của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất
25%”
Về thực chất ODA là sự chuyển giao một phần thu nhập quốc gia từ những
nước phát triển sang những nước nghèo và chậm phát triển. Liên hiệp quốc, trong
một phiên họp toàn thể của Đại hội đồng vào năm 1961 đã kêu gọi các nước phát
triển dành 1% GNP của mình để hỗ trợ sự phát triển bền vững về kinh tế xã hội của
quan, lập quy hoạch…) chuẩn bị và theo dõi thực hiện đầu tư (nghiên cứu tiền khả
thi, khả thi…)
+ Hỗ trợ cán cân thanh toán quốc tế bằng hàng hoá.
+ Tín dụng ưu đãi theo dự án nhằm thực hiện các công trình xây dựng, lắp đặt
trang thiết bị hoặc chỉ cung cấp thiết bị. Nội dung dự án có thể bao gồm cả dịch vụ tư
vấn, chương trình đào tạo cán bộ cho Việt Nam.
+ Viện trợ chương trình nhằm lồng ghép một hoặc nhiều mục tiêu với tập hợp
nhiều dự án.
- ODA cho vay: bao gồm 2 loại:
+ ODA cho vay ưu đãi (còn gọi là tín dụng ưu đãi): là các khoản ODA cho vay
đạt yếu tố không hoàn lại ít nhất 25% giá trị khoản vay. Bên nước ngoài thường quy
định cụ thể các điều kiện cho vay ưu đãi.
+ ODA cho vay hỗn hợp: là các khoản ODA bao gồm kết hợp một phần ODA
không hoàn lại (hoặc ODA cho vay ưu đãi) và một phần tín dụng thương mại theo
điều kiện của tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD).
Nguồn vốn vay ưu đãi tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực: đầu tư cơ sở hạ tầng
kinh tế-xã hội trong các ngành giao thông, năng lượng, phát triển nông nghiệp, phát
triển nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên và môi trường …
- Hình thức hỗn hợp: Bao gồm các dự án được đồng tài trợ từ các nguồn vốn
hoặc các tổ chức khác nhau như dự án đa mục tiêu sông Hinh của Thuỵ Điển (SIDA),
Quỹ phát triển Bắc Âu (NDF) và Ngân hàng đầu tư Bắc Âu (NIB). Tín dụng hỗn hợp
nhằm thực hiện lồng ghép một hoặc nhiều mục tiêu với tập hợp nhiều dự án ( các dự
án của Tây Ban Nha, Ý…)
3.2.Phân theo phương thức sử dụng:
- Hỗ trợ cán cân thanh toán: gồm các khoản ODA được cung cấp dưới dạng
tiền mặt hoặc hàng hoá để hỗ trợ ngân sách của Chính phủ.
- Hỗ trợ theo chương trình: khoản ODA được cung cấp để thực hiện một
chương trình nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu với một tập hợp các dự án
trong một thời gian xác định tại các địa phương cụ thể.
- Hỗ trợ kỹ thuật: Nhằm giúp phát triển thể chế, tăng cường năng lực của các
3.4. Phân theo dạng quản lý và thực hiện:
Tuỳ theo đặc điểm của các nguồn vốn từ các nhà tài trợ song phương, đa phương hoặc từ nguồn phi chính phủ (NGO), hiện có những hình thức
quản lý và thực hiện như sau:
- Các dự án, chương trình chịu sự quản lý qua một cấp: là dạng phổ biến
nhất, bao gồm các chương trình, dự án có Ban quản lý chịu sự điều hành trực tiếp từ
Bộ hay Tỉnh. Ví dụ: dự án cấp nước Gia Lâm của Hà Nội (Nhật Bản); dự án quốc lộ
1A (Ngân hàng thế giới) của Bộ Giao Thông Vận Tải.
- Các chương trình , dự án thuộc Bộ: bao gồm nhiều tiểu dự án thực hiện tại
nhiều địa điểm.
- Dự án qua 2 cấp quản lý: các dự án chịu sự điều hành qua 2 cấp quản lý
như: Bộ- Tổng công ty- Ban Quản lý dự án (PMU) hay Bộ-Liên hiệp- PMU.
- Các dự án do Bộ và địa phương cùng quản lý: Các dự án chịu sự điều hành
từ Bộ và địa phương. Ban Quản lý dự án (QLDA) điều hành tiến độ thực hiện, quan
hệ với đối tác, lập kế hoạch giải ngân… nhưng các tiểu dự án ở các thành phố, thị xã
cũng chịu sự điều hành từ các cơ quan thuộc tỉnh, đôn đốc thực hiện và phân bổ vốn
đối ứng.
- Các chương trình với sự lồng ghép tham gia của nhiều Bộ và địa phương:
bao gồm các chương trình lồng ghép, thực hiện nhiều mục tiêu. Ban điều hành dự án
gồm nhiều ngành, địa phương cùng tham gia thực hiện chương trình trên nhiều địa
bàn khác nhau.
4. Vai trò của ODA
4.1. Đối với các nước nhận hỗ trợ
Phần lớn các nước nhận hỗ trợ ODA là các nước nghèo, các nước đang phát
triển. Ở các nước này, quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước đang diễn ra
mạnh mẽ, khẩn trương và quá trình này cần một lượng vốn đầu tư lớn, mà các nguồn
vật chất trong nước không có hoặc không đủ, để tạo được cơ sở hạ tầng kinh tế vững
chắc phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội.
Ở các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam), nguồn ngân sách Chính
phủ khá hạn hẹp nên nguồn vốn ODA là nguồn trợ giúp có ý nghĩa rất quan trọng
trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển của những nước này. Minh chứng cụ thể
phát triển cơ sở hạ tầng. Đây là lĩnh vực ưu tiên trong tiến trình công nghiệp hoá-hiện
đại hoá đất nước, cũng là lĩnh vực phải đầu tư lớn và gần như phải cải tạo hoặc xây
dựng mới lại toàn bộ nhưng lại là lĩnh vực khó thu hút các nguồn vốn đầu tư cả trong
và ngoài nước do vốn đầu tư lớn, khó thu hồi vốn nhất là trong điều kiện các cơ chế
chính sách về đầu tư của chúng ta chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư và
nguồn ngân sách nhà nước thì rất hạn chế. Nguồn vốn ODA trong lĩnh vực này không
chỉ là vấn đề vốn mà một vấn đề cũng quan trọng là các kinh nghiệm và trình độ
trong việc xây dựng các quy hoạch tổng thể để đảm bảo sự phát triển hài hoà của một
khu vực.
Một số nước có được sự phát triển kinh tế cao như hiện nay như Tây Âu, Nhật, Hàn Quốc…đều in đậm dấu ấn của ODA: Sau chiến tranh thế
giới thứ 2 các nước Tây Âu đều bị kiệt quệ, tàn phá sau chiến tranh. Nhưng nhờ viện trợ Marshall của Mỹ mà các nước này dần dần phục hồi và
phát triển kinh tế. Các nước châu á như Nhật Bản, Hàn Quốc đều là đồng minh chiến lược của Mỹ được Mỹ tài trợ nhiều ODA do đó như ngày
nay chúng ta thấy họ đã và đang trở thành cường quốc về kinh tế.
Đối với Việt Nam, Viện trợ phát triển chính thức được nối lại vào năm 1993 từ
đó đến nay luôn đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của đất nước đặc biệt
trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng. Tổng số vốn cam kết của nhà tài trợ tính từ năm 1993-
2001 là 19,94 tỷ USD. Tổng vốn đã được giải ngân tăng từ 413 triệu USD vào năm
1993 lên 1650 triệu USD vào năm 2000 chiếm vào khoảng 65% chi tiêu cơ bản của
Chính phủ. Con số thực tế đó cho thấy ODA ngày càng có vị trí cao. Đặc biệt trong
các năm 1997,1998,1999 khi mà dòng FDI giảm mạnh do cuộc khủng hoảng tài chính
khu vực thì ODA đã khẳng định vai trò của mình trong công cuộc phát triển kinh tế.
Như vậy, tuy lượng vốn ODA không thật lớn khi so với nguồn vốn FDI nhưng
đang ngày càng tỏ rõ tầm quan trọng của mình nhất là khi sự cạnh tranh trong môi
trường thu hút đầu tư ở các nước đang phát triển diễn ra khá gay gắt. Việc tranh thủ
và sử dụng tốt nguồn vốn này đang là yêu cầu đặt ra cho các quốc gia đang phát triển.
4.2 Đối với nước tài trợ
Vốn ODA hoặc là không hoàn lại hoặc là cho vay với những điều kiện quá ưu
đãi thực chất như một khoản cho không đã đặt ra một câu hỏi là các nước tài trợ thu
được bao nhiêu lợi cho việc chi những khoản tiền lớn như vậy? Có thể nói, các mục
tiêu về kinh tế và chính trị là những động lực lớn nhất của các nước cung cấp vốn
đa quốc gia nhằm chiếm lĩnh thị trường. Nhìn về mặt tổng thể thì điều này mang lợi
ích cho cả hai bên nước nhận và nước cung cấp viện trợ.
Trong quá trình tài trợ đó, các nước tài trợ không chỉ chịu ảnh hưởng về mặt
kinh tế mà còn tăng ảnh hưởng cả về mặt chính trị. Bởi vì trong các dự án ODA ngoài
những sự hỗ trợ về vốn, kỹ thuật còn là những đề xuất về chính sách như: xây dựng
các thể chế, kế hoạch phát triển kinh tế, tài chính, xây dựng quy hoạch… Như vậy,
thực chất các nước tài trợ ODA đã phần nào tham gia vào các kế hoach phát triển
kinh tế xã hội của các nước tiếp nhận ODA, qua đó khuyến khích phát triển quan hệ
song phương phục vụ cho chính sách và công tác đối ngoại của họ. Chính sách ODA
của chính phủ Nhật Bản là một minh chứng cụ thể cho việc này. Việc một nước giàu
như Brunei vẫn nhận được ODA của Nhật Bản chỉ có thể lý giải rằng Brunei có một
vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của Nhật Bản.
Cũng có thể kể đến sự viện trợ mạnh mẽ của Nhật Bản cho khu vực Đông Nam
Á. Đây là khu vực có mức tăng trưởng vào loại nhanh nhất thế giới và đó chính là lý
do cho viện trợ mạnh mẽ của Nhật. Giúp các nước này phát triển cơ sở hạ tầng và đẩy
nhanh quá trình công nghiệp hoá ở các nước này cũng là tạo môi trường đầu tư thuận
lợi cho phía Nhật Bản. Thoạt nhìn thì có vẻ như sự hỗ trợ ODA của Nhật Bản chẳng
có mấy liên quan tới sự thống trị của hàng Nhật trên thị trường các nước này (nhất là
trong các lĩnh vực ô tô, hàng điện tử…) nhưng thực ra việc Chính phủ các nước tiếp
nhận phải tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các công ty Nhật là điều kiện tiên quyết
trong việc đàm phán ưu đãi ODA và đây chính là phần hiệu quả từ ODA của Chính
phủ Nhật Bản đưa lại cho chính người Nhật. Mặt khác, sự hỗ trợ ODA của chính phủ
Nhật Bản đã tạo sự yên tâm và đảm bảo cho các doanh nhân Nhật Bản đổ vốn vào
những thị trường này.
Như vậy, ODA vừa mang lại lợi ích cho các bên trực tiếp tham gia vừa góp
phần thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ của toàn thế giới.
II. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ODA Ở VIỆT
NAM.
1.Những quy định của Việt Nam về quản lý thu hút và sử dụng vốn ODA
Ngay từ Hội nghị đầu tiên của nhà tài trợ dành cho Việt Nam (tháng 11 năm
Do vậy, Chính phủ đã chỉ đạo các cơ quan hữu quan nghiên cứu và bổ sung hoàn
chỉnh hai Nghị định nêu trên.
Ngày 05/08/1997 Chính phủ đã ban hành Nghị đinh 87/CP về quy chế quản lý
và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA thay thế Nghị định 20/CP và
ngày 07/11/1998 Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 90/CP về quy chế vay và
trả nợ nước ngoài thay thế cho Nghị định 58/CP. Cùng với việc ban hành Nghị định
này, các Bộ và các Ngành đã ban hành các thông tư hướng dẫn về việc quản lý và sử
dụng nguồn vốn ODA, như thông tư số 15/1997/TT-BKH ngày 24/10/1997 hướng
dẫn thực hiện quy chế quản lý và sử dụng ODA, ban hành kèm theo Nghị định
87/CP…
Ngày 04/05/2001 Nghị định số 17/2001/NĐ-CP về việc ban hành quy chế quản
lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức và Nghị định số 52/1999/NĐ-CP về
việc ban hành quy chế quản lý và đầu tư xây dựng ra đời đã một bước nữa hoàn thiện
thêm khung pháp lý về quản lý và sử dụng ODA của Việt Nam.
Mục tiêu của các Nghị định này là tạo ra một môi trường pháp lý thông thoáng
và linh hoạt hơn cho nguồn vốn vay và tài trợ quốc tế để một mặt tăng cường trách
nhiệm mở rộng quyền hạn của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc
Chính phủ, các tỉnh thành phố trực thuộc TW trong việc quản lý và sử dụng có hiệu
quả nguồn vốn vay và tài trợ quốc tế, mặt khác duy trì sự quản lý tập trung của Chính
phủ đối với nguồn lực quan trọng này.
Ngày 26/04/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số
64/2001/QĐ-TTg về quản lý và sử dụng nguồn viện trợ phi chính phủ nước ngoài,
thay thế Quyết định số 28/199/ QĐ-TTg ngày 23/02/1999. Ngày 04/2001/TT-BKH
hướng dẫn thi hành Quyết định trên.
Quyết định số 64/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã góp phần đưa
công tác quản lý nhà nước về nguồn viện trợ phi chính phủ nước ngoài lâu nay bị
buông lỏng vào nề nếp, đồng thời làm rõ trách nhiệm của các cấp trong quá trình
quản lý và sử dụng nguồn tài trợ này.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên Bộ số
02/2003/TTLT/BKH-BTC ngày 17/03/2003 hướng dẫn lập kế hoạch tài chính đối với
Pháp lệnh về ký kết và Thực hiện điều ước quốc tế.
4. Thông báo điều ước quốc tế khung về ODA.
Sau khi điều ước quốc tế khung về ODA đã được ký kết, Bộ Kế hoạch và Đầu
tư thông báo bằng văn bản cho Cơ quan chủ quản về chương trình, dự án được nhà tài
trợ đồng ý xem xét tài trợ trong từng thời kỳ để tiến hành các bước chuẩn bị tiếp theo.
5. Chuẩn bị văn kiện chương trình, dự án ODA.
Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo chính thức
của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về danh mục các chương trình, dự án ODA đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt và Nhà tài trợ đồng ý xem xét tài trợ, Thủ tướng Cơ quan
chủ quản ra quyết định thành lập ban chuẩn bị chương trình, dự án, bổ nhiệm Trưởng
ban và một số cán bộ chủ chốt của Ban. Trong thành phần của Ban chuẩn bị chương
trình, dự án phải có một số cán bộ đủ năng lực và điều kiện để làm nòng cốt cho Ban
quản lý chương trình dự án giai đoạn sau. Ban chuẩn bị chương trình, dự án có nhiệm
vụ lập kế hoạch chuẩn bị chương trình dự án trình Cơ quan chủ quản phê duyệt.
6. Thẩm định, phê duyệt nội dung chương trình, dự án ODA.
Chương trình, dự án ODA trình cấp có thẩm quyền thẩm định phải có trong
danh mục được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và Nhà tài trợ thoả thuận tài trợ.
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các chương trình, dự án ODA nhóm A như:
các chương trình tín dụng, hỗ trợ cán cân thanh toán, dự án phát triển cấp quốc gia,
cấp ngành hoặc liên quan vùng lãnh thổ, các dự án có mục tiêu liên quan đến thể chế
và chính sách nhà nước, pháp luật, cải cách hành chính, văn hoá thông tin, an ninh,
quốc phòng, dự án có mức đầu tư theo quy định hiện hành về quản lý đầu tư và xây
dựng, các chương trình hỗ trợ kỹ thuật có mức vốn từ 1 triệu USD trở lên.
Thủ trưởng cơ quan chủ quản phê duyệt các chương trình, dự án ODA không
thuộc nhóm A.
Trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo thẩm định,
Thủ tướng Chính phủ ra quyết định phê duyệt đối với chương trình, dự án ODA
thuộc nhóm A. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo
thẩm định, Thủ trưởng cơ quan chủ quản ra quyết định phê duyệt đối với các chương
trình, dự án ODA thuộc thẩm quyền của mình.
Chỉ định chủ dự án: Cơ quan cấp Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan
hành chính sự nghiệp trực thuộc được phép làm chủ dự án đối với các chương trình
dự án thuộc diện Nhà nước cấp phát, nhưng không được làm chủ dự án đối với các
chương trình, dự án ODA thuộc diện Nhà nước cho vay lại, trừ trường hợp đặc biệt
có chương trình dự án thuộc diện vừa được cấp phát vừa phải vay lại thì Bộ Kế hoạch
và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét,
quyết định.
Ban quản lý chương trình dự án ODA: Cơ quan chủ quản ban hành quyết định
thành lập Ban Quản lý dự án ngay sau khi văn kiện chương trình, dự án ODA được
cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Ban quản lý chương trình dự án ODA( sau đây gọi tắt là Ban Quản lý dự án) là
cơ quan đại diện cho Chủ dự án, được toàn quyền thay mặt Chủ dự án thực hiện các
quyền hạn và nhiệm vụ được giao từ khi bắt đầu thực hiện cho đến khi kết thúc dự án,
kể cả việc quyết toán, nghiệm thu, bàn giao đưa dự án vào khai thác sử dụng.
Vốn đối ứng chuẩn bị thực hiện và thực hiện dự án ODA:
Vốn đối ứng chuẩn bị thực hiện và thực hiện dự án ODA thuộc diện Ngân sách
Nhà nước cấp do Cơ quan chủ quản bố trí đầy đủ, kịp thời, phù hợp với tiến độ quy
định trong văn kiện dự án ODA đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, phù hợp với
quy định của pháp luật về Ngân sách Nhà nước và điều ước quốc tế về ODA đã ký
kết.
Các dự án ODA thuộc diện Nhà nước cho vay lại từ Ngân sách và các dự án
một phần cấp phát một phần cho vay thì Chủ dự án phải lo toàn bộ vốn đối ứng và
phải giải trình đầy đủ về khả năng và kế hoạch đảm bảo vốn đối ứng trước khi ký hợp
đồng vay lại. Trong trường hợp này, Chủ dự án được ưu tiên vay từ các nguồn tín
dụng của Nhà nước hoặc từ Quỹ hỗ trợ phát triển. Trường hợp gặp khó khăn đột xuất
về vốn đối ứng, Chủ dự án phải báo cáo Cơ quan chủ quản để có biện pháp giải
quyết.
Đối với các dự án ODA không kịp bố trí vốn đối ứng trong kế hoạch ngân sách
hàng năm hoặc có nhu cầu đột xuất về vốn đối ứng, Chủ dự án và Cơ quan chủ quản
phải có văn bản gửi Bộ kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính yêu cầu xem xét, quyết