LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại CHẾ độ PHÁP lý về hợp ĐỒNG tín DỤNG NGẮN hạn - Pdf 48

Chế độ pháp lý về hợp đồng tín dụng ngắn hạn

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN KINH DOANH - THƯƠNG MẠI
------------  --------------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA: 2007 - 2011
CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN

Giảng viên hướng dẫn:
Lê Huỳnh Phương Chinh

Sinh viên thực hiện:
Võ Đại Nam
MSSV: 5075125
Lớp: LK0764A2

Cần Thơ, 5/2011

GVHD : Lê Huỳnh Phương Chinh

1

SVTH : Võ Đại Nam


Chế độ pháp lý về hợp đồng tín dụng ngắn hạn

Nhận Xét Của Hội Đồng

.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................

GVHD : Lê Huỳnh Phương Chinh

2

SVTH : Võ Đại Nam


Chế độ pháp lý về hợp đồng tín dụng ngắn hạn

Nhận Xét Của Hội Đồng

.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................

3

SVTH : Võ Đại Nam


Chế độ pháp lý về hợp đồng tín dụng ngắn hạn

BẢNG QUY ƯỚC TỪ VIẾT TẮT
- Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN : Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31
tháng 12 năm 2001 về Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.
- Quyết định 127/2005/QĐ-NHNN : Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03
tháng 02 năm 2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều cuả Quy chế cho vay của tổ
chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN
ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
- Quyết định số 783/2005/QĐ-NHNN : Quyết định số 783/2005/QĐ-NHNN của Ngân
hàng Nhà nước về việc sửa đổi, bổ sung Khoản 6 Điều 1 của Quyết định số
127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc
sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách
hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
- Nghị định 163/2006/NĐ-CP : Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm
2006 về giao dịch bảo đảm quy định việc định giá tài sản bảo đảm có thể được thực
hiện theo thỏa thuận của các bên, nếu không có thỏa thuận thì tài sản được bán đấu giá
theo quy định của pháp luật.
- Thông tư số 03/2001/TTLT/NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC : Thông tư liên tịch của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – Bộ Tư pháp – Bộ Công an – Bộ Tài chính – Tổng
cục Địa chính số 03/2001/TTLT/NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC ngày 23/4/2001
hướng dẫn việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng.

GVHD : Lê Huỳnh Phương Chinh

2.3.1 Giao kết Hợp đồng tín dụng ngắn hạn……………………………………..24
2.3.1.1 Đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng ngắn hạn…………………………24
2.3.1.2 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng ngắn hạn……………..24
2.3.2 Thực hiện hợp đồng tín dụng ngắn hạn…………………………………...25
2.3.2.1 Hoạt động giải ngân…………………………………………………...25
2.3.2.2 Kiểm tra, giám sát các khoản vay……………………………………..26
2.3.2.3 Thu hồi nợ và xử lý tài sản bảo đảm…………………………………..27
2.3.2.4 Thanh lý hợp đồng và lưu hồ sơ……………………………………….27
2.4 Quy định pháp luật về hiệu lực và sự thay đổi, chấm dứt hợp đồng tín dụng ngắn
hạn………………………………………………………………………………….28
2.4.1 Hiệu lực của hợp đồng tín dụng ngắn hạn…………………………………28
2.4.1.1 Điều kiện có hiệu lực của Hợp đồng tín dụng ngắn hạn………………28
2.4.1.2 Thời điểm phát sinh hiệu lực của Hợp đồng tín dụng ngắn hạn………29
2.4.2 Thay đổi, chấm dứt Hợp đồng tín dụng ngắn hạn…………………………31
GVHD : Lê Huỳnh Phương Chinh

5

SVTH : Võ Đại Nam


Chế độ pháp lý về hợp đồng tín dụng ngắn hạn

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ VƯỚNG MẮC TRONG VIỆC THỰC THI HỢP ĐỒNG TÍN
DỤNG NGẮN HẠN VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN………………………….34
3.1 Vướng mắc trong việc thực thi pháp luật về Hợp đồng tín dụng ngắn hạn……34
3.1.1 Vướng mắc trong việc thực hiện lãi suất cho vay………………………….34
3.1.2 Vướng mắc về nội dung và hiệu lực của Hợp đồng tín dụng ngắn hạn……35
3.1.2.1 Vướng mắc về nội dung của Hợp đồng tín dụng ngắn hạn……………35
3.1.2.2 Vướng mắc về hiệu lực của Hợp đồng tín dụng ngắn hạn…………….36

quá trình thi hành luật, một số quy định đã bộc lộ những hạn chế nhất định và không
phù hợp với thực tiễn.
Nhận thấy được tầm quan trọng của Hợp đồng tín dụng ngắn hạn có thể ảnh
hưởng đến sự phát triển bền vững của hoạt động tín dụng ngân hàng. Đồng thời, với
mong muốn đưa ra những cơ sở lý luận, phân tích các quy định của pháp luật về Hợp
đồng tín dụng ngắn hạn, từ đó có thêm những quan điểm mới góp phần bổ sung những
quy định về Hợp đồng tín dụng ngắn hạn, tạo điều kiện để hoàn thiện định chế pháp lý
này. Do đó người viết đã chọn đề tài “Chế độ pháp lý về Hợp đồng tín dụng ngắn
hạn”.
2. Mục đích nghiên cứu
Giúp bản thân hoàn thiện hơn kiến thức cơ bản về phân định quyền lực trong
công ty cổ phần, phát hiện ra những hạn chế của luật hiện hành, cũng như những vấn
đề mới phát sinh mà luật chưa điều chỉnh từ đó đưa ra những đề xuất cá nhân về
hướng hoàn thiện.
Đối với những tổ chức hay cá nhân muốn tìm hiểu những vấn đề liên quan đến
cơ cấu quyền lực trong Công ty cổ phần thì đề tài này cũng có thể là nguồn tài liệu để
tham khảo và mong muốn họ đóng góp ý kiến của mình nhằm giúp cho đề tài ngày
càng hoàn thiện.
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản về chủ thể, hình thức, nội
dung, quyền và nghĩa vụ của các bên, hiệu lực và chấm dứt Hợp đồng tín dụng ngắn
hạn, chứ không nghiên cứu tất cả các vấn đề liên quan đến tín dụng ngắn hạn.
3. Phương pháp nghiên cứu
Để đề tài mang tính khoa học và thực tiễn, người viết đã sử dụng các phương
pháp sau:
 Phương pháp phân tích luật viết, so sánh kết hợp với lý luận và thực tiễn.

GVHD : Lê Huỳnh Phương Chinh

7


góp của quý Thầy, Cô và những bạn đọc khác để giúp người viết sửa chữa, khắc phục
những hạn chế của đề tài, nhằm giúp cho đề tài được hoàn thiện hơn.
Người viết xin gửi lời cảm ơn đến cô Lê Huỳnh Phương Chinh, người đã trực
tiếp hướng dẫn cho người viết thực hiện đề tài nghiên cứu của mình. Bên cạnh đó,
người viết cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý Thầy, Cô trong Hội đồng bảo vệ luận văn
đã dành thời gian để nghiên cứu và giúp đỡ người viết thấy được những thiếu sót,
nhằm tạo điều kiện cho người viết có thêm kinh nghiệm để phục vụ cho việc học tập
và nghiên cứu sau này.

GVHD : Lê Huỳnh Phương Chinh

8

SVTH : Võ Đại Nam


Chế độ pháp lý về hợp đồng tín dụng ngắn hạn

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG VÀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
NGẮN HẠN
1.1 Khái quát chung về tín dụng
1.1.1 Sự ra đời và phát triển của tín dụng
Sự phân công lao động xã hội và sự xuất hiện sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
là cơ sở ra đời của tín dụng.
Xét về mặt xã hội, sự xuất hiện chế độ sở hữu tư liệu sản xuất là cơ sở hình thành
sự phân hóa xã hội; của cải, tiền tệ có xu hướng tập trung vào một nhõm người, trong
lúc đó một nhóm người khác có thu nhập thấp hoặc thu nhập không đáp ứng đủ cho
nhu cầu tối thiểu của cuộc sống, đặc biệt khi gặp những biến cố rủi ro bất thường gây
ra. Trong điều kiện như vậy, đòi hỏi sự ra đời của tín dụng để giải quyết mâu thuẫn nội
tại của xã hội, thực hiện việc điều hòa nhu cầu tạm thời của cuộc sống.

giữa nguồn vốn và sử dụng vốn của mỗi chủ thể kinh tế đã dẫn tới tình trạng thừa hoặc
thiếu vốn. Những chủ thể kinh tế có nguồn vốn dư thừa muốn sử dụng nguồn vốn của
mình sao cho có lợi nhất, còn những chủ thể thiếu vốn lại tìm cách bù đắp sự thiếu hụt
của mình với chi phí thấp nhất. Từ đó cho thấy, trong nền kinh tế thị trường đã xuất
hiện hai nhóm đối tượng đối lập nhau : nhóm những người cần vốn và nhóm những
người cần cung ứng vốn, tuy nhiên do số lượng dân cư đông đúc và phân tán, nên
người cần vốn phải tạo được niềm tin cho người cung ứng vốn nhằm hạn chế vẫn
những rủi ro đối với người cung ứng vốn. Chính vì vậy, sự phát triển tín dụng lên một
bước cao hơn là cần thiết và tất yếu đối với sự phát triển kinh tế.
1.1.2 Khái niệm tín dụng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế đã tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế xã hội.
Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì tín dụng là sự vay mượn trong đó có hai chủ thể là người
đi vay và người cho vay, họ sẽ thỏa thuận về thời hạn nợ và mức lãi suất cụ thể. Còn
hiểu theo nghĩa rộng, tín dụng là một quan hệ xã hội, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau
giữa các chủ thể kinh tế này với các chủ thể kinh tế khác trên nguyên tắc có hoàn trả.
Thuật ngữ “tín dụng” ngày nay xuất phát từ chữ Latinh “Creditum” là sự tin
tưởng, tín nhiệm. Tín dụng là sự vay mượn có hoàn trả (cả vốn lẫn lãi) sau một thời
gian nhất định1. Điều này có nghĩa, tín dụng biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với
quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm
thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả có thời hạn và lợi
tức.
Từ những kiến thức trên, ta có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về tín dụng
như sau:
“Tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình
thức hiện vật hay tiền tệ, trong một thời gian nhất định từ người cho vay sang người đi
vay và khi đến hạn phải hoàn trả lại một lượng lớn hơn giá trị ban đầu, khoản giá trị
dôi ra này được gọi là lợi tức tín dụng”.
Nhìn chung, tín dụng là một khái niệm kinh tế hơn là pháp lý, Luật ngân hàng
các nước định nghĩa tín dụng như sau : “Cấu thành một nghiệp vụ tín dụng bất cứ tác
động nào, qua đó một người đưa hoặc hứa đưa vốn cho một người khác dùng, hoặc

Giữa họ có mối quan hệ mật thiết với nhau, thông qua vận động giá trị vốn tín dụng,
được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc hàng hóa. Quá trình vận động đó, có thể
khái quát qua ba giai đoạn3 :
 Giai đoạn phân phối vốn tín dụng : giai đoạn này còn gọi là giai đoạn cho vay,
ở giai đoạn này vốn tiền tệ hoặc giá trị vật tư hàng hóa được chuyển từ người cho vay
sang người đi vay. Như vậy, khi cho vay giá trị vốn tín dụng được chuyển sang người
đi vay, đây được xem là đặc điểm cơ bản của tín dụng so với các loại hình mua bán
hàng hóa thông thường.


Giai đoạn sử dụng vốn tín dụng : trong quá trình tái sản xuất, sau khi nhận được

giá trị vốn tín dụng, người đi vay được quyền sử dụng giá trị đó để thỏa mãn mục đích
nhất định. Ở giai đoạn này, vốn vay được sử dụng trực tiếp nếu vay bằng hàng hóa
hoặc vốn vay được sử dụng để mua hàng hóa nếu vay bằng tiền để thỏa mãn nhu cầu
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tiêu dùng của người đi vay. Tuy nhiên chủ thể đi vay
không có quyền sở hữu giá trị đó, mà chỉ có thể sử dụng trong một thời gian nhất định.
2 Gs. Ts Lê Văn Tư, “Tiền tệ, tín dụng, ngân hàng trong cơ chế thị trường”, Đại học kinh tế TP.Hồ Chí Minh,
trang 97.
3 PGs-PTs. Dương Thị Bình Minh, “Lý thuyết Tiền tệ”, Nxb Giáo dục, 1998, trang 100.

GVHD : Lê Huỳnh Phương Chinh

11

SVTH : Võ Đại Nam


Chế độ pháp lý về hợp đồng tín dụng ngắn hạn


bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở) để ổn định nền kinh tế.
Tín dụng góp phần nâng cao đời sống dân cư, giải quyết việc làm và đảm bảo trật
tự xã hội :
Với các hình thức tín dụng đa dạng, cơ chế và lãi suất thích hợp, tín dụng đã đáp ứng
nhu cầu của phần lớn các cá nhân bình dân và nghèo khó đang cần nguồn vốn để tạo
GVHD : Lê Huỳnh Phương Chinh

12

SVTH : Võ Đại Nam


Chế độ pháp lý về hợp đồng tín dụng ngắn hạn

lập cuộc sống, từ đó giúp họ có phương tiện sản xuất kinh doanh, giải quyết được việc
làm cho đông đảo dân cư, giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước và đảm bảo công bằng,
ổn định xã hội.
Tín dụng góp phần mở rộng các quan hệ hợp tác quốc tế :
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường mở, hoạt động tín dụng không chỉ bó
hẹp trong nền kinh tế của một quốc gia mà còn mở rộng trên phạm vi quốc tế. Nhờ có
tín dụng, mà các nước nghèo khó và đang phát triển đã có thể thực hiện các khoản vay
lớn từ nước ngoài, nhằm đáp ứng các nhu cầu cho quốc gia mình. Đồng thời, tín dụng
cũng tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư quốc tế và giúp cho các nước tiến lại gần
nhau hơn trong các quan hệ ngoại nhau.
1.2 Khái quát chung về Hợp đồng tín dụng ngắn hạn
1.2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng và Hợp đồng tín dụng
Khái niệm tín dụng ngân hàng :
Tín dụng ngân hàng phản ánh quan hệ vay mượn vốn tiền tệ giữa các tổ chức tín
dụng với các chủ thể khác (các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và cơ quan Nhà nước
các cấp) trong nền kinh tế. Trong đó, tổ chức tín dụng xuất hiện với vai trò là người

ngân hàng thích hợp với nhiều đối tượng xin vay và cho vay.
- Khuyết điểm của Tín dụng ngân hàng :
Khuyết điểm của tín dụng ngân hàng chính là những rủi ro về khả năng thu hồi
nợ vay. Khuyết điểm này gắn liền với những ưu điểm của tín dụng ngân hàng, bởi vì
tổ chức tín dụng có thể cho vay với các khoản vay lớn hơn so với số vốn tự có của
mình, đồng thời phạm vi cho vay rất rộng nên những rủi ro về các khoản nợ không
được thu hồi đầy đủ là khá cao.
Khái niệm Hợp đồng tín dụng :
Hợp đồng tín dụng là hình thức pháp lý của quan hệ tín dụng giữa tổ chức tín
dụng và khách hàng. Điều này có nghĩa Hợp đồng tín dụng phản ánh sự thỏa thuận
trực tiếp giữa tổ chức tín dụng và khách hàng trong việc xác lập các quyền và nghĩa vụ
pháp lý cụ thể của các bên trong quá trình vay vốn.
Xuất phát từ vai trò của tín dụng trong nền kinh tế cũng như nhằm bảo đảm sự an
toàn của hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, Quốc hội nước ta đã
dựa trên các quy định của Bộ Luật dân sự năm 2005 để có những quy định chung đối
với Hợp đồng tín dụng và coi đây là một dạng của hợp đồng vay tài sản. Bên cạnh đó
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên
quan đến Hợp đồng tín dụng, điển hình là Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày
31 tháng 12 năm 2001 về Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng
(sau đây gọi tắt là Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN) và Quyết định số 127/2005/QĐNHNN ngày 03 tháng 02 năm 2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều cuả Quy chế
cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số
1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước (sau đây gọi tắt là Quyết định 127/2005/QĐ-NHNN) và gần đây nhất là Quyết
định số 783/2005/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước về việc “sửa đổi, bổ sung
Khoản 6 Điều 1 của Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cho vay
của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐNHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước” nhằm quy
định về nội dung cơ bản của Hợp đồng tín dụng phải bao gồm : “về điều kiện vay, mục
đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay,
hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết

phải đảm bảo những nguyên tức chung của một hợp đồng dân sự, các nguyên tắc đó
như sau :
Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức
xã hội6 :
Các bên tham gia ký kết hợp đồng tín dụng ngắn hạn có quyền tự do thỏa thuận
các điều khoản trong hợp đồng nhưng không có nghĩa các bên muốn thỏa thuận với
nhau thế nào cũng được, ý chí của các bên chỉ được pháp luật tôn trọng khi nó phù hợp
với các quy định của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội. Nguyên tắc này có ý
nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ trật tự, kỷ cương của Nhà nước trong hoạt động
kinh doanh và bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội. Ví dụ : trong một Hợp đồng tín
dụng ngắn hạn có điều khoản “ Ngân hàng có quyền thu hồi đầy đủ số nợ quá hạn
bằng mọi biện pháp....”, điều khoản này có vẻ mập mờ và có thể khi thu hồi nợ quá
hạn ngân hàng dùng những biện pháp cưỡng chế bằng vũ lực hoặc muốn thu hồi đầy
5 Điều 17 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN.
6 Khoản 1 Điều 389 Bộ Luật dân sự năm 2005.

GVHD : Lê Huỳnh Phương Chinh

15

SVTH : Võ Đại Nam


Chế độ pháp lý về hợp đồng tín dụng ngắn hạn

đủ số nợ nên đã niêm phong căn nhà ở duy nhất của Bên vay, như vậy đây là đều
khoản mà pháp luật cấm và trái với đạo đức xã hội.
Nguyên tắc tự nguyện và bình đẳng7 :
Hợp đồng tín dụng ngắn hạn là sự thỏa thuận của các bên tham gia ký kết, do đó
việc ký kết hợp đồng phải dựa trên cơ sở tự do ý chí của các bên. Việc bày tỏ ý chí đó

GVHD : Lê Huỳnh Phương Chinh

16

SVTH : Võ Đại Nam


Chế độ pháp lý về hợp đồng tín dụng ngắn hạn

lỗ, thậm chí phá sản thì sẽ dẫn đến hệ quả tiêu cực là khách hàng chậm thanh toán
khoản nợ vay hoặc không có khả năng trả đầy đủ số nợ và lãi suất đã vay, điều này sẽ
khiến tăng các khoản nợ xấu và giảm lọi nhuận đối với tổ chức tín dụng.
Hoàn trả vốn gốc và lãi suất đúng hạn :
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo cho các tổ chức tín dụng tồn tại và hoạt động bình
thường. Bởi vì nguồn vốn cho vay của tổ chức tín dụng chủ yếu là nguồn vốn huy
động, đó là một bộ phận tài sản của các chủ sở hữu mà tổ chức tín dụng tạm thời quản
lý và sử dụng, cho nên tổ chức tín dụng có nghĩa vụ đáp ứng các yêu cầu rút tiền khi
khách hàng cần. Vì thế, trong trường hợp các khoản vay không được hoàn trả vốn và
lãi đúng hạn thì sẽ ảnh hưởng đến uy tín và khả năng thanh toán của tổ chức tín dụng,
đồng thời khiến những lợi nhuận kinh doanh của tổ chức tín dụng giảm sút. Do đó,
nguyên tắc hoàn trả vốn gốc và lãi suất đúng hạn cũng được các tổ chức tín dụng dặc
biệt quan tâm.
1.2.4 So sánh giữa hợp đồng tín dụng ngắn hạn và hợp đồng tín dụng thương
mại
Khái niệm về Tín dụng thương mại :
Tín dụng thương mại phản ánh các quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa những
người sản xuất kinh doanh, được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa8.
Từ khái niệm về tín dụng thương mại nêu trên, ta có thể thấy được sự giống nhau
của hai loại hợp đồng tín dụng ngắn hạn và hợp đồng tín dụng thương mại ở chỗ đều là
hình thức pháp lý của hoạt động vay vốn và chịu sự điều chỉnh chung bởi những quy

tiền tệ, Hợp đồng tín dụng ngắn hạn đã tạo được sự nhanh chóng và dễ dàng hơn cho
quá trình vay cũng như đáp ứng các nhu cầu đa dạng của khách hàng vay. Ví dụ :
Doanh nghiệp A cần mua gấp hàng hóa của các doanh nghiệp B,C,D nhưng chưa đủ
tiền, lúc này doanh nghiệp A có thể đến mua chịu số hàng hóa đó thông qua việc ký
kết từng Hợp đồng tín dụng thương mại với ba doanh nghiệp kia, điều này rất mất thời
gian và công sức đối với cả bốn doanh nghiệp trên, hoặc doanh nghiệp A có thể đến tổ
chức tín dụng để lập một Hợp đồng tín dụng ngắn hạn vay một số tiền, rồi sau đó liên
hệ với các doanh nghiệp B,C,D để mua sản phẩm và nếu số tiền vay còn dư thì doanh
nghiệp A có thể dùng vào các nhu cầu khác, điều này có vẻ đơn giản và nhanh chóng
hơn.
 Về chủ thể và quy mô của hợp đồng :
Hợp đồng tín dụng thương mại có chủ thể là những người sản xuất kinh doanh
thuộc mọi loại hình sở hữu, mọi ngành nghề. Nghĩa là, chỉ có các doanh nghiệp (người
sản xuất, kinh doanh hàng hóa) mới được tham gia vào hoạt động vay. Điều này đã
dẫn đến hệ quả là Hợp đồng tín dụng thương mại có quy mô nhỏ do các doanh nghiệp
chỉ có thể cung ứng khối lượng tín dụng trong khả năng vốn hàng hóa của mình, đồng
thời, phạm vi cho vay của dạng hợp đồng này cũng hạn hẹp do chỉ giới hạn trong các
doanh nghiệp có cung và cầu hàng hóa phù hợp.
Trong khi đó, chủ thể tham gia Hợp đồng tín dụng ngắn hạn rất đa dạng, đặc biệt
bên cho vay luôn là các tổ chức tín dụng và bên đi vay có thể là mọi tổ chức, cá nhân
trong xã hội (trừ trường hợp vi phạm Điều 126 về “Những trường hợp không được cấp
tín dụng” của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và các điều cấm khác của pháp luật
Việt Nam nói chung). Điều này cho thấy, phạm vi cho vay của Hợp đồng tín dụng
ngắn hạn là tương đối rộng. Đồng thời quy mô cho vay của nó là không nhỏ, bởi vì
ngoài số vốn hiện có của mình, tổ chức tín dụng còn có thể huy động vốn trong xã hội
để hổ trợ cho vay.
 Về mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng :
Đối với Hợp đồng tín dụng thương mại, do đối tượng vay là hàng hóa và các doanh
nghiệp cho vay dựa trên mối quan hệ thân thiết và tin tưởng lẫn nhau nên về mục đích
GVHD : Lê Huỳnh Phương Chinh


Chế độ pháp lý về hợp đồng tín dụng ngắn hạn

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGẮN
HẠN
2.1 Quy định pháp luật về chủ thể của hợp đồng tín dụng ngắn hạn
Hợp đồng tín dụng ngắn hạn nói riêng và hợp đồng tín dụng nói chung về bản
chất là một hợp đồng song vụ, chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng ngắn hạn bao gồm
Bên cho vay (bắt buộc phải là tổ chức tín dụng) và Bên đi vay (các tổ chức, cá nhân có
đủ những điều kiện do luật định). Các chủ thể này khi tham gia giao dịch hợp đồng tín
dụng ngắn hạn phải thỏa mãn những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật.
Việc quy định các điều kiện chủ thể đối với bên vay và bên cho vay không chỉ nhằm
tạo cơ sở pháp lý cho sự đánh giá hiệu quả của hợp đồng tín dụng ngắn hạn, mà còn
góp phần nâng cao kỹ năng giao kết hợp đồng tín dụng cũng như củng cố kỷ luật hợp
đồng đối với các chủ thể tham gia giao dịch tín dụng.
2.1.1 Bên cho vay
2.1.1.1 Điều kiện về tư cách chủ thể của Bên cho vay
Bên cho vay trong hợp đồng tín dụng ngắn hạn luôn là tổ chức tín dụng. Tổ chức
tín dụng có đủ những điều kiện do pháp luật quy định, ngoài ra các tổ chức khác không
phải là tổ chức tín dụng được Ngân hàng nhà nước cho phép thực hiện hoạt động tín
dụng cũng có thể là Bên cho vay trong Hợp đồng tín dụng ngắn hạn và cũng phải thỏa
mãn các điều kiện giống như đối với Bên cho vay là tổ chức tín dụng.
Theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, một tổ chức tín dụng ngân
hàng muốn trở thành chủ thể trong hợp đồng tín dụng ngắn hạn phải thỏa mãn đầy đủ
các điều kiện sau :
 Có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng nhà nước cấp9
 Có điều lệ do Ngân hàng nhà nước chuẩn y10
 Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có đủ vốn pháp định và có trụ sở phù
hợp với yêu cầu hoạt động của ngân hàng11. Yêu cầu về vốn pháp định của tổ chức tín
dụng được pháp luật quy định cụ thể tại Nghị định số 141/2006/NĐ-CP của Chính phủ

văn bản cho người khác là người quản lý, người điều hành của tổ chức tín dụng đang
cư trú tại Việt Nam để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.
Từ sự phân tích trên cho thấy, pháp luật đã có những quy định chặt chẽ và cụ thể
về điều kiện để tổ chức tín dụng trở thành bên cho vay trong Hợp đồng tín dụng ngắn
hạn. Tuy những điều kiện đó có vẻ khắt khe và phức tạp nhưng đổi lại nó đã hạn chế
và loại trừ những tổ chức tín dụng không đủ tiêu chuẩn kinh doanh trên thị trường tài
chính, đồng thời góp phần lành mạnh hóa các quan hệ tín dụng. Ngoài ra đây cũng là
căn cứ để thẩm định và đánh giá hiệu lực pháp lý của Hợp đồng tín dụng ngắn hạn.
2.1.1.2 Quyền và nghĩa vụ của Bên cho vay
Với tư cách là bên cấp tín dụng, đồng thời là chủ nợ trong quan hệ tín dụng, bên
cho vay có những quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản sau :
Nghĩa vụ của Bên cho vay :
Nghĩa vụ chuyển giao tiền vay đầy đủ, đúng thời hạn và địa điểm cho khách hàng
vay sử dụng (tức là nghĩa vụ giải ngân), nghĩa vụ này phát sinh do việc bên cho vay đã
cam kết cho khách hàng vay được sử dụng số tiền của mình trong một thời hạn nhất
định, với điều kiện có hoàn trả. Mặt khác, cơ sở để quy định nghĩa vụ này đối với bên
cho vay là khách hàng chỉ có thể thực hiện được quyền sử dụng vốn vay và có nghĩa
vụ hoàn trả tiền vay khi nào có bằng cớ chứng minh rằng họ đã nhận được tiền vay do
bên cho vay chuyển giao đúng thời hạn đã thỏa thuận. Tuy vậy nếu bên cho vay vi
phạm nghĩa vụ này (nghĩa vụ giải ngân) như giải ngân chậm hoặc không theo thỏa
thuận trong hợp đồng, thì vấn đề trách nhiệm pháp lý của họ như thế nào. Trong
trường hợp này thì theo quy định tại Điều 417 Bộ luật dân sự năm 2005 và Điểm b
Khoản 1 Điều 24 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN Khách hàng có quyền khởi kiện,
GVHD : Lê Huỳnh Phương Chinh

21

SVTH : Võ Đại Nam



và nghĩa vụ của bên cho vay, dễ dẫn đến tình trạng nhầm lẫn trong việc thực hiện nó.

GVHD : Lê Huỳnh Phương Chinh

22

SVTH : Võ Đại Nam


Chế độ pháp lý về hợp đồng tín dụng ngắn hạn

2.1.2 Bên vay
2.1.2.1 Điều kiện về tư cách chủ thể của Bên vay
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 1 Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN về việc
sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách
hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001
:
“ Khách hàng vay tại tổ chức tín dụng là các tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước
ngoài có nhu cầu vay vốn, có khả năng trả nợ để thực hiện các dự án đầu tư, phương
án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống ở
trong nước và nước ngoài”.
Bên cạnh đó, căn cứ theo Khoản 1 Điều 7 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN
ngày 31/12/2001 của Ngân hàng Nhà nước về Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng
đối với khách hàng thì “chủ thể vay phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành
vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật”.
Như vậy, chủ thể của Bên vay trong Hợp đồng tín dụng ngắn hạn không chỉ là
những tổ chức, cá nhân trong nước mà còn có cả những tổ chức, cá nhân nước ngoài
đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam, có nhu cầu vay vốn và có đầy đủ năng lực
hành vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự. Tuy nhiên, cả hai văn bản pháp luật trên,
chỉ quy định chung chung về điều kiện chủ thể của cá nhân, tổ chức nước ngoài, trong

dụng có quyền phạt vi phạm hợp đồng đối với Bên vay hoặc có thể đơn phương chấm
dứt hợp đồng để thu hồi nợ trước hạn, còn đối với trường hợp Bên vay vi phạm nghĩa
vụ trả nợ vay đầy đủ và đúng hạn thì tổ chức tín dụng có quyền phạt vi phạm hợp đồng
đối với Bên vay bằng cách áp dụng lãi suất nợ quá hạn đối với các khoản tiền vay
chậm thanh toán, đồng thời có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo thỏa thuận
để thu hồi nợ, chẳng hạn như trích tiền trên tài khoản tiền gửi của Bên vay hoặc phát
mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
2.2 Quy định pháp luật về hình thức của hợp đồng tín dụng ngắn hạn
Pháp luật không quy định cụ thể về hình thức của hợp đồng tín dụng ngắn hạn,
nhưng căn cứ từ giá trị tài sản bảo đảm tiền vay và số tiền cho vay tương đối lớn, đồng
thời các bên phải thỏa thuận với nhau về nhiều điều khoản (về số tiền vay, mục đích
vay, lãi suất, thời hạn vay, thời hạn trả nợ...). Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 1 Điều
407 Bộ Luật dân sự năm 2005 về Hợp đồng dân sự theo mẫu :
“Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu
để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận
thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa
ra”.
Và thực tế cũng đã chứng minh rằng, trong quá trình cho vay vốn, thì việc giao
kết giữa tổ chức tín dụng và khách hàng luôn được thực hiện thông qua một bản hợp
đồng mẫu do chính tổ chức tín dụng soạn ra.
Từ những phân tích và lý luận trên, có thể thấy mặc dù pháp luật chưa có những
quy định rõ ràng về hình thức của Hợp đồng tín dụng ngắn hạn nhưng từ những quy
định chung về hợp đồng của Bộ Luật dân sự năm 2005 và từ thực tế, cho thấy Hợp
đồng tín dụng ngắn hạn luôn được lập dưới hình thức văn bản.
Tóm lại, hiện nay hình thức của Hợp đồng tín dụng ngắn hạn được lập mặc nhiên
dưới dạng văn bản. Dù vậy, các nhà làm luật cần có những văn bản hướng dẫn cụ thể
hơn về hình thức của dạng hợp đồng này, bởi vì trong thời đại kỹ thuật số phát triển
cao như hiện nay, thì việc Hợp đồng tín dụng ngắn hạn được soạn theo dạng văn bản
viết tay (có chữ ký viết tay và con dấu) hay theo dạng văn bản điện tử (chỉ hiện thị trên
máy tính, có chữ ký điện tử...) đang là vấn đề mà các tổ chức tín dụng quan tâm.

dụng khác muốn tồn tại và phát triển phải không ngừng sáng tạo ra những phương
hướng và chiến lược huy động vốn và cho vay với mục tiêu chính là thu lợi nhuận từ
hoạt động cho vay. Vì thế các tổ chức tín dụng có quyền cạnh tranh công bằng, lành
mạnh đúng quy định của Luật cạnh tranh hiện hành.
2.3.1.2 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng ngắn hạn
Theo quy định tại Điều 396 Bộ Luật dân sự năm 2005 về chấp nhận đề nghị giao
kết hợp đồng :
“Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên
đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị”.
Như vậy, căn cứ vào điều luật thì chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng
ngắn hạn có thể hiểu là hành vi pháp lý do bên nhận đề nghị (thông thường là tổ chức
tín dụng) thực hiện dưới hình thức văn bản chính thức gửi cho bên kia (bên đề nghị
giao kết hợp đồng) với nội dung thể hiện sự đồng ý giao kết hợp đồng.
Về lý thuyết, việc trả lời chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng tín dụng ngắn hạn của
tổ chức tín dụng có vẻ đơn giản. Tuy nhiên, trên thực tế, để tổ chức tín dụng chấp nhận
GVHD : Lê Huỳnh Phương Chinh

25

SVTH : Võ Đại Nam



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status