LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại HOẠT ĐỘNG KINH DOANH của DOANH NGHIỆP bảo HIỂM NHÂN THỌ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM - Pdf 48

z

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT KINH DOANH - THƢƠNG MẠI



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 33 (2007-2011)
Đề tài:

HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM NHÂN THỌ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn:
Đoàn Nguyễn Minh Thuận

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Thúy Kiều
Mssv: 5075036
Lớp: LK0764A1

Cần Thơ, Tháng 5/2011


NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƢỚNG DẪN
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................

..............................................................................................................................
..............................................................................................................................


NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ PHẢN BIỆN
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................

THỌ ................................................................................................................. 15
1.2.1 Khái niệm về doanh nghiêp̣ kinh doanh bảo hiể m nhân thọ ............. 15
1.2.2 Đặc điểm của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ............ 16
1.2.2.1 Doanh nghiệp hoạt động theo quy định của pháp luật ..................... 16
1.2.2.2 Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là pháp nhân............ 18
1.2.2.3 Doanh nghiệp không được phép kinh doanh đồng thời bảo hiểm
nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ .............................................................. 18
1.2.3 Vai trò của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ................ 19
1.2.4 Nội dung hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân
thọ .................................................................................................................... 20
1.2.5 Pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kinh
doanh bảo hiểm nhân thọ ............................................................................ 21
CHƢƠNG 2 QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HOA ̣T ĐỘNG CỦ A DOANH
NGHIỆP KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ ..................................... 25
2.1 HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ ....................... 25
2.1.1 Kinh doanh bảo hiểm .......................................................................... 25
2.1.1.1 Khái niệm kinh doanh bảo hiểm........................................................ 25
2.1.1.2 Đặc điểm của kinh doanh bảo hiểm .................................................. 25
2.1.1.3 Các sản phẩm kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ................................. 26
2.1.2 Kinh doanh tái bảo hiểm..................................................................... 32
2.1.2.1 Khái niệm về tái bảo hiểm .................................................................. 32
2.1.2.2 Các hình thức tái bảo hiểm ................................................................. 35
2.1.2.3 Phương thức tái bảo hiểm ................................................................... 37
2.2 HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ VỐN ................................................................... 39
2.2.1 Khái niệm và đặc điểm hoạt động đầu tƣ vốn ................................... 39
2.2.2 Nguồn vốn đầu tƣ của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ .................. 40
2.2.3 Các hình thức đầu tƣ........................................................................... 43


2.2.3.1 Cho vay có thế chấp ............................................................................ 43

ổn định và việc đầu tư cho tương lai ngày càng được mọi người quan tâm. Mặt
khác, trong cuộc sống hằng ngày dù đã luôn chú ý ngăn ngừa nhưng con người
vẫn luôn đối mặt những nguy cơ rủi ro xảy ra không thể lường trước được ảnh
hưởng đến khả năng tài chính của họ. Bảo hiểm nhân thọ ra đời phần nào đáp
ứng những nhu cầu đó. Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ngày càng đóng vai trò
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nó không chỉ thực hiện việc huy động
vốn cho nền kinh tế mà còn góp phần ổn định tài chính cho các cá nhân, gia đình,
giải quyết việc làm cho người lao động. Đó là những bằng chứng không thể phủ
nhận về vai trò to lớn cũng như một tương lai phát triển của bảo hiểm nhân thọ
trong thực tế.
Trong hoạt động kinh doanh của các công ty bảo hiểm nhân thọ, cùng với
việc tăng cường hoạt động kinh doanh bảo hiểm, vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt
động đầu tư vốn mà các doanh nghiệp đang sở hữu là một trong những vấn đề
quan trọng đặc biệt trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhất là trong
điều kiện thị trường hiện nay ngày càng cạnh tranh gay gắt do có sự tham gia của
nhiều doanh nghiệp, dưới tác động của chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế
quốc tế. Trải qua hơn 10 năm hoạt động, bảo hiểm nhân thọ đã mang lại những
lợi ích to lớn cho sự phát triển nền kinh tế xã hội và lợi ích của người tham gia
bảo hiểm, là công cụ thu hút vốn đầu tư hiệu quả.
Hiện nay, theo đánh giá của một số chuyên môn trong ngành, thị trường bảo
hiểm nhân thọ còn nhiều tiềm năng chưa khai thác. Với sự góp mặt của các công
ty bảo hiểm nhân thọ trên thị trường ngày càng nhiều và đang diễn ra sự cạnh
tranh gay gắt. Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh
tế đất nước, bảo hiểm nhân thọ còn một số vấn đề đáng quan tâm. Hoạt động bảo
hiểm nhân thọ là hoạt động mang tính nghiệp vụ cao, kiến thức trong lĩnh vực
này mới mẻ, lạ lẫm ngay cả với những người trong nghề. Trong khi đó, sự hiểu
biết của người dân về bảo hiểm nhân thọ còn hạn chế. Thêm vào đó, môi trường
pháp lý điều chỉnh riêng lĩnh vực này vẫn chưa hoàn thiện. Đó là lý do người viết
chọn đề tài “Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ theo
pháp luật Việt Nam” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.

những khó khăn trong quá trình thực hiện các quy định đó. Trên cơ sở đó đề xuất
một số giải pháp giúp doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thể hiện tốt hơn vai trò
của mình là một tổ chức trung gian tài chính.

4. Phƣơng pháp nghiên cƣ́u đề tài
Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết sử dụng các phương pháp cụ
thể như: phương pháp liệt kê, phương pháp phân tích luật viết, phương pháp so
sánh, tổng hợp, phương pháp thu thập tổng hợp và xử lý thông tin, phương pháp
nghiên cứu tài liệu để thực hiện việc nghiên cứu đề tài.

5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn đóng góp của luận văn
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ còn rất mới mẻ, vì vậy kết quả
nghiên cứu luận văn góp phần vào việc nghiên cứu các hoạt động của doanh
nghiệp và hoàn thiện các quy định của pháp luật điều chỉnh về hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, đồng thời chỉ ra những
điểm chưa phù hợp với thực tiễn kinh doanh cần bổ sung, góp phần tạo môi
trường pháp lý chuẩn mực hơn cho các doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động bảo
hiểm nhân thọ ngày càng phát triển phục vụ đời sống kinh tế, xã hội, nhất là
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay.

GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận

Trang 2

SVTH: Nguyễn Thị Thúy Kiều


Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ theo pháp luật Việt Nam

6. Kế t cấ u của luâ ̣n văn

1.1.1.1 Trên thế giới
Khoảng 4500 năm trước công nguyên những người thợ đẽo đá ở Ai Cập đã
lập ra các quỹ giúp đỡ tương hỗ, chia sẽ rủi ro cho những người gặp hoạn nạn.
Còn những người Trung Hoa cổ đại, thời nhà Chu vào khoảng 500 năm trước
công nguyên cũng đã sử dụng kỹ thuật phân chia rủi ro đơn giản bằng cách tổ
chức các đoàn thuyền vận chuyển hàng hóa và súc vật trên dòng sông Hương Tử.
Trong đó hàng hóa của các chủ hàng được chia nhỏ cho mỗi thuyền viên chở,
nếu thuyền viên nào bị chìm thì các thương gia cùng nhau gánh chịu.
Ở Babylone, vào khoảng 1700 năm trước công nguyên và ở Athens (HyLap)
khoảng 500 năm trước công nguyên đã xuất hiện quan hệ tín dụng với lãi suất
cao trong lĩnh vực buôn bán, vận chuyển hàng hóa trên biển và qua sa mạc. Tại
Rome, hệ thống cho vay với lãi suất có thể trên 50%. Đó là một sự kết hợp giữa
hoạt động tín dụng với ý đồ bảo hiểm và do bằng cơ chế chấp nhận rủi ro nên
được mệnh danh là “cho vay mạo hiểm lớn”. Sau này chế độ cho vay mạo hiểm
lớn dần dần trở thành bảo hiểm hàng hải.
Sau bảo hiểm hàng hải là bảo hiểm khác ra đời. Ngày 2 tháng 9 năm 1666,
tại London hỏa hạn đã xảy ra và kéo dài trong nhiều ngày, thêu cháy khoảng
13.200 nóc nhà, trong đó có 87 nhà thờ. Mức độ nghiêm trọng của thảm họa đã
khiến các nhà chức trách thành phố London mở văn phòng cháy đầu tiên vào
năm 1667. Năm 1684 công ty bảo hiểm cháy đầu tiên ra đời, lấy tên là Friendly
Society Fire Office. Công ty hoạt động trên nguyên tắc tương hổ với hệ thống phí
bảo hiểm cố định, người được bảo hiểm phải chịu một phần thiệt hại xảy ra. Sau
đó nhiều công ty bảo hiểm tiếp tục ra đời như ở Anh như: Amicable (1696), Sun
(1710), Union (1714), London (1714), Westminister (1717). Tại Pháp, Văn
phòng bảo hiểm hỏa hoạn mang tên “La Royal incendie” do Claver thành lập
năm 1786 tại Paris.1
Ở nước Anh, năm 1583, một thuyền trưởng nảy ra ý kiến yêu cầu công ty
bảo hiểm phi nhân thọ đang bảo hiểm cho con tàu và hàng hoá của ông hãy bán
thêm hợp đồng bảo hiểm cho sinh mạng của mình. Hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ
1

ty khác là Kyoei và Nippon ra đời và phát triển cho đến ngày nay. Các nước Xã
hội chủ nghĩa trước đây đã triển khai bảo hiểm nhân thọ. Công ty bảo hiển nhân
thọ ở Liên Xô cũ ra đời vào năm 1929 Capitar.
Ngày nay bảo hiểm nhân thọ càng ngày càng phát triển mạnh mẽ trên thế
giới do nền sản xuất công nghiệp phát triển. Bảo hiểm nhân thọ đã phát triển rất
tinh vi, sản sinh ra nhiều loại mạng lưới phục vụ và đa dạng hóa dịch vụ để phát
triển hài hòa phù hợp với một quốc gia của mình. Hiện nay có 5 thị trường bảo
hiểm nhân thọ lớn đó là: Mỹ, Nhật, Đức, Anh và Pháp.

1.1.1.2 Ở Việt Nam
Bảo hiểm là một nhu cầu tất yếu khách quan của con người và ra đời từ rất
lâu trên thế giới. Tuy nhiên ở Việt Nam, bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân
thọ nói riêng ra đời tương đối muộn. Sự ra đời và phát triển của ngành bảo hiểm
gắn liền với những sự kiện lịch sử của đất nước.
Ở miền Bắc, vào năm 1964 chính phủ đã ký Quyết định 179/CP ngày
17/12/1964 cho phép thành lập công ty bảo hiểm Việt Nam (tên giao dịch là Bảo
2

Gs.ts.Trương Mộc Lâm,Lưu Nguyên Khánh: Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm

nhà xuất bản thống kê Hà Nội-2000

GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận

Trang 5

SVTH: Nguyễn Thị Thúy Kiều


Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ theo pháp luật Việt Nam

Chính sách mở cửa vào năm 1987 đã tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm Việt
Nam được học hỏi và tiếp cận với những kỹ thuật bảo hiểm mới trên thế giới. Từ
kinh nghiệm các nước, Bảo Việt lúc đó vẫn là công ty bảo hiểm duy nhất ở Việt
Nam, đã thấy được tiềm năng to lớn của bảo hiểm nhân thọ ở nước ta. Vì vậy,
Bảo Việt bắt đầu nghiên cứu triển khai bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam với đề án
3

Võ Thị Pha:Giáo trình lý thuyết bảo hiểm, nhà xuất bản tài chính năm 2005,trang 41

GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận

Trang 6

SVTH: Nguyễn Thị Thúy Kiều


Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ theo pháp luật Việt Nam

“Bảo hiểm nhân thọ và điều kiện triển khai ở Việt Nam”, nhưng lúc đó chưa có
đủ điều kiện vì: Thu nhập dân cư còn thấp, kinh tế còn kém phát triển, tỷ lệ lạm
phát còn cao, thị trường tài chính chưa phát triển, chưa có môi trường đầu tư và
các công ty bảo hiểm chưa được phép hoạt động trong lĩnh vực đầu tư, chưa có
văn bản pháp Luật điều chỉnh mối quan hệ giữa công ty bảo hiểm và khách hàng,
đội ngũ cán bộ bảo hiểm lúc đó chưa được trang bị những kiến thức về nghiệp vụ
bảo hiểm nhân thọ. Do đó, Bảo Việt chỉ triển khai bảo hiểm sinh mạng có thời
hạn 1 năm (bảo hiểm nhân thọ tử kỳ thời hạn 1 năm). Đây là loại hình bảo hiểm
nhân thọ đơn giản nhất và có nhiều đặc điểm tương đồng với bảo hiểm con người
phi nhân thọ.
Sau thời kỳ đổi mới kinh tế được 10 năm, nền kinh tế Việt Nam đã có những
bước phát triển vượt bậc, lạm phát đã được đẩy lùi, tốc độ tăng trưởng kinh tế


Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ theo pháp luật Việt Nam

giai đoạn độc quyền nhà nước về bảo hiểm và bắt đầu đi vào phát triển và có sự
cạnh tranh.
Ngày 09 tháng 12 năm 2000 Quốc Hội đã thông qua Luật kinh doanh bảo
hiểm, tạo hành lang pháp lý hoàn chỉnh cho thị trường bảo hiểm Việt Nam. Nhờ
có Luật kinh doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm cạnh tranh bình đẳng
hơn và đang thực sự là động lực thúc đẩy thị trường bảo hiểm Việt Nam, đặc biệt
là thị trường bảo hiểm nhân thọ phát triển.4
Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam ra đời và phát triển đến nay đã được hơn 10
năm, từ chỗ chỉ có Bảo Việt là doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất kinh doanh bảo
hiểm nhân thọ, cho đến nay thị trường bảo hiểm nhân thọ đã phát triển sôi động
và hấp dẫn rất nhiều các công ty bảo hiểm nước ngoài vào đầu tư và kinh doanh.
Tính đến nay thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã có 12 doanh nghiệp kinh
doanh bảo hiểm nhân thọ hoạt động (có thể tham khảo các công ty bảo hiểm
nhân thọ ở Việt Nam tại phần phụ lục).
Với sự tham gia của các tổ chức bảo hiểm nước ngoài vào thị trường Việt
Nam đã đáp ứng đa dạng, đầy đủ nhu cầu của người dân. Đồng thời cũng làm
tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, nâng cao năng lực của thị trường
bảo hiểm Việt Nam so với thế giới, đây cũng là kênh thu hút vốn của người dân.
Mặt khác, cũng thể hiện sự cam kết mở cửa thị trường tạo môi trường thuận lợi
cho nhà đầu tư tin tưởng tiếp tục đầu tư vào Việt Nam và cũng để chứng minh
cho sự gia nhập của Việt Nam vào thị trường thế giới. Có thể nói thị trường bảo
hiểm nhân thọ Việt Nam đang từng bước hội nhập với thị trường bảo hiểm nhân
thọ khu vực và trên thế giới.
1.1.2 Khái niệm bảo hiểm nhân thọ
Theo Luật kinh doanh bảo hiểm được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua và có hiệu lực từ 01/04/2001 thì “Bảo hiểm nhân thọ
là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc

1.1.3 Đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ
Bảo hiểm nhân thọ là hoạt động vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính
rủi ro
Đây là đặc điểm cơ bản nhất của bảo hiểm nhân thọ. Khi tham gia bảo hiểm
nhân thọ người mua sẽ đóng một số tiền (phí bảo hiểm) cho người bảo hiểm,
ngược lại thì người bảo hiểm có trách nhiệm trả một số tiền (tiền bảo hiểm) cho
người nhận bảo hiểm như đã thỏa thuận trước trong hợp đồng khi có sự kiện xảy
ra. Số tiền bảo hiểm sẽ được trả khi người được bảo hiểm sống đến một độ tuổi
nhất định ghi trong hợp đồng, hoặc cho người thân, người thừa hưởng khi người
thừa hưởng chết hay có rủi ro xảy ra. Số tiền bảo hiểm tuy không bù đắp được
những tổn thất về tinh thần, tình cảm nhưng nó cũng có tác dụng bù đắp một
phần tổn thất về mặt tài chính giúp cho những người còn sống, người thụ hưởng
trang trải cuộc sống cho những chi phí cần thiết như: thuốc men, viện phí, mai
táng, chi phí nuôi dạy con cái, phát triển kinh doanh…
Cá nhân khi tham gia bảo hiểm nhân thọ đã thể hiện được tính tiết kiệm một
cách có kế hoạch, hợp lý và hiệu quả. Nội dung tham gia bảo hiểm nhân thọ khác
với các hình thức tiết kiệm khác ở chỗ người tham gia bảo hiểm sẽ tích lũy được
một số tiền tài chính mà còn bảo vệ cho bản thân và người thân họ khi có rủi ro
xảy ra. Khi có rủi ro xảy ra người được thụ hưởng sẽ nhận được số tiền bảo hiểm
rất lớn từ doanh nghệp bảo hiểm khi họ chỉ mới tiết kiệm một khoản tiền rất nhỏ.
Điều này đã thể hiện được tính rủi ro và tiết kiệm của bảo hiểm nhân thọ.
Bảo hiểm nhân thọ đáp ứng nhiều nhu cầu mục đích của người tham gia
bảo hiểm
Đây cũng là điểm khác nhau cơ bản của bảo hiểm nhân thọ so với bảo hiểm
phi nhân thọ và bảo hiểm khác. Đối với bảo hiểm phi nhân thọ thì mục đích là
góp phần khắc phục hậu quả khi đối tượng tham gia Bảo hiểm gặp rủi ro, từ đó
góp phần ổn định tài chính cho người tham gia. Còn Bảo hiểm nhân thọ vừa
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận

Trang 9

hiểm nhân thọ gắn liền với chu kì “sinh, lão, bệnh, tử” của con người), do vậy
bảo hiểm nhân thọ không thể bù đắp lại được những tổn thất về sinh mạng, sức
khỏe khả năng lao động và tinh thần cho người được bảo hiểm và người thân của
họ mà chỉ bù đắp lại một phần nào những thiệt hại về mặt tài chính mà những tổn
thất này gây ra.
Bảo hiểm nhân thọ có tính hợp đồng rất phức tạp và đa dạng
Ngoài những đặc điểm trên thì tính đa dạng và phức tạp trong các hợp đồng
Bảo hiểm nhân thọ cũng được thể hiện và thể hiện ở ngay trong các sản phẩm
của nó. Mỗi sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ cũng có nhiều loại hợp đồng khác
nhau, chẳng hạn có loại Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp thời hạn là 5 năm, 10 năm,
20 năm. Mỗi hợp đồng khác nhau lại có sự khác nhau về số tiền bảo hiểm,
phương thức đóng phí, độ tuổi của người tham gia. Ngay cả trong một bản hợp
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận

Trang 10

SVTH: Nguyễn Thị Thúy Kiều


Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ theo pháp luật Việt Nam

đồng mối quan hệ giữa các bên cũng đa dạng và phức tạp. Khác với các hàng hoá
thông thường, người mua bảo hiểm nhân thọ không thể dùng thử để biết chất
lượng sản phẩm mà chỉ có thể dùng thật, đã dùng thật là dùng trong thời hạn dài.
Hơn thế nữa, sản phẩm bảo hiểm nhân thọ còn là một sản phẩm khá phức
tạp và có tính trừu tượng cao, nên nhiều khi người mua bảo hiểm không thể hình
dung hết được về sản phẩm bảo hiểm. Mặt khác, khác với các loại hợp đồng khác
hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thể có bốn bên tham gia là người bảo hiểm,
người được bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm, người được thụ hưởng bảo
hiểm. Vì vậy mối quan hệ trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ rất phức tạp.


SVTH: Nguyễn Thị Thúy Kiều


Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ theo pháp luật Việt Nam

1.1.4 Vai trò và sƣ̣ cầ n thiế t của bảo hiể m nhân tho ̣
Đất nước ta đang trên đà phát triển thì nhu cầu đời sống của người dân ngày
càng tăng và theo đó dịch vụ Bảo hiểm nhân thọ ngày càng phát triển và giữ vai
trò quan trọng đối với mỗi nền kinh tế, mỗi doanh nghiệp, cá nhân và gia đình.
Thứ nhất: Bảo hiểm nhân thọ góp phần ổn định chế độ tài chính cho người
tham gia bảo hiểm
Đất nước chúng ta đang phát triển, con người sử dụng nhiều khoa học kỹ
thuật phát triển cao nhưng rủi ro bất ngờ là điều không thể lường trước được. Xã
hội phát triển thì đời sống của người dân tăng lên nhưng cũng đồng nghĩa với rủi
ro, đe dọa cuộc sống con người dẫn đến những bất ổn về tài chính, tinh thần và
sức khỏe cho cá nhân, gia đình.
Bảo hiểm nhân thọ góp phần ổn định đời sống của mỗi cá nhân và gia đình
thông qua việc tham gia bảo hiểm xã hội. Họ sẽ được hỗ trợ về mặt tài chính khi
không may họ gặp phải rủi ro trong đời sống (ví dụ tai nạn giao thông, mất
tích…). Mặt khác, trong trường hợp rủi ro không xảy ra, thông qua bảo hiểm
nhân thọ các sản phẩm được ra đời như bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm hỗn hợp…
người tham gia vẫn được hưởng một số tiền bảo hiểm để sử dụng nhu cầu hằng
ngày cho cuộc sống của họ. Bảo hiểm nhân thọ giúp mỗi cá nhân và gia đình
thực hiện những chương trình tiết kiệm dài hạn thuận tiện và có kỷ luật. Chỉ cần
để dành những khoản tiền nhỏ đều đặn, bạn có thể thực hiện những kế hoạch cho
tương lai như: lập gia đình, chăm sóc con cái, mua nhà, mua xe, hay những mong
muốn khác.
Thứ hai: Bảo hiểm nhân thọ góp phần ổn định cho cuộc sống và chỗ dựa tinh
thần cho gia đình

phát triển đất nước
Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và để phục
vụ cho sự phát triển cần có một số lượng vốn đầu tư rất lớn. Bảo hiểm nhân thọ
là công cụ hữu hiệu để huy động vốn nhàn rỗi, để thực hành tiết kiệm, góp phần
chống lại hiện tượng lạm phát.
Khi nền kinh tế phát triển, đời sống người dân tăng lên thì sẽ xuất hiện nhu cầu
tiết kiệm hoặc đầu tư tiền tạm thời nhàn rỗi. Ở các nước đang phát triển thì thiếu
các công cụ, sản phẩm để đáp ứng nhu cầu đó. Vì vậy bảo hiểm nhân thọ giúp
các tổ chức, cá nhân thực hiện nhu cầu đó hiệu quả. Mặt khác, phí trong bảo
hiểm nhân thọ khá lớn và có những đặc trưng cũng như quyền lợi to lớn khi tham
gia bảo hiểm nhân thọ. Ngày nay càng có nhiều người tham gia bảo hiểm nhân
thọ từ đó nguồn vốn nhàn rỗi được huy động từ người dân tăng lên, điều đó góp
phần phát triển đất nước. Đối với doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thì quỹ bảo
hiểm sẽ đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế góp phần phát triển
đất nước như tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần xây dựng và
phát triển cơ sở hạ tầng như xây dựng sân bay, đường xá, cảng biển.
Chính vì những tầm quan trọng của bảo hiểm nhân thọ nên Nhà nước đã liên
tục có những chính sách để tạo điều kiện cho bảo hiểm nhân thọ phát triển bền
vững và một trong những chính sách đó là cho phép công ty bảo hiểm nước ngoài
đầu tư vào Việt Nam. Ngoài ra, bảo hiểm nhân thọ cũng góp phần tạo sự ổn định
và phát triển bền vững cho xã hội với vai trò là một hình thức an sinh xã hội bổ
sung. Bên cạnh những sản phẩm bảo hiểm truyền thống, bảo hiểm nhân thọ còn
có loại hình bảo hiểm liên kết đầu tư.
Loại hình bảo hiểm này cho phép người tham gia bảo hiểm đáp ứng nhu cầu
đầu tư thu lợi nhuận cao, có thể tiếp cận với các danh mục đầu tư được đa dạng
hóa, tiếp cận với các dịch vụ quản lý đầu tư chuyên nghiệp, đồng thời giúp họ
chủ động trong quyết định loại hình đầu tư để tăng thu nhập.
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận

Trang 13

chết xảy ra trong thời gian đã được quy định cụ thể trong hợp đồng. Khi người
được bảo hiểm chết trong thời gian đó, công ty bảo hiểm sẽ trả số tiền bảo hiểm
đó. Đây là quyền lợi cơ bản cho người tham gia bảo hiểm tử kỳ. Trong thực tế,
công ty bảo hiểm có thể tăng thêm quyền lợi cho khách hàng bằng cách bổ sung
thêm một số quyền lợi khác trong hợp đồng.
1.1.5.2 Bảo hiểm trọn đời
Bảo hiểm trọn đời là loại hình bảo hiểm theo đó công ty bảo hiểm cam kết
chi trả một khoản tiền đã được xác định trước trong trường hợp người được bảo
hiểm chết vào bất kỳ thời điểm nào trong suốt cuộc đời người đó.

GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận

Trang 14

SVTH: Nguyễn Thị Thúy Kiều


Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ theo pháp luật Việt Nam

1.1.5.3 Bảo hiểm sinh kỳ
Bảo hiểm sinh kỳ là loại hình bảo hiểm cho trường hợp sống của người được
bảo hiểm. Khi người được bảo hiểm sống đến một thời điểm đã được quy định
trong hợp đồng, công ty bảo hiểm sẽ chi trả số tiền bảo hiểm cho khách hàng.
1.1.5.4 Bảo hiểm hỗn hợp
Bảo hiểm hỗn hợp là loại hình bảo hiểm nhân thọ trong trường hợp người
được bảo hiểm sống hoặc chết. Theo đó, công ty bảo hiểm cam kết chi trả một
khoản tiền đã được ấn định trong trường hợp người được bảo hiểm còn sống đến
khi hết hạn hợp đồng hoặc khi người được bảo hiểm tử vong trong thời hạn hợp
đồng.
1.1.5.5 Bảo hiểm trả tiền định kỳ

Trang 15

SVTH: Nguyễn Thị Thúy Kiều


Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ theo pháp luật Việt Nam

hợp đồng bảo hiểm thỏa thuận trước đó. Vì vậy, tại điều 3 khoản 1 theo luật kinh
doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 quy định: Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động
của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo
hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm
đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ
hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Và tại khoản 5 điều 3 luật kinh doanh bảo hiểm thì: Doanh nghiệp bảo hiểm là
doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này
và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm.
Doanh nghiệp bảo hiểm được pháp luật kinh doanh bảo hiểm quy định cụ
thể về trình tự, thủ tục thành lập và giải thể. Các hoạt động của doanh nghiệp
phải tuân thủ quy định của pháp luật và phải thực hiện hoạt động kinh doanh bảo
hiểm và kinh doanh tái bảo hiểm. Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm cũng quy
định cụ thể về điều kiện thành lập như vốn điều lệ, trình tự thủ tục cấp giấy
phép… Doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân thủ các quy định của pháp luật về kinh
doanh bảo hiểm. Doanh nghiệp phải duy trì khả năng thanh toán trong suốt quá
trình hoạt động của mình, khi có muốn thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh
phải tuân thủ các quy định của luật. Bên cạnh việc tuân thủ các quy định của luật
kinh doanh bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm cũng phải tuân thủ các quy định
pháp luật khác có liên quan đến hoạt động của mình.
Như vậy ta có thể hiểu doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là doanh
nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của luật kinh doanh
bảo hiểm và quy định khác của luật có liên quan để kinh doanh nghiệp vụ bảo

nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài góp vốn thành lập doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải đáp ứng các điều kiện sau: Không
thuộc các đối tượng bị cấm theo quy định tại khoản 2 Điều 13 của Luật Doanh
nghiệp và Các điều kiện theo quy định tại Điều 63 của Luật Kinh doanh bảo
hiểm.
Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là hoạt động nhằm mục đích
kinh doanh có lãi. Việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh bảo
hiểm nhân thọ nhằm thu được lợi ích kinh tế. Mục đích của người bỏ tiền vốn ra
hoặc những người góp vốn cổ phần thành lập doanh nghiệp bảo hiểm nhằm
thông qua hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để thu lợi nhuận. Doanh
nghiệp thu hút nguồn vốn nhàn rỗi của tổ chức cá nhân để hoạt động và đầu tư
sinh lời.6
Bên cạnh đó, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ có điểm đặc thù
để phân biệt với các doanh nghiệp khác ở chỗ doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm
nhân thọ là một loại dịch vụ tài chính đặc biệt, hoạt động mang yếu tố rủi ro. Sản
phẩm của bảo hiểm nhân thọ là sản phẩm vô hình, nó là sự đảm bảo về mặt tài
chính trước những rủi ro cho người được bảo hiểm là các dịch vụ liên quan. Rủi
ro ở đây chính là nguồn gốc phát sinh hoạt động bảo hiểm.
Chu trình bảo hiểm là một chu trình ngược ở chỗ sản phẩm của bảo hiểm
bán ra trước doanh thu được thực hiện sau đó mới phát sinh chi phí. Các doanh
nghiệp bảo hiểm nhận phí của người tham gia bảo hiểm trước và thực hiện nghĩa
vụ sau đối với người tham gia bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra theo hợp
đồng đã dịnh trước đó. Điều này tạo ra nguồn vốn nhàn rỗi tạo cho doanh nghiệp
có thể đầu tư kinh doanh tạo ra nguồn vốn tài chính lớn để bù đắp thiệt hại cho
người tham gia bảo hiểm và tăng thu nhập cho doanh nghiệp. Việc này tạo ra tính
6

Gs.ts.Trương Mộc Lâm,Lưu Nguyên Khánh: Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm
nhà xuất bản thống kê Hà Nội-2000, trang 57


nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ phải là một pháp nhân để luôn có người
gánh vác trách nhiệm của doanh nghiệp và hoàn thành nghĩa vụ của mình đối với
khách hàng. 7
1.2.2.3 Doanh nghiệp không được phép kinh doanh đồng thời bảo hiểm nhân
thọ và bảo hiểm phi nhân thọ
Để bảo vệ một cách tốt nhất cho người tham gia bảo hiểm nhân thọ cũng
như tạo ra sự cạnh tranh về chuyên môn một cách công bằng cho doanh nghiệp
thì luật kinh doanh bảo hiểm quy định: “Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm
không được phép đồng thời kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân
thọ, trừ trường hợp doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ kinh doanh
nghiệp vụ bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người bổ trợ cho bảo hiểm
nhân thọ”. Được quy định tại khoản 2 điều 60 luật kinh doanh bảo hiểm 2000.
7

Gs.ts.Trương Mộc Lâm,Lưu Nguyên Khánh: Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm
nhà xuất bản thống kê Hà Nội-2000, trang 58,59

GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận

Trang 18

SVTH: Nguyễn Thị Thúy Kiều


Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ theo pháp luật Việt Nam

Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và kinh doanh bảo hiểm phi nhân
thọ là hai loại hình bảo hiểm khác nhau có những nghiệp vụ bảo hiểm khác nhau
như bảo hiểm nhân thọ thì có bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm hỗn
hợp… còn bảo hiểm phi nhân thọ thì có bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại,

bảo hiểm nhân thọ ngày càng phát triển và được nhân rộng là vì chúng có nhiều
tác dụng, ý nghĩa quan trọng chẳng những về mặt kinh tế mà còn cả về mặt xã
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận

Trang 19

SVTH: Nguyễn Thị Thúy Kiều


Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ theo pháp luật Việt Nam

hội. Chúng được thể hiện qua một số vai trò sau: hoạt động của doanh nghiệp
kinh doanh bảo hiểm nhân thọ góp phần chia sẻ rủi ro cho mọi người, bù đắp
thiệt hại, giúp đỡ cho các tổ chức, cá nhân không may có rủi ro xảy ra, doanh
nghiệp hoạt động theo phương thức lấy số đông bù số ít. Doanh nghiệp kinh
doanh bảo hiểm nhân thọ góp phần ngăn ngừa rủi ro, hạn chế phát sinh rủi ro đối
với nền kinh tế và đời sống xã hội. Thông qua đó, doanh nghiệp cũng giúp đáng
kể cho sự phát triển đất nước làm giảm gánh nặng cho Nhà nước.
Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là kênh huy động vốn hiệu
quả cho nền kinh tế thông qua việc tham gia bảo hiểm. Khi huy động được vốn
thì doanh nghiệp sẽ thực hiện các hoạt động của mình như thực hiện các hoạt
động đầu tư góp phần phát triển doanh nghiệp của mình, tăng thu nhập cho doanh
nghiệp cũng đồng nghĩa với việc tăng thu nhập cho người dân và góp phần không
nhỏ vào việc tăng trưởng của đất nước. Vì khi thực hiện việc đầu tư doanh
nghiệp sẽ có khoản tài chính lớn để tăng cạnh tranh và chi trả cho khách hàng,
giúp cho doanh nghiệp phát triển bền vững. Doanh nghiệp càng phát triển thì làm
tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. Đồng thời, chúng
ta có thêm cơ hội giao lưu hợp tác kinh doanh với doanh nghiệp thế giới để học
hỏi kinh nghiệm, tạo ra lợi nhuận cao, tăng thu nhập cho đất nước. Đất nước phát
triển thì sẽ làm hạn chế đi sự mất giá của đồng tiền, hạn chế tình trạng lạm phát.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status