doanh nghiÖp kinh doanh b¶o hiÓm nh©n thä
theo ph¸p luËt viÖt nam
Hµ néi – 2010
doanh nghiÖp kinh doanh b¶o hiÓm nh©n thä
theo ph¸p luËt viÖt nam
Hµ néi – 2010
mục lục
Trang
mở đầu 1
Chơng 1: những vấn đề chung về bảo hiểm nhân thọ 5
1.1. Khái luận về bảo hiểm nhân thọ 5
1.2. Quá trình hình thành và phát triển của thị trờng bảo hiểm nhân
thọ Việt Nam
22
1.3. Vai trò của bảo hiểm nhân thọ trong nền kinh tế quốc dân 27
Chơng 2: pháp luật về doanh nghiệp kinh doanh bảo
hiểm nhân thọ
31
2.1. Hoạt động bảo hiểm phải tổ chức kinh doanh theo các hình thức
doanh nghiệp nhất định
31
2.2. Bảo hiểm nhân thọ là loại hình kinh doanh có điều kiện 37
2.3. Tài chính doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ 44
2.4. Trung gian bảo hiểm nhân thọ 50
2.5. Chuyển giao hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 54
Chơng 3: một số nhận xét chung và kiến nghị 57
3.1. Một số nhận xét về pháp luật đối với doanh nghiệp kinh doanh
bảo hiểm nhân thọ
57
3.2. Hớng hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp kinh doanh bảo
Bên cạnh đó, cũng giống nh các tổ chức trung gian tài chính khác, các
doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ luôn phải đảm bảo sự vững
chắc về tài chính, tạo niềm tin cho hàng triệu khách hàng tham gia. Việt
Nam đang trong quá trình hội nhập, đàm phán để gia nhập Tổ chức Thơng
mại Thế giới (WTO). Quá trình này tất yếu buộc nớc ta phải mở rộng cửa
thị trờng để có thêm các công ty bảo hiểm nớc ngoài vào Việt Nam. Vì
vậy, hoạt động kinh doanh bảo hiểm của các công ty bảo hiểm nhân thọ
cần phải đợc kiểm soát hết sức chặt chẽ và phải đợc điều chỉnh bằng luật
pháp, để hoạt động này phát triển lành mạnh phục vụ cho công cuộc phát
triển và xây dựng đất nớc.
2. Tình hình nghiên cứu
ở các nớc có nền kinh tế phát triển, bảo hiểm nhân thọ đã ra đời và
phát triển hàng trăm năm nay. Những lợi ích về mặt xã hội mà bảo hiểm
nhân thọ mang lại đã tạo cho ngành kinh doanh này có một chỗ đứng rất
vững vàng trong đời sống kinh tế xã hội. Vị thế của bảo hiểm nhân thọ ngày
càng đợc thể hiện một cách rõ nét ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển
trên thế giới.
ở Việt Nam, hoạt động bảo hiểm nhân thọ vẫn còn là mới mẻ, đã có
một số công trình nghiên cứu về mặt kỹ thuật bảo hiểm, pháp luật về kinh
doanh bảo hiểm nhng chủ yếu đi sâu vào lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ,
cha có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về pháp luật
kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, đặc biệt là về doanh nghiệp bảo hiểm nhân
thọ.
Trớc đây, cũng đã có một số luận văn thạc sĩ đề cập đến những vấn
đề liên quan đến pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nh:
+ Nguyễn Anh Tú: Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng bảo hiểm,
Luận văn Thạc sĩ Luật học, 2001.
+ Thái Văn Cách: Thực trạng pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, ph-
ơng hớng hoàn thiện, Luận văn Thạc sĩ Luật học, 2001.
+ Vơng Việt Đức, Hợp đồng bảo hiểm tài sản, Luận văn Thạc sĩ
khuyến khích, thu hút ngày càng nhiều các tầng lớp dân c tham gia bảo
hiểm, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, thúc đẩy công cuộc công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nớc.
4. Phơng pháp nghiên cứu
Dựa trên các quan điểm của Đảng và Nhà nớc về chỉ đạo hoạt động
bảo hiểm, để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu, bên cạnh việc phân tích các
văn bản pháp luật áp dụng vào thực tiễn kinh doanh, luận văn sẽ nhìn nhận
vấn đề theo quan điểm duy vật, biện chứng, áp dụng phơng pháp lịch sử,
lôgic trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các tài liệu pháp lý liên quan, kết hợp
so sánh, đối chiếu, tổng hợp với thực tiễn để rút ra kết luận.
5. ý nghĩa lý luận và thực tiễn những đóng góp của luận văn
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ còn hết sức mới mẻ, vì
vậy kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần vào việc nghiên cứu hoàn
thiện các quy định pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động kinh doanh
bảo hiểm nhân thọ, đồng thời chỉ ra những điểm không phù hợp với thực tiễn
kinh doanh cần bổ sung, góp phần tạo ra môi trờng pháp lý chuẩn mực và
lành mạnh hơn cho các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, thúc
đẩy hoạt động bảo hiểm nhân thọ ngày càng phát triển phục vụ đời sống
kinh tế, xã hội, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt
Nam hiện nay.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chơng:
Chơng 1: Những vấn đề chung về bảo hiểm nhân thọ.
Chơng 2: Pháp luật về doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ.
Ch¬ng 3: Mét sè nhËn xÐt chung vµ kiÕn nghÞ.
Chơng 1
Những vấn đề chung về Bảo hiểm Nhân thọ
1.1. Khái luận về Bảo hiểm nhân thọ
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ
Tài liệu của Viện Quản lý bảo hiểm nhân thọ Hoa Kỳ (LOMA)
cũng nêu định nghĩa bảo hiểm nhân thọ nh một loại hình bảo hiểm trả tiền
khi phát sinh cái chết của ngời đợc bảo hiểm. Trên phơng diện pháp lý, bảo
hiểm nhân thọ là một thể loại bảo hiểm, trong đó để nhận đợc phí bảo hiểm
của ngời tham gia bảo hiểm thông qua một hợp đồng, nhà bảo hiểm cam kết
sẽ trả cho một hoặc nhiều ngời thụ hởng bảo hiểm một số tiền nhất định
hoặc những khoản trợ cấp nhất định trong trờng hợp ngời đợc bảo hiểm bị
tử vong hoặc ngời đợc bảo hiểm sống đến một thời điểm đã đợc chỉ rõ trong
hợp đồng. Trên phơng diện kỹ thuật, bảo hiểm nhân thọ là một nghiệp vụ
bao hàm những cam kết mà việc thực hiện những cam kết này phụ thuộc
vào tuổi thọ của con ngời [45, tr. 31].
Những định nghĩa trên tuy đợc trình bày khác nhau, nhng tựu chung
lại đều thể hiện những đặc trng nổi bật của bảo hiểm nhân thọ, đó là:
- Bảo hiểm nhân thọ là một nghiệp vụ bảo hiểm thơng mại, hay nói
cách khác là loại hình kinh doanh thu lợi nhuận (phân biệt với các chế độ
bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội của Nhà nớc).
- Bảo hiểm nhân thọ có tính đa mục đích, có thể đợc sử dụng để áp
ứng nhiều mục đích khác nhau tùy theo nhu cầu của khách hàng. Do vậy,
sản phẩm bảo hiểm nhân thọ thờng rất đa dạng (mỗi sản phẩm chỉ đáp ứng
đợc một hoặc một vài nhu cầu) và hoạt động tiếp thị sản phẩm này phải
mang tính năng động và linh hoạt cao.
- Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm duy nhất cho phép bảo
hiểm cho hai sự kiện trái ngợc nhau là sống và chết. Điều này cũng có
nghĩa là, trong tuyệt đại đa số trờng hợp, việc doanh nghiệp bảo hiểm phải
trả tiền với một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là chắc chắn xảy ra (phân biệt
với bảo hiểm phi nhân thọ - là loại hình bảo hiểm chỉ trả tiền khi có rủi ro
xảy ra).
- Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm dài hạn, do đó điều khoản
hợp đồng phải đợc trình bày đầy đủ, khoa học dới dạng văn bản, làm cơ sở
cho sự duy trì quan hệ hợp đồng dài nhiều chục năm, thậm chí là cả đời ng-
nạn, rủi ro xảy ra nên các doanh nghiệp bảo hiểm không đợc phép kinh
doanh đồng thời bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ (khoản 2 Điều
60 Luật kinh doanh bảo hiểm).
- Xuất phát từ những đặc điểm riêng biệt của bảo hiểm nhân thọ với
đối tợng bảo hiểm chỉ là con ngời, pháp luật đã quy định có tính chất ràng
buộc, hạn chế có liên quan đến việc giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.
Có hai ràng buộc chính đợc thể hiện trong Luật kinh doanh bảo hiểm
(2000), những ràng buộc vốn đều đã có mặt trong các văn bản pháp luật t-
ơng tự ở mọi quốc gia cho phép kinh doanh bảo hiểm nhân thọ.
Thứ nhất, ràng buộc về quyền lợi có thể đợc bảo hiểm. Khoản 9 Điều
3 Luật kinh doanh bảo hiểm (2000) định nghĩa: "Quyền lợi có thể đợc bảo
hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền,
nghĩa vụ nuôi dỡng, cấp dỡng đối với đối tợng đợc bảo hiểm" [25]. Đây là
một định nghĩa mang nặng tính pháp lý, phản ánh hình thức pháp lý của
quan hệ quyền lợi. Tài liệu của Viện Quản lý Bảo hiểm nhân thọ Hoa Kỳ
(LOMA) định nghĩa khái niệm này thiên về yêu cầu của nghiệp vụ bảo
hiểm nhân thọ là "khả năng ngời chủ hợp đồng và ngời thụ hởng phải chịu
những mất mát hoặc thiệt hại lớn nếu sự kiện đợc bảo hiểm xảy ra" [45, tr.
14]. Lý do của những quy định này xuất phát từ mục đích cơ bản của bảo
hiểm là đền bù cho ngời bị thiệt hại khi một rủi ro xảy ra và nh vậy, sự đền
bù phải dành cho đúng đối tợng phải chịu thiệt thòi, mất mát thì mới thực
sự có ý nghĩa và đạt đợc mục đích. Mặt khác, nếu không có yêu cầu về
quyền lợi có thể đợc bảo hiểm, hiện tợng trục lợi bảo hiểm trên tài sản, tính
mạng, sức khỏe của ngời khác, đi ngợc lại đạo đức và pháp luật sẽ xảy ra
phổ biến bởi bất cứ ai cũng có thể ký hợp đồng bảo hiểm đối với tài sản,
tính mạng, sức khỏe của ngời khác và sau đó cố tình gây ra rủi ro để thu lợi
bất chính từ tiền bồi thờng.
Cụ thể hóa yêu cầu về quyền lợi có thể đợc bảo hiểm, khoản 2 Điều 31
Luật kinh doanh bảo hiểm (2000) chỉ cho phép bên mua bảo hiểm mua bảo
hiểm cho những ngời sau đây:
đó đồng ý bằng văn bản.
- Không đợc giao kết hợp đồng bảo hiểm con ngời cho trờng hợp
chết của ngời đang mắc bệnh tâm thần [25].
Quy định này nhấn mạnh đến yếu tố nhất trí của ngời đợc bảo hiểm
(trong trờng hợp ngời đợc bảo hiểm không có năng lực hành vi dân sự đầy
đủ - nh bị tâm thần hoặc dới 18 tuổi - hợp đồng không thể đợc giao kết hoặc
chỉ có thể đợc giao kết khi có sự đồng ý rõ ràng và hoàn toàn của cha, mẹ
hoặc ngời giám hộ hợp pháp). Nội dung của sự nhất trí này bao hàm hai yếu
tố chính: nhất trí về việc giao kết hợp đồng bảo hiểm trên sinh mạng của
mình và nhất trí về ngời thụ hởng quyền lợi bảo hiểm trong trờng hợp ngời
đợc bảo hiểm không may qua đời. Sự nhất trí của ngời đợc bảo hiểm chính
là một đảm bảo chắc chắn rằng, ngời đợc bảo hiểm biết rõ và chấp nhận sự
tồn tại của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ bảo hiểm cho mình và rằng, ai sẽ là
ngời đợc nhận quyền lợi bảo hiểm khi mình chết. Đây chính là cách thức
phòng tránh có hiệu quả đối với các trờng hợp giao kết hợp đồng bảo hiểm
nhằm trục lợi trên sinh mạng của ngời khác, đặc biệt là những ngời không
hoặc cha có khả năng nhận thức đầy đủ cũng nh khả năng tự bảo vệ mình.
Quy định này cũng góp phần làm trong sạch và lành mạnh hoạt động kinh
doanh bảo hiểm nhân thọ, đảm bảo cho nó giữ đúng đợc giá trị và ý nghĩa
nhân văn của bảo hiểm nhân thọ.
Trên đây là hai ràng buộc cơ bản mà pháp luật áp đặt đối với việc
giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Những ràng buộc này có thể tìm thấy
ở pháp luật về bảo hiểm của mọi quốc gia, là sản phẩm của một quá trình
nghiên cứu và tích lũy kinh nghiệm kinh doanh trong lĩnh vực này trong
hàng trăm năm của các công ty bảo hiểm. Những quy định này đợc các
doanh nghiệp bảo hiểm ở các nớc cũng nh Việt Nam tuân thủ triệt để và
tinh thần của nó không chỉ đợc tìm thấy trong điều khoản hợp đồng bảo
hiểm của các doanh nghiệp mà còn trong mọi hoạt động tác nghiệp hàng
ngày ở các doanh nghiệp.
Tóm lại, với những đặc điểm riêng, đã từ lâu, bảo hiểm nhân thọ giữ
bảo hiểm và hiệu lực bảo hiểm sẽ chấm dứt ngay nếu ngời đợc bảo hiểm
chết trong thời hạn bảo hiểm.
Mục đích của loại hình bảo hiểm này giúp ngời tham gia bảo hiểm
sống đến một mức tuổi nào đó sẽ nhận đợc tiền bảo hiểm để đáp ứng nhu
cầu trong cuộc sống. Ví dụ nh mua bảo hiểm sinh kỳ cho con tức là sẽ có
một khoản tiền để dành cho con dùng vào việc học tập và kết hôn sau này,
hoặc là mua bảo hiểm sinh kỳ sống đến tuổi về hu thì đợc lĩnh tiền bảo
hiểm.
* Bảo hiểm tử kỳ
Loại bảo hiểm này bảo hiểm cho rủi ro chết xảy ra trong thời gian
đã quy định trong hợp đồng. Nếu cái chết không xảy ra trong thời gian đó
thì việc thanh toán không đợc thực hiện, chính vì vậy phí bảo hiểm luôn đợc
giữ ở mức thấp nhất. Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 định nghĩa:
"Bảo hiểm tử kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trờng hợp ngời đợc bảo hiểm
chết trong một thời hạn nhất định, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả
tiền bảo hiểm cho ngời thụ hởng, nếu ngời đợc bảo hiểm chết trong thời hạn
đợc thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm" [25]. Tài liệu của Viện Quản lý
bảo hiểm nhân thọ Hoa Kỳ định nghĩa bảo hiểm tử kỳ là nghiệp vụ bảo
hiểm cung cấp quyền lợi bảo hiểm tử vong nếu ngời đợc bảo hiểm chết
trong một thời hạn đợc xác định trớc [45, tr. 31].
Các đặc điểm nổi bật của bảo hiểm tử kỳ là:
- Chỉ bảo hiểm rủi ro mà không có yếu tố tiết kiệm;
- Thời hạn bảo hiểm của hợp đồng đợc xác định rõ ngay khi giao kết
hợp đồng;
- Công ty bảo hiểm có thể không phải trả tiền bảo hiểm (trong trờng
hợp ngời đợc bảo hiểm còn sống đến thời điểm đáo hạn hợp đồng).
Loại hình bảo hiểm này thờng đợc thể hiện thành các sản phẩm phổ
biến nh: bảo hiểm sinh mạng có thời hạn, bảo hiểm sinh mạng có hoàn phí;
bảo hiểm tử kỳ có số tiền bảo hiểm giảm dần, bảo hiểm tử kỳ có số tiền bảo
hiểm tăng dần.
cho trờng hợp ngời đợc bảo hiểm chết vào bất kỳ thời điểm nào trong suốt
cuộc đời của ngời đó" [25]. Tài liệu của Viện Quản lý bảo hiểm nhân thọ Hoa
Kỳ định nghĩa bảo hiểm trọn đời là nghiệp vụ bảo hiểm cung cấp sự bảo vệ
cho suốt cuộc đời của ngời đợc bảo hiểm và có yếu tố tiết kiệm [45, tr. 32].
Các đặc điểm nổi bật của bảo hiểm trọn đời là:
- Vừa bảo hiểm rủi ro và có tính tiết kiệm;
- Thời hạn bảo hiểm không xác định đợc trớc, thời hạn bảo hiểm
chấm dứt khi ngời đợc bảo hiểm chết;
- Công ty bảo hiểm chắc chắn phải thanh toán quyền lợi cho khách
hàng.
Loại hình bảo hiểm này thờng đợc thể hiện thành các sản phẩm phổ
biến nh: bảo hiểm trọn đời biến đổi, bảo hiểm trọn đời phổ thông, bảo hiểm
trọn đời chung, bảo hiểm ngời còn sống cuối cùng.
Mục đích của loại hình bảo hiểm này là bảo hiểm rủi ro kết hợp tiết
kiệm. Sản phẩm này không chỉ giúp khách hàng trang trải các chi phí hậu
sự mà còn góp phần làm tăng giá trị tài sản khách hàng để lại cho ngời thân
khi qua đời.
* Niên kim nhân thọ (bảo hiểm trả tiền định kỳ)
Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 định nghĩa: "Bảo hiểm trả
tiền định kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trờng hợp ngời đợc bảo hiểm sống
đến một thời hạn nhất định, sau thời hạn đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả
tiền bảo hiểm định kỳ cho ngời thụ hởng theo thỏa thuận trong hợp đồng
bảo hiểm" [25].
Các đặc điểm nổi bật của niên kim nhân thọ là:
- Quyền lợi bảo hiểm đợc thanh toán thành nhiều lần theo định kỳ
và phơng thức nhất định;
- Thời hạn bảo hiểm thờng không xác định trớc, hợp đồng bảo hiểm
chấm dứt khi ngời đợc bảo hiểm chết hoặc ngời đợc bảo hiểm đã nhận hết
quyền lợi bảo hiểm thỏa thuận.
- Công ty bảo hiểm chắc chắn phải trả tiền cho khách hàng.
Những sản phẩm này rất đa dạng, trong đó nổi bật phải kể đến bảo
hiểm chết và thơng tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn, bảo hiểm thơng tật bộ
phận vĩnh viễn do tai nạn, bảo hiểm chi phí phẫu thuật, bảo hiểm chi phí
nằm viện, bảo hiểm bệnh hiểm nghèo, bảo hiểm từ bỏ thu phí Các sản
phẩm này giúp khách hàng bổ sung và mở rộng quyền lợi bảo hiểm khi
tham gia bảo hiểm nhân thọ.
1.1.3. Sự khác nhau giữa bảo hiểm nhân thọ và các hình thức
đảm bảo khác
1.1.3.1. Sự khác nhau giữa bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân
thọ
Theo quy định tại Luật kinh doanh bảo hiểm, Điều 7 chơng I,
nghiệp vụ bảo hiểm đợc phân thành 2 nhóm là Bảo hiểm nhân thọ và Bảo
hiểm phi nhân thọ. Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài
sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo
hiểm nhân thọ. Đặc điểm khác nhau cơ bản giữa bảo hiểm nhân thọ và bảo
hiểm phi nhân thọ là bảo hiểm phi nhân thọ chỉ có một mục đích chống lại
rủi ro thì bảo hiểm nhân thọ có thể giúp ngời đợc bảo hiểm vừa đạt đợc mục
đích chống lại rủi ro vừa có mục đích tiết kiệm. Thời hạn của các hợp đồng
bảo hiểm phi nhân thọ ngắn, thông thờng là một năm, bên cạnh đó có
những hợp đồng bảo hiểm kéo dài chỉ vài tháng, thậm chí thời hạn bảo hiểm
có thể chỉ là vài giờ (trong bảo hiểm tai nạn hành khách). Trong khi đó, thời
hạn bảo hiểm của các hợp đồng nhân thọ thờng dài hạn (từ 5 năm trở lên).
Trong bảo hiểm phi nhân thọ, có một số nghiệp vụ bắt buộc phải
mua bảo hiểm đã đợc quy định trong luật pháp để giúp phát huy tối đa tác
dụng của các nghiệp vụ này và nhằm đạt đợc mục đích bảo vệ lợi ích chung
của cộng đồng, bên cạnh đó khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, sẽ có một cam
kết ràng buộc giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm, bên mua
bảo hiểm có nghĩa vụ theo đuổi đến cùng, trừ lý do rơi vào các tình huống
phải chấm dứt hợp đồng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, những quy
định bắt buộc này không bao giờ áp dụng đối với bảo hiểm nhân thọ, trong
Thứ hai: Khác nhau về đối tợng và chức năng bảo hiểm.
Đối tợng của bảo hiểm xã hội là những ngời lao động trong xã hội.
Chức năng chủ yếu của bảo hiểm xã hội là đảm bảo đời sống cơ bản cho
ngời lao động khi ốm đau, già cả, bị thơng, bị tàn phế, mất khả năng lao
động nhằm giữ vững quá trình tái sản xuất sức lao động xã hội. Ngoài ra,
còn thực hiện việc nhà nớc phân phối lại thu nhập xã hội bằng cách tập
trung quỹ bảo hiểm xã hội và thực hiện việc trợ cấp bồi thờng thiệt hại, thực
hiện chức năng công bằng xã hội.
Đối tợng bảo hiểm thơng mại thờng không có quy định đặc biệt mà áp
dụng đối với tất cả các tổ chức, công dân dựa vào nguyên tắc tự nguyện lựa
chọn, tự nguyện tham gia bảo hiểm. Chức năng chủ yếu của bảo hiểm thơng
mại là bồi thờng hoặc chi trả số tiền bảo hiểm cho ngời tham gia bảo hiểm
khi họ gặp rủi ro hoặc khi đáo hạn hợp đồng nh đã quy định trong hợp đồng
bảo hiểm.
Việc trả tiền bảo hiểm xã hội xuất phát từ mục đích đảm bảo mức
sống cơ bản của ngời lao động. Mức độ đảm bảo này đợc dựa trên mức tiêu
dùng bình quân của xã hội, các yếu tố tăng giá cả hàng hóa Đối với mức
đảm bảo của bảo hiểm thơng mại không xét tới những yếu tố kể trên, hoàn
toàn do ngời đợc bảo hiểm nộp phí bảo hiểm nhiều hay ít.
Thứ ba: Sự hình thành, sử dụng và quản lý quỹ bảo hiểm.
Quỹ bảo hiểm xã hội đợc hình thành từ các nguồn sau:
+ Ngời sử dụng lao động đóng bằng 15% so với tổng quỹ lơng của
những ngời tham gia bảo hiểm trong đơn vị, trong đó 10% là quỹ lơng hu,
5% là quỹ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động
+ Ngời lao động đóng 5% tiền lơng hàng tháng.
+ Nhà nớc hỗ trợ thêm để thực hiện các chế độ bảo hiểm đối với ng-
ời lao động.
+ Các nguồn khác
Quỹ bảo hiểm thơng mại:
Quỹ bảo hiểm thơng mại hình thành trên cơ sở thu phí bảo hiểm
đến ngân hàng 15 lần để gửi tiền, tuy nhiên nếu ngời đó chọn hình thức gửi
tiền theo tháng (tơng đơng với hình thức nộp phí tháng khi tham gia bảo
hiểm nhân thọ) thì ngời đó sẽ phải đến ngân hàng tổng số 15 x 12 = 180
lần, và nếu thời hạn này dài hơn thì số lần đến ngân hàng sẽ tăng nên gấp
bội. Rõ ràng, việc đi gửi tiền nh trên rất mất thời gian và dờng nh không thể
thực hiện đều đặn đợc nếu thực hiện gửi tiền theo tháng. Thêm vào đó, ngời
gửi tiền chỉ có thể gửi tiền với số tiền lớn nhất định; không thể hàng tháng
mang mấy chục ngàn đi gửi ngân hàng.
Ngợc lại, nếu tham gia bảo hiểm nhân thọ, ngời tham gia không
phải đến công ty bảo hiểm để nộp phí mà hoàn toàn có thể nộp phí ở nhà, ở
cơ quan hoặc bất kỳ nơi nào tiện lợi; ngời tham gia cũng có thể nộp phí
ngay từ số tiền tiết kiệm hàng tháng là mấy chục ngàn đồng và số tiền này
đợc đầu t ngay để tích tiểu thành đại. Ngời tham gia bảo hiểm đợc nhà bảo