1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, là trụ cột
trong hệ thống ASXH được thực hiện ở nước ta ngay từ những ngày đầu
thành lập nước. Ngày 01/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số
54/SL quy định điều kiện cho công chức, viên chức Nhà nước hưởng chế độ
hưu trí. Từ đó đến nay, chính sách BHXH không ngừng được sửa đổi, bổ
sung phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước, góp phần đảm bảo
cuộc sống cho cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang nhân dân,
NLĐ. Tạo thành sức mạnh tổng hợp làm nên thắng lợi vĩ đại trong hai cuộc
kháng chiến trường kỳ chống Pháp, chống Mỹ và trong xây dựng bảo vệ tổ
quốc, đưa đất nước vững bước đi lên trên con đường xây dựng Chủ nghĩa xã
hội vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Trong công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế - xã hội, để chính
sách BHXH phù hợp với tình hình thực tiễn và hội nhập quốc tế; Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã xác định quan điểm cần phải giải
quyết tốt việc "Thực hiện và hoàn thiện chế độ BHXH, bảo đảm đời sống
người nghỉ hưu được ổn định, từng bước cải thiện". Nghị quyết Đại hội XI
của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: "Thực hiện các chính sách xã hội bảo đảm an
toàn cuộc sống mọi thành viên cộng đồng, bao gồm BHXH đối với NLĐ
thuộc các thành phần kinh tế".
Tháng 01/2007 Luật BHXH có hiệu lực thi hành, các đối tượng tham
gia đóng, hưởng BHXH đã được thực hiện đến tất cả lao động làm việc
trong các thành phần kinh tế và mở rộng loại hình BHXH tự nguyện, tạo nên
sự bình đẳng về BHXH đối với mọi NLĐ. Từ năm 2009 - 2013, số lao động
tham gia BHXH tăng hàng năm bình quân khoảng 7%, số thu BHXH tăng
2
3
- Thực hiện cải cách hành chính, đổi mới tác phong, phong cách phục vụ
NLĐ của đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác thu BHXH và ứng dụng công
nghệ thông tin vào công tác thu, tạo thuận lợi tối đa cho tổ chức, cá nhân tham
gia BHXH.
Trong tình hình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, nhiều
DN mới được thành lập và cũng có không ít DN không đủ khả năng cạnh
tranh trên thị trường, hoặc làm ăn thua lỗ kéo dài phải giải thể, phá sản. Dẫn
đến những biến động tăng, giảm, di chuyển lao động rất phức tạp và xảy ra
thường xuyên, liên tục khó khăn cho công tác quản lý người tham gia cũng
như thu BHXH. Do vậy hoạt động thu BHXH là rất khó khăn. Thực trạng đặt
ra đó đòi hỏi cần phải có những giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu BHXH
làm cơ sở để giải quyết chế độ chính sách cho người tham gia, đảm bảo tăng
trưởng quỹ BHXH và thực hiện công bằng xã hội.
Do đó, tôi lựa chọn đề tài: “Quản lý thu BHXH bắt buộc ở Việt Nam”
làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua BHXH Việt Nam đã có một số công trình
nghiên cứu của cán bộ lãnh đạo, quản lý, đề tài dưới góc độ khoa học cấp bộ,
luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ đi sâu nghiên cứu những vấn đề chung, cũng
như từng lĩnh vực cụ thể về BHXH. Có thể nói tới các công trình như:
- Đề tài: “Thực trạng quản lý thu Bảo hiểm xã hội hiện nay và các
biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thu”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ
do Tiến sĩ Nguyễn Văn Châu làm chủ nhiệm đề tài bảo vệ năm 1996.Trên cơ
sở nghiên cứu kinh nghiệm quản lý thu BHXH của một số nước trên thế giới
và tổng kết hoạt động thực tiễn của quản lý thu BHXH ở Việt Nam trước năm
1995 và đến năm 1996, tác giả làm rõ thực trạng hoạt động BHXH, đặc biệt là
công tác thu BHXH trong thời gian qua, nhằm phân tích khả năng thu BHXH
để bù đắp các chế độ BHXH được hưởng nhằm thay thế dần các nguồn chi
Trên cơ sở vận dụng lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý
thu BHXH, luận văn phân tích thực trạng công tác quản lý thu BHXH bắt
5
buộc từ năm 2009 đến năm 2013, qua đó đề xuất những giải pháp chủ yếu
nhằm hoàn thiện quản lý thu BHXH bắt buộc, đảm bảo thực hiện các quy
định của Nhà nước về BHXH có hiệu quả và phát triển sự nghiệp BHXH
một cách bền vững.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý thu BHXH
bắt buộc.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH
Việt Nam, chỉ ra những kết quả đã đạt được, những hạn chế và những vấn đề
đang đặt ra hiện nay trong công tác thu BHXH bắt buộc tại BHXH Việt Nam.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý thuBHXH
bắt buộc tại BHXH Việt Nam.
- Kiến nghị với Nhà nước bổ sung sửa đổi chính sách liên quan đến
công tác thuBHXH bắt buộc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu quản lý thu BHXH bắt
buộc tại BHXH Việt Nam trên 3 nội dung đối tượng tham gia BHXH, tiền
lương làm căn cứ tính đóng BHXH và nguồn thu BHXH. Luận văn không
nghiên cứu thu BHXH tự nguyện, bảo hiểm y tế…
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về công tác quản lý thu
BHXH bắt buộc tại Việt Nam từ năm 2009 – 2013. Luận văn chỉ nghiên cứu
quản lý thuBHXH bắt buộc trong phạm vi đối tượng dân sự, không nghiên
cứu đối tượng công an, quân đội, cơ yếu Chính phủ.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
7
Chương1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
1.1.1. Khái quát về bảo hiểm xã hội bắt buộc
* Khái niệm BHXH bắt buộc, các loại hình và chế độ BHXH bắt buộc.
- Khái niệm BHXH:
Hệ thống BHXH đầu tiên ra đời trên thế giới vào giữa thế kỷ XIX
dưới thời Thủ tướng Bismark (1883-1889) với cơ chế ba bên (Nhà nước - giới
chủ - giới thợ) cùng đóng góp nhằm bảo hiểm cho NLĐ trong một số trường
hợp họ gặp rủi ro. Chế độ BHXH này bao gồm: Chế độ bảo hiểm ốm đau
(1883); bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp (1884) và bảo hiểm tuổi già, tàn tật
(1889). Trước tác dụng tích cực của hệ thống BHXH này nhiều nước bắt đầu
áp dụng hệ thống BHXH. Trong những năm 30 của thế kỷ XX, một số nước
còn mở rộng thêm những chế độ khác ngoài BHXH và xuất hiện khái niệm
mới: An sinh, an toàn xã hội (Social Security). Tổ chức Lao động quốc tế
(ILO) đã có Công ước số 102 năm 1952 về ASXH. Hiện nay, trên thế giới nói
chung người ta coi BHXH là một bộ phận cấu thành của ASXH.
Ở nước ta, BHXH xuất hiện vào những năm 30 của thế kỷ XX, một số
chế độ được áp dụng khi đó là chế độ ốm đau, chế độ tai nạn, chế độ hưu trí
và cũng chỉ áp dụng cho một số đối tượng làm việc, phục vụ trong bộ máy
hành chính, quân đội của Pháp. Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra
đời, tại văn bản pháp luật cao nhất đã có những quy định về BHXH, thể hiện
sự quan tâm và nhận thức của Nhà nước về vấn đề này. Tuy nhiên, do tình
hình chính trị - xã hội phức tạp khi đó cũng như những khó khăn về quỹ, về
đối tượng tham gia và hưởng BHXH… mà pháp luật BHXH chưa được áp
cùng với sự chín muồi về nhận thức, về điều kiện kinh tế - xã hội đất nước,
nhu cầu của đời sống xã hội… ngày 29/6/2009 tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội
khóa XI nước ta đã thông qua Luật BHXH và có hiệu lực từ ngày 01/01/2007
9
(riêng đối với BHXH tự nguyện có hiệu lực từ ngày 01/01/2008; BHTN có
hiệu lực từ ngày 01/01/2009). Như vậy, việc xây dựng và phát triển pháp luật
BHXH ở nước ta luôn phản ánh và song hành với các nhu cầu của đời sống
trên cơ sở điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể.
Tuy nhiên, tùy theo góc độ tiếp cận khác nhau mà có những quan
niệm khác nhau. Theo Từ điển tiếng Việt, BHXH là sự: “Bảo đảm những
quyền lợi vật chất cho công nhân, viên chức khi không làm việc được vì ốm
đau, sinh đẻ, già yếu, bị tai nạn lao động…”[8,tr.36]. Theo TS. Đỗ Văn Sinh:
“BHXH là biện pháp Nhà nước sử dụng để đảm bảo thay thế
hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người tham gia bảo hiểm, khi họ
gặp phải những biến cố rủi ro làm suy giảm sức khỏe, mất khả năng
lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động, chết; gắn liền với quá trình
tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành bởi các bên tham
gia BHXH đóng góp và việc sử dụng quỹ đó cung cấp tài chính nhằm
ổn định đời sống cho họ và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã
hội” [20, tr.14].
Kể từ khi xuất hiện đến nay, BHXH luôn phát huy tác dụng trong
những lúc NLĐ gặp khó khăn hiểm nghèo do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động, tuổi già… trên cơ sở những cam kết đóng góp của NLĐ và người
SDLĐ cho một bên thứ ba (cơ quan bảo hiểm) trước khi xảy ra những biến cố
đó. Tuy nhiên, BHXH không trực tiếp chữa bệnh cho người tham gia BHXH
khi họ ốm đau, tai nạn, sắp xếp việc làm cho người mất việc làm… mà chỉ
giúp họ giữ thăng bằng phần thu nhập bị giảm hay bị mất hoặc giúp họ trang
điều kiện sinh học như tuổi tác, môi trường sống, điều kiện làm việc mà NLĐ
phải nghỉ làm việc, khi đó cần có một khoản kinh phí để đảm bảo cuộc sống
cho chính bản thân và gia đình họ.
Mục tiêu của BHXH là tạo ra màng lưới an toàn gồm nhiều tầng,
nhiều lớp bảo vệ cho tất cả các thành viên của cộng đồng trong những trường
hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất trong chi
tiêu của gia đình do những biến cố hoặc những "rủi ro xã hội". Vì vậy, để tạo
11
ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp, BHXH phải dựa trên nguyên tắc
san sẻ trách nhiệm và thực hiện công bằng xã hội, được thực hiện bằng nhiều
hình thức, phương thức và các biện pháp khác nhau.Có thể thấy rõ bản chất
của BHXH là nhằm che chắn, bảo vệ cho các thành viên của xã hội trước mọi
biến cố xã hội bất lợi. BHXH thể hiện chủ nghĩa nhân văn cao đẹp: mọi người
trong xã hội với tư cách là một công dân, họ phải được đảm bảo mọi mặt để
phát huy đầy đủ những khả năng của mình, không phân biệt địa vị xã hội,
chủng tộc, tôn giáo...đều bình đẳng về BHXH.
Hai là, BHXH là một công cụ để quản lý xã hội, là sự bảo đảm của Nhà
nước để ổn định đời sống cho người tham gia BHXH và an toàn xã hội, thúc đẩy
sản xuất phát triển. Đồng thời đây là quá trình phân phối lại thu nhập xã hội.
BHXH được coi là một chính sách xã hội quan trọng, song hành cùng
với chính sách kinh tế, nhằm bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần cho mọi
NLĐ, chống các tệ nạn xã hội, góp phần tăng thu nhập, thúc đẩy sản xuất phát
triển. Với tư cách là công cụ để quản lý xã hội, Nhà nước quy định quyền và
trách nhiệm giữa các bên tham gia BHXH, đặc biệt mối quan hệ giữa NLĐ và
NSDLĐ; yêu cầu NSDLĐ phải thực hiện những cam kết, đảm bảo điều kiện
làm việc, nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần cho NLĐ, trong đó có nhu
cầu cơ bản về tiền lương, tiền công, chăm sóc sức khoẻ khi bị ốm đau, tai
BHXH đối với NLĐ. Nói cách khác, đó là một hệ thống các quy định được
pháp luật hoá về đối tượng hưởng, nghĩa vụ và mức đóng góp cho từng
trường hợp BHXH cụ thể.
Hiện nay, tồn tại 9 chế độ BHXH, song tuỳ theo điều kiện kinh tế - xã
hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ, mà số lượng các chế độ được thực
hiện ở mỗi nước khác nhau. Ở nước ta, Điều 4 Luật BHXH quy định rõ các
chế độ BHXH, gồm:
- BHXH bắt buộc bao gồm các chế độ sau đây:
+ Ốm đau;
+ Thai sản;
13
+ Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
+ Hưu trí;
+ Tử tuất.
- BHXH tự nguyện bao gồm các chế độ sau đây:
+ Hưu trí;
+ Tử tuất.
- BHTN bao gồm các chế độ sau đây:
+ Trợ cấp thất nghiệp;
+ Hỗ trợ học nghề;
+ Hỗ trợ tìm việc làm.
Nội dung của các chế độ nêu trên được quy định thống nhất trong
Luật BHXH. Mỗi một chế độ được xây dựng đều căn cứ vào những cơ sở
như: điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường lao động, điều kiện sinh học…
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
* Khái niệm thu BHXH bắt buộc:
hiện; trong đó cơ quan BHXH sử dụng các biện pháp nghiệp vụ và các phương
pháp đặc thù tác động trực tiếp vào đối tượng đóng BHXH để đạt mục tiêu đề ra.
* Các đối tượng thu bảo hiểm xã hội
BHXH là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bị giảm hoặc bị mất đi
do NLĐ bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm vì các nguyên nhân
như ốm đau, tai nạn, già yếu… Chính vì vậy, đối tượng của BHXH chính là thu
nhập của NLĐ bị biến động giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao
động, mất việc làm của những NLĐ tham gia BHXH. Còn đối tượng tham gia
BHXH là NLĐ và người SDLĐ. Tuy vậy, tùy theo điều kiện phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những
NLĐ nào đó.
Ở nước ta, Điều 2, Luật BHXH quy định đối tượng áp dụng như sau:
NLĐ tham gia BHXH bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm:
- Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp
đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;
15
- Cán bộ, công chức, viên chức;
- Công nhân quốc phòng, công nhân công an;
- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ
quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người
làm cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân;
- Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an
nhân dân phục vụ có thời hạn;
- Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng BHXH
bắt buộc.
Người SDLĐ tham gia BHXH bắt buộc bao gồm: Cơ quan nhà nước,
đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ
chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên
công việc rất lớn, đòi hỏi nguồn nhân lực và cơ sở vật chất phục vụ cho thu cũng
phải tương ứng.
Theo quy định, hàng tháng, khi có phát sinh tăng giảm lao động hoặc
tiền lương, chủ SDLĐ lập danh sách gửi cơ quan BHXH để được tăng, giảm kịp
thời. Số đối tượng tham gia BHXH ngày càng tăng đòi hỏi nguồn nhân lực, cơ
sở vật chất phục vụ quản lý phải phù hợp. Chỉ có như vậy thì quản lý thu BHXH
mới đảm bảo kịp thời và chính xác.
- Đối tượng thu là tiền nên dễ xảy ra sai phạm, vi phạm đạo đức và lạm
dụng quỹ BHXH.
Theo quy định, chậm nhất đến ngày cuối cùng của tháng, đơn vị trích
tiền đóng BHXH bắt buộc trên quỹ tiền lương, tiền công tháng của những NLĐ
tham gia BHXH bắt buộc, đồng thời trích từ tiền lương, tiền công tháng đóng
BHXH bắt buộc của từng NLĐ theo mức quy định, chuyển cùng một lúc vào tài
khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại ngân hàng hoặc Kho bạc nhà nước.
Trong thực tế hiện nay, số đơn vị thực hiện theo đúng quy định này không nhiều,
một số đơn vị còn nộp chậm BHXH, do vậy đòi hỏi trong thu BHXH phải sát
sao, kịp thời.
17
* Vai trò của thu BHXH bắt buộc
Thứ nhất, vai trò của thu BHXH trong việc tạo lập quỹ BHXH và thực
hiện chính sách BHXH.
Thu BHXH là hoạt động thường xuyên và đa dạng của ngành BHXH
nhằm đảm bảo nguồn quỹ tài chính BHXH đạt tập trung, thống nhất. Qua đó,
đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện và triển khai chính sách BHXH nói
chung và giữa những người tham gia BHXH nói riêng.
Thu BHXH ở hiện tại ảnh hưởng trực tiếp đến chi và quá trình thực hiện
chính sách BHXH trong tương lai. BHXH cũng như các loại hình bảo hiểm khác
mối, thu BHXH còn đóng vai trò như một công cụ thanh kiểm tra số lượng người
tham gia BHXH ở từng cơ quan, đơn vị, địa phương hoặc trên phạm vi toàn quốc.
Bởi thu BHXH cũng được tổ chức tập trung, thống nhất, có sự ràng buộc chặt chẽ
từ trên xuống dưới, đảm bảo an toàn tuyệt đối về tài chính, đảm bảo độ chính xác
trong ghi chép kết quả đóng BHXH của từng cơ quan đơn vị cũng như của từng
NLĐ. Hơn nữa, hoạt động thu BHXH là hoạt động có tính kế thừa, số thu BHXH
một phần dựa trên số lượng người và số tiền lương, tiền công tham BHXH để tạo
lập lên quỹ BHXH - nguồn lực để thực hiện chính sách BHXH.
1.2. QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
1.2.1. Khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc quản lý thu bảo
hiểm xã hội bắt buộc
* Khái niệm quản lý thu BHXH
Xuất phát từ khái niệm của quản lý: "Quản lý là sự tác động có tổ
chức có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt
mục tiêu đã đề ra". Như vậy, quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng
đích, có xác định mục tiêu, thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể quản lý
(quản lý, điều khiển) và đối tượng quản lý (chịu sự quản lý), đây là quan hệ
giữa lãnh đạo và bị lãnh đạo, không đồng cấp và có tính bắt buộc. Nó diễn
ra trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người với nhiều cấp độ, nhiều mối
liên hệ với nhau. Đối với hoạt động BHXH thì quản lý được bao gồm cả
quản lý các đối tượng tham gia và thụ hưởng, quản lý thu, quản lý chi trả và
19
quản lý nguồn quỹ từ đầu tư tăng trưởng.
Để quản lý thu BHXH đảm bảo theo đúng các quy định của Nhà nước,
cơ quan BHXH phải xây dựng biện pháp, kế hoạch, tổ chức các thao tác
tiền phải đóng BHXH của NLĐ, NSDLĐ.
Thu kịp thời, là thu kịp về thời gian khi có phát sinh quan hệ lao động,
tiền công, tiền lương mà những quan hệ đó thuộc đối tượng, phạm vi tham gia
BHXH. Chế độ BHXH thường xuyên thay đổi để phù hợp với phát triển kinh
tế- xã hội từng thời kỳ, ở mỗi thời điểm thay đổi đó cần phải tổ chức thực
hiện thu BHXH của NSDLĐ và NLĐ đảm bảo kịp thời, không để tồn đọng
tiền thu, không bỏ sót lao động tham gia BHXH.
Thứ hai, tập trung, thống nhất, công bằng, công khai: Cơ chế thu
BHXH được quy định thống nhất, nguồn thu BHXH tập trung quản lý, điều
tiết ở Trung ương là BHXH Việt Nam. Việc tham gia BHXH của NLĐ,
NSDLĐ đảm bảo công khai, thực hiện công bằng ở các thành phần kinh tế.
Các đơn vị tham gia BHXH đều phải công khai minh bạch số lao động phải
đóng BHXH và số tiền đóng theo đúng quy định, có sự kiểm tra, thanh tra,
kiểm soát của Nhà nước và giám sát của các cơ quan chức năng và các tổ
chức chính trị-xã hội. Tính công bằng được thể hiện trong việc thu nộp
BHXH, không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, tức là đều có tỷ
lệ phần trăm thu BHXH như nhau.
Thứ ba, hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần: Quỹ ốm đau và
thai sản, quỹ TNLĐ-BNN, quỹ hưu trí và tử tuất (của BHXH bắt buộc), quỹ
BHXH tự nguyện, quỹ BHTN được hạch toán độc lập theo các quỹ thành
phần. Chỉ có như vậy mới đảm bảo sự an toàn và cân đối lâu dài của quỹ
BHXH. Mặt khác, nguyên tắc này cũng nhằm tạo cơ sở điều chỉnh tỷ lệ đóng
đối với từng quỹ, đảm bảo phù hợp với từng giai đoạn.
Thứ tư, an toàn, hiệu quả: Thực hiện quản lý chặt chẽ tiền thu BHXH
theo chế độ quản lý tài chính của Nhà nước và sử dụng nguồn thu đúng mục
21
đích. Nguồn thu BHXH do được tồn tích cộng đồng, nên thường có khối lượng
22
tham gia để tổng hợp thành tổng quỹ tiền lương của đơn vị. Hệ thống tiền
lương để làm căn cứ đóng BHXH gồm 2 loại:
- Tiền lương do Nhà nước quy định: NLĐ thuộc đối tượng thực hiện
chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng làm căn cứ đóng
BHXH bắt buộc là tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản
phụ cấp: chức vụ, thâm niên vượt khung, thâm niên nghề (nếu có). Tiền lương
này tính trên cơ sở mức tiền lương tối thiểu chung tại thời điểm đóng.
Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc bao gồm cả hệ số chênh lệch
bảo lưu theo quy định của pháp luật về tiền lương, tiền công.
- Tiền lương, tiền công do đơn vị quyết định:
NLĐ thực hiện chế độ tiền lương do đơn vị quyết định thì tiền lương,
tiền công tháng đóng BHXH bắt buộc là mức tiền lương, tiền công ghi trên
hợp đồng lao động.
NLĐ có tiền lương, tiền công tháng ghi trên hợp đồng lao động bằng
ngoại tệ thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bắt buộc được tính
bằng đồng Việt Nam trên cơ sở tiền lương, tiền công bằng ngoại tệ được
chuyển đổi bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị
trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời
điểm ngày 02 tháng 01 cho 6 tháng đầu năm và ngày 01 tháng 7 cho 6
tháng cuối năm. Đối với ngoại tệ mà Ngân hàng Nhà nước không công bố
tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng thì áp dụng tỷ giá chéo của Đồng
Việt Nam so với ngoại tệ đó áp dụng để tính thuế xuất nhập khẩu do Ngân
hàng Nhà nước công bố tại thời điểm ngày 02 tháng 01 cho 6 tháng đầu
năm và ngày 01 tháng 7 cho 6 tháng cuối năm. Trường hợp trùng vào ngày
nghỉ mà Ngân hàng Nhà nước chưa có công bố thì được lấy tỷ giá của ngày
tiếp theo liền kề.
NLĐ là quản lý DN thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bắt
buộc là mức tiền lương do Điều lệ của công ty quy định.
của ngành là BHXH Việt Nam. Về nguyên tắc trong quá trình thu và lưu
chuyển tiền thì BHXH địa phương không được sử dụng tiền thu vào bất cứ
24
mục đích gì khác, việc quy định như vậy nhằm tránh những thất thoát tiền và
đảm bảo quy định trong quản lý.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt
buộc
* Chính sách tiền lương
Giữa chính sách tiền lương và chính sách BHXH nói chung, thu
BHXH nói riêng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chính sách tiền lương làm
cơ sở cho việc thực hiện chính sách BHXH. Khi Nhà nước điều chỉnh lương
tối thiểu chung, điều đó cũng đồng nghĩa với việc nâng mức đóng BHXH và
đương nhiên số thu BHXH cũng tăng lên. Từ năm 1990 đến năm 2010, với 10
lần tăng lương tối thiểu chung từ 120.000 đồng lên 1.150.000 đồng thì số thu
BHXH hằng năm tăng theo tiền lương tối thiểu.
* Tuổi nghỉ hưu
Tuổi nghỉ hưu là nhân tố tác động trực tiếp và chủ yếu đến quỹ BHXH
về mặt lý luận do chính sách tinh giảm biên chế và do có số đông lao động nghỉ
hưu trước tuổi, được giảm tuổi có thời gian làm việc trong môi trường nặng
nhọc, độc hại hoặc người không đủ sức khỏe để tiếp tục tham gia lao động.
Theo quy định hiện hành tuổi nghỉ hưu đối với nam là 60, nữ là 55.
Ngoài ra, có quy định riêng với một số trường hợp về hưu ở tuổi 50 hoặc 55
đối với nam và 45 hoặc 50 đối với nữ. Những lao động làm việc trong các
nghề đặc biệt nặng nhọc, độc hại thì nghỉ hưu không phụ thuộc vào tuổi đời
mà chỉ phụ thuộc vào thời gian đóng BHXH.
Việc tăng hoặc giảm tuổi nghỉ hưu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cung
người làm công ăn lương sẽ tăng lên cũng là lý do làm tăng tỷ trọng lao động
xã hội tham gia BHXH.
- Việc phát triển thị trường lao động, hình thành hệ thống thông tin thị
trường việc làm là yếu tố quan trọng giúp cho NLĐ dễ dàng tìm việc phù hợp
với chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề của mình; đồng thời có quyền lựa chọn