LUẬN VĂN:
Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân
thọ theo pháp luật Việt Nam
mở đầu
1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài
Từ tháng 8 năm 1996, doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đầu tiên của Việt Nam
đã đi vào hoạt động, so với sự xuất hiện của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ (cách
đây hơn 40 năm) thì đó là khoảng thời gian không dài nhưng bảo hiểm nhân thọ đã có
ở các nước có nền kinh tế phát triển, bảo hiểm nhân thọ đã ra đời và phát triển
hàng trăm năm nay. Những lợi ích về mặt xã hội mà bảo hiểm nhân thọ mang lại đã tạo
cho ngành kinh doanh này có một chỗ đứng rất vững vàng trong đời sống kinh tế xã hội.
Vị thế của bảo hiểm nhân thọ ngày càng được thể hiện một cách rõ nét ở các quốc gia
có nền kinh tế phát triển trên thế giới.
ở Việt Nam, hoạt động bảo hiểm nhân thọ vẫn còn là mới mẻ, đã có một số công
trình nghiên cứu về mặt kỹ thuật bảo hiểm, pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhưng chủ
yếu đi sâu vào lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, chưa có công trình nào nghiên cứu một
cách toàn diện, hệ thống về pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, đặc biệt là về
doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ.
Trước đây, cũng đã có một số luận văn thạc sĩ đề cập đến những vấn đề liên
quan đến pháp luật về kinh doanh bảo hiểm như:
+ Nguyễn Anh Tú: Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng bảo hiểm, Luận văn
Thạc sĩ Luật học, 2001.
+ Thái Văn Cách: Thực trạng pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, phương hướng
hoàn thiện, Luận văn Thạc sĩ Luật học, 2001.
+ Vương Việt Đức, Hợp đồng bảo hiểm tài sản, Luận văn Thạc sĩ Luật học,
2003.
Tuy nhiên, các công trình trên chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định pháp
luật về kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, mà chưa nghiên cứu cụ thể những quy định
pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, về doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, một loại hình kinh doanh có thể nói là mới ở thị trường Việt Nam nhưng
đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống. Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài "Doanh
nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ theo pháp luật Việt Nam" làm đề tài Luận văn
Thạc sĩ luật học.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Trên thế giới, ở những nước phát triển, hoạt động bảo hiểm nhân thọ đã có lịch
sử hàng trăm năm và trở nên vô cùng quen thuộc với đông đảo người dân. Trong khi đó, ở
những điểm không phù hợp với thực tiễn kinh doanh cần bổ sung, góp phần tạo ra môi
trường pháp lý chuẩn mực và lành mạnh hơn cho các doanh nghiệp kinh doanh bảo
hiểm nhân thọ, thúc đẩy hoạt động bảo hiểm nhân thọ ngày càng phát triển phục vụ đời
sống kinh tế, xã hội, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện
nay.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về bảo hiểm nhân thọ.
Chương 2: Pháp luật về doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ.
Chương 3: Một số nhận xét chung và kiến nghị. Chương 1
Những vấn đề chung về Bảo hiểm Nhân thọ
1.1. Khái luận về Bảo hiểm nhân thọ
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ
Trên thế giới, bảo hiểm nhân thọ đã có từ rất lâu, vào năm 1762, Công ty bảo
hiểm nhân thọ đầu tiên trên thế giới được thành lập ở nước Anh, tên là Equitable. Sau
đó đến Pháp, là nước thứ hai cho phép bảo hiểm nhân thọ được hoạt động. Vào năm
1787 công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên tại Pháp được thành lập mang tên là Công ty
bảo hiểm nhân thọ Hoàng gia, sau đó một thời gian ở các nước Châu âu khác cũng dần
dần xuất hiện bảo hiểm nhân thọ. ở Châu á, công ty bảo hiểm nhân thọ lần đầu tiên
được ra đời ở Nhật Bản, đó là công ty bảo hiểm nhân thọ Meiji đã ra đời và đi vào hoạt
động năm 1868.
Theo thời gian, bảo hiểm nhân thọ phát triển và trở thành một ngành dịch vụ tài
chính, với nhiều loại hình bảo hiểm khác nhau mà tiện ích cơ bản của nó là mang tính
tiết kiệm và trợ giúp khi sự kiện bảo hiểm xảy ra đối với người mua bảo hiểm.
Xét về khía cạnh vật chất, cuộc sống của con người là vô giá và không thể có
xã hội của Nhà nước).
- Bảo hiểm nhân thọ có tính đa mục đích, có thể được sử dụng để áp ứng nhiều
mục đích khác nhau tùy theo nhu cầu của khách hàng. Do vậy, sản phẩm bảo hiểm nhân
thọ thường rất đa dạng (mỗi sản phẩm chỉ đáp ứng được một hoặc một vài nhu cầu) và
hoạt động tiếp thị sản phẩm này phải mang tính năng động và linh hoạt cao.
- Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm duy nhất cho phép bảo hiểm cho hai
sự kiện trái ngược nhau là sống và chết. Điều này cũng có nghĩa là, trong tuyệt đại đa số
trường hợp, việc doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền với một hợp đồng bảo hiểm nhân
thọ là chắc chắn xảy ra (phân biệt với bảo hiểm phi nhân thọ - là loại hình bảo hiểm chỉ
trả tiền khi có rủi ro xảy ra). - Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm dài hạn, do đó điều khoản hợp đồng
phải được trình bày đầy đủ, khoa học dưới dạng văn bản, làm cơ sở cho sự duy trì quan
hệ hợp đồng dài nhiều chục năm, thậm chí là cả đời người. Mặt khác, các thông số kỹ
thuật của từng sản phẩm, từng hợp đồng phải được tính toán cẩn thận và công bố rõ
ràng tới khách hàng. Đồng thời, dịch vụ khách hàng là khâu quyết định có tính chất
sống còn tới việc duy trì hợp đồng bảo hiểm.
- Bảo hiểm nhân thọ là loại hình sản phẩm bảo hiểm vô hình. Vì vậy, công ty
bảo hiểm phải đặc biệt quan tâm đến việc giải thích cho khách hàng hiểu rõ về sản
phẩm. Hơn nữa, việc thực hiện đúng và đầy đủ cam kết là đòi hỏi nghiêm ngặt đối với
các công ty bảo hiểm.
Có thể thấy bảo hiểm nhân thọ có những đặc điểm cơ bản là:
- Đối tượng của bảo hiểm nhân thọ là con người, nhưng không như bảo hiểm
sinh mạng hay bảo hiểm tai nạn con người trong bảo hiểm phi nhân thọ, chỉ rủi ro chết
hay thương tật toàn bộ vĩnh viễn của đối tượng được bảo hiểm mới thuộc phạm vi bảo
hiểm của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Bên cạnh đó, mặc dù đối tượng của bảo hiểm
nhân thọ là con người nhưng bảo hiểm nhân thọ không đảm bảo những chi phí y tế như
trong các loại hình bảo hiểm tai nạn và sinh mạng cá nhân trong bảo hiểm phi nhân thọ.
- Bảo hiểm nhân thọ mang tính tiết kiệm. Đây là một trong những hình thức huy
bị thiệt hại khi một rủi ro xảy ra và như vậy, sự đền bù phải dành cho đúng đối tượng
phải chịu thiệt thòi, mất mát thì mới thực sự có ý nghĩa và đạt được mục đích. Mặt khác,
nếu không có yêu cầu về quyền lợi có thể được bảo hiểm, hiện tượng trục lợi bảo hiểm
trên tài sản, tính mạng, sức khỏe của người khác, đi ngược lại đạo đức và pháp luật sẽ
xảy ra phổ biến bởi bất cứ ai cũng có thể ký hợp đồng bảo hiểm đối với tài sản, tính
mạng, sức khỏe của người khác và sau đó cố tình gây ra rủi ro để thu lợi bất chính từ
tiền bồi thường.
Cụ thể hóa yêu cầu về quyền lợi có thể được bảo hiểm, khoản 2 Điều 31 Luật kinh
doanh bảo hiểm (2000) chỉ cho phép bên mua bảo hiểm mua bảo hiểm cho những người
sau đây: - Bản thân bên mua bảo hiểm;
- Vợ, chồng, con, cha, mẹ của bên mua bảo hiểm;
- Anh, chị, em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng;
- Người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm.
Đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, quy định những đối tượng được mua bảo
hiểm như trên đã trở thành thông lệ quốc tế xuất phát từ quan điểm xã hội cho rằng
những người thân thiết, ruột thịt trong gia đình là những người phải chịu đựng mất mát
nhiều nhất khi người thân gặp rủi ro. Mặt khác, có một số quan hệ cũng được chấp nhận
là đảm bảo quyền lợi này như quan hệ giữa người cho vay và người đi vay (nếu người
đi vay gặp rủi ro khi chưa trả hết nợ thì người cho vay phải chịu thiệt hại), quan hệ giữa
người lao động và người sử dụng lao động (nếu người lao động gặp rủi ro thì người sử
dụng lao động bị mất nhân công, nói cách khác là mất chi phí tuyển dụng và đào tạo lao
động khác thay thế, chi phí gián đoạn sản xuất…). Quy định này chỉ rõ rằng yêu cầu về
quyền lợi có thể được bảo hiểm là yêu cầu bắt buộc ở thời điểm yêu cầu bảo hiểm. Pháp
luật nhiều nước còn yêu cầu quyền lợi này hiện diện cả khi thanh toán quyền lợi bảo
hiểm (Mỹ, Canađa…) [43]. Quy định này được các doanh nghiệp bảo hiểm tuân thủ
triệt để, vì nó góp phần đáng kể bảo vệ doanh nghiệp trước rủi ro bị khách hàng lợi
dụng và trục lợi.
Trên đây là hai ràng buộc cơ bản mà pháp luật áp đặt đối với việc giao kết hợp
đồng bảo hiểm nhân thọ. Những ràng buộc này có thể tìm thấy ở pháp luật về bảo hiểm
của mọi quốc gia, là sản phẩm của một quá trình nghiên cứu và tích lũy kinh nghiệm
kinh doanh trong lĩnh vực này trong hàng trăm năm của các công ty bảo hiểm. Những
quy định này được các doanh nghiệp bảo hiểm ở các nước cũng như Việt Nam tuân thủ
triệt để và tinh thần của nó không chỉ được tìm thấy trong điều khoản hợp đồng bảo
hiểm của các doanh nghiệp mà còn trong mọi hoạt động tác nghiệp hàng ngày ở các
doanh nghiệp. Tóm lại, với những đặc điểm riêng, đã từ lâu, bảo hiểm nhân thọ giữ một vai trò
vô cùng quan trọng trên thị trường bảo hiểm thế giới và hiện nay càng ngày càng khẳng
định được vị trí quan trọng của mình trên thị trường bảo hiểm ở Việt Nam. Với các loại
hình sản phẩm đa dạng, bảo hiểm nhân thọ đáp ứng được nhiều nhu cầu khác nhau của
khách hàng. Với mỗi cá nhân, đó là nhu cầu thực hiện có hiệu quả các kế hoạch tài
chính dài hạn, nhu cầu chuẩn bị chi phí hậu sự và dành dụm để lại cho con cháu, nhu
cầu bổ sung nguồn tài chính khi già cả, mất khả năng lao động tạo ra thu nhập và các
nhu cầu bảo đảm về tài chính khi gặp các rủi ro về sức khỏe. Với các cơ quan, tổ chức,
đó là nhu cầu bù đắp chi phí tuyển dụng và đào tạo lại nhân công trong trường hợp
người lao động bị tử vong hoặc thương tật dẫn đến mất khả năng lao động, đặc biệt là
những lao động có kiến thức và trình độ và nhu cầu có nguồn tài chính hỗ trợ người lao
động cũng như gia đình của họ vượt qua khó khăn khi gặp phải rủi ro. Với ý nghĩa xã
hội to lớn như vậy, bảo hiểm nhân thọ đang ngày càng được cả xã hội quan tâm.
1.1.2. Các loại hình bảo hiểm nhân thọ cơ bản
Đáp ứng những nhu cầu về bảo hiểm, bảo hiểm nhân thọ được thiết kế gồm
năm loại hình bảo hiểm nhân thọ cá nhân cơ bản, trong mỗi loại hình lại bao gồm rất
nhiều sản phẩm khác nhau, ngoài ra còn có các loại hình bảo hiểm nhóm và bảo hiểm
bổ trợ.
1.1.2.1. Các loại hình bảo hiểm nhân thọ cá nhân
* Bảo hiểm sinh kỳ
- Thời hạn bảo hiểm của hợp đồng được xác định rõ ngay khi giao kết hợp
đồng;
- Công ty bảo hiểm có thể không phải trả tiền bảo hiểm (trong trường hợp người
được bảo hiểm còn sống đến thời điểm đáo hạn hợp đồng). Loại hình bảo hiểm này thường được thể hiện thành các sản phẩm phổ biến
như: bảo hiểm sinh mạng có thời hạn, bảo hiểm sinh mạng có hoàn phí; bảo hiểm tử kỳ
có số tiền bảo hiểm giảm dần, bảo hiểm tử kỳ có số tiền bảo hiểm tăng dần.
Mục đích của loại hình bảo hiểm này là cung cấp sự bảo vệ trước rủi ro trong
một thời hạn xác định; đồng thời, hợp đồng bảo hiểm loại này còn có thể được sử dụng
như một "tài sản thế chấp" trong quan hệ tín dụng.
* Bảo hiểm hỗn hợp
Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 định nghĩa: "Bảo hiểm hỗn hợp là nghiệp
vụ bảo hiểm kết hợp sinh kỳ và bảo hiểm tử kỳ" [25], trong đó "bảo hiểm sinh kỳ là
nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định,
theo đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người được
bảo hiểm vẫn sống đến thời hạn được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm". Tài liệu của
Viện Quản lý bảo hiểm nhân thọ Hoa Kỳ định nghĩa bảo hiểm hỗn hợp là nghiệp vụ bảo
hiểm, trong đó quyền lợi bảo hiểm được thanh toán khi người được bảo hiểm chết hoặc
vào ngày đáo hạn hợp đồng nếu người được bảo hiểm vẫn còn sống vào ngày này [45, tr.
31].
Các đặc điểm nổi bật của bảo hiểm hỗn hợp là:
- Vừa bảo hiểm rủi ro và có tính tiết kiệm;
- Thời hạn bảo hiểm được xác định trước;
- Công ty bảo hiểm chắc chắn phải thanh toán quyền lợi cho khách hàng.
Loại hình bảo hiểm này thường được thể hiện thành các sản phẩm phổ biến
như: bảo hiểm hỗn hợp có thời hạn, bảo hiểm hỗn hợp có số tiền bảo hiểm tăng dần, bảo
hiểm hỗn hợp trả tiền định kỳ.
Mục đích của loại hình bảo hiểm này là kết hợp giữa việc đề phòng rủi ro và giúp
thức nhất định; - Thời hạn bảo hiểm thường không xác định trước, hợp đồng bảo hiểm chấm
dứt khi người được bảo hiểm chết hoặc người được bảo hiểm đã nhận hết quyền lợi bảo
hiểm thỏa thuận.
- Công ty bảo hiểm chắc chắn phải trả tiền cho khách hàng.
Loại hình bảo hiểm này thường được thể hiện thành các sản phẩm phổ biến
như: niên kim trả ngay, niên kim hoãn trả, niên kim biến đổi, niên kim thu nhập trọn đời
trong thời hạn được đảm bảo.
Sản phẩm này chủ yếu được thiết kế nhằm mục đích an sinh xã hội, bảo hiểm hưu
trí cho người cao tuổi. Đây chính là một hình thức bảo hiểm xã hội tự nguyện, cung cấp
khoản "lương hưu" theo lựa chọn của chính người nhận.
1.1.2.2. Bảo hiểm nhóm
Loại hình bảo hiểm này có đặc điểm cơ bản khác với bảo hiểm cá nhân là thay
vì bảo hiểm cho một cá nhân theo một hợp đồng, bảo hiểm nhóm bảo hiểm cho một
nhóm người theo một hợp đồng. Loại hình này được thiết kế dưới hình thức một loạt
sản phẩm tương tự như sản phẩm bảo hiểm cá nhân, nhưng bảo hiểm cho một nhóm
người. Các bên trong hợp đồng bảo hiểm là công ty bảo hiểm và người tham gia bảo
hiểm, người được bảo hiểm không phải là một bên trong hợp đồng.
Ưu điểm của loại hình bảo hiểm nhóm là thủ tục tham gia đơn giản, phí bảo
hiểm thấp, loại hình bảo hiểm này giúp góp phần gắn kết, khuyến khích, tăng phúc lợi
cho người lao động (khách hàng chủ yếu của bảo hiểm nhóm là người lao động).
Tuy nhiên, loại hình bảo hiểm này cũng có một số hạn chế so với loại hình bảo
hiểm cá nhân như sản phẩm không đa dạng phong phú như sản phẩm bảo hiểm cá nhân,
ít người sử dụng lao động mua cho nhân viên, tập thể của họ. Quyền lợi bảo hiểm của
loại hình bảo hiểm này không nhiều (chỉ những quyền lợi cơ bản như chết, thương tật
do tai nạn), số tiền bảo hiểm không lớn, thời hạn bảo hiểm thường ngắn (1 năm), phức
tạp cho thủ tục và công tác quản lý hợp đồng khi số lượng thành viên của nhóm có sự
xáo trộn như tăng hoặc giảm
các tình huống phải chấm dứt hợp đồng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, những
quy định bắt buộc này không bao giờ áp dụng đối với bảo hiểm nhân thọ, trong bảo
hiểm nhân thọ, bên mua bảo hiểm có quyền chấm dứt hợp đồng vào bất cứ thời điểm
nào và không cần viện dẫn lý do.
Đối với bảo hiểm phi nhân thọ, người tham gia bảo hiểm chỉ có thể bảo hiểm
cho hậu quả của các sự kiện được bảo hiểm chứ không bảo hiểm việc nó không xảy ra.
Trái lại trong bảo hiểm nhân thọ, người tham gia bảo hiểm có thể bảo hiểm việc xảy ra
biến cố tử vong hoặc không xảy ra sự cố tử vong hoặc đồng thời bảo hiểm cho cả hai sự
kiện tử vong và không tử vong.
Tóm lại, bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ, mỗi loại hình bảo hiểm
đều có những đặc trưng riêng có của mình, nhưng tựu trung lại cả hai loại hình này đều
có tác dụng và vai trò rất to lớn, không thể thiếu được đối với mỗi quốc gia, nhất là với
các quốc gia phát triển.
1.1.3.2. Sự khác nhau giữa Bảo hiểm nhân thọ và Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm nhân thọ (bảo hiểm thương mại) đều là chế độ bảo
hiểm nên có những điểm chung về bảo hiểm. Nhưng vì là hai loại hình bảo hiểm khác
nhau nên có sự khác nhau về nhiều mặt như sau:
Thứ nhất: Về mục đích, nguyên tắc.
Bảo hiểm xã hội là một phần của chế độ bảo trợ xã hội bắt buộc thực hiện theo
pháp luật của nhà nước, nhằm mục đích đảm bảo đời sống cơ bản cho mọi người trong
xã hội, giữ vững ổn định trong xã hội, người được bảo hiểm có quyền lợi được đảm bảo
trọn đời. Quá trình hoạt động của bảo hiểm xã hội thể hiện rõ đặc điểm của quan hệ
hành chính.
Bảo hiểm thương mại là loại hình do mọi người tự nguyện tham gia bảo hiểm,
không có sự bắt buộc. Nguyên tắc cần phải tuân theo đó là người nào tham gia bảo hiểm thì
người đó được hưởng quyền lợi bảo hiểm. Đây là hoạt động kinh doanh kiếm lời của doanh
nghiệp bảo hiểm. Mọi quy tắc, trách nhiệm bảo hiểm đều phải thực hiện một cách chặt chẽ
+ Các nguồn khác…
Quỹ bảo hiểm thương mại:
Quỹ bảo hiểm thương mại hình thành trên cơ sở thu phí bảo hiểm của người
tham gia bảo hiểm thể hiện dưới hợp đồng hoặc do luật định. Đây là quỹ bảo hiểm riêng
biệt, độc lập với ngân sách nhà nước. Quỹ này không do cơ quan nhà nước quản lý tập
trung thống nhất mà do chính các doanh nghiệp bảo hiểm quản lý và sử dụng theo Luật.
Về mặt pháp lý doanh nghiệp bảo hiểm được phép thu phí bảo hiểm của các tổ chức, cá
nhân tham gia bảo hiểm và dùng quỹ tập trung này để chi trả quyền lợi bảo hiểm và bù
đắp cho các rủi ro bảo hiểm xảy ra. Nguồn quỹ này chỉ sử dụng vì các mục đích cho đối
tượng tham gia, không sử dụng vào các mục đích khác. Nhà nước không được sử dụng
quỹ này.
1.1.3.3. Sự khác nhau giữa bảo hiểm nhân thọ và hình thức huy động vốn qua
kênh ngân hàng
Hoạt động bảo hiểm nhân thọ và hoạt động ngân hàng cùng có tính chất giúp
người dân tiết kiệm tiền và được hưởng lãi suất từ những khoản tiền tiết kiệm. Nhưng
giữa hai loại hình tiết kiệm này có một sự khác biệt lớn, đó là hoạt động bảo hiểm nhân
thọ còn có tính chất đảm bảo rủi ro cho người tham gia trong khi hoạt động ngân hàng
không có.
Có thể thấy, tiết kiệm ngân hàng chỉ mang tính tiết kiệm đơn thuần trong khi đó
bảo hiểm nhân thọ kết hợp cả tiết kiệm với bảo hiểm. Trong quá trình tham gia bảo
hiểm nhân thọ (5, 10, 15 năm hoặc dài hơn), số phí đóng bảo hiểm không thay đổi trong
suốt thời hạn bảo hiểm đồng thời người tham gia được đảm bảo về quyền lợi khi không
may gặp rủi ro. Tính bảo hiểm thấy rõ nhất là trường hợp người được bảo hiểm tham gia
bảo hiểm nhân thọ vừa nộp phí 1 tháng thì không may bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn,
theo cam kết người đó sẽ được miễn phí cho toàn bộ thời gian còn lại của thời hạn nộp
phí. Số phí đã nộp rõ ràng nhỏ hơn rất nhiều so với quyền lợi người tham gia bảo hiểm
sẽ được nhận. Còn nếu gửi tiết kiệm ngân hàng, khi bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn,
người đó chẳng được quyền lợi gì ngoài số lãi trên số tiền gửi.
lợi cho người tham gia bảo hiểm, các công ty bảo hiểm nhân thọ mới tồn tại và phát
triển được trong môi trường kinh doanh cạnh tranh.
1.2. Quá trình hình thành và phát triển của thị trường bảo hiểm nhân thọ
Việt Nam
Bảo hiểm nhân thọ xuất hiện tại Việt Nam từ năm 1996 trong điều kiện kinh tế -
xã hội có nhiều thuận lợi. Vào thời điểm này, sau một thập kỷ đổi mới, nền kinh tế Việt
Nam đã có nhiều khởi sắc, đời sống người dân được cải thiện dẫn đến có dư thừa, người
dân bắt đầu quan tâm đến việc thực hiện các kế hoạch đầu tư dài hạn. Trình độ dân trí
được nâng cao cùng với sự phát triển đáng kể của khoa học công nghệ đã tạo những tiền
đề thuận lợi cho sự xuất hiện của loại hình dịch vụ như bảo hiểm nhân thọ. Trong bối
cảnh đó, Nhà nước cũng đã bước đầu có những chính sách thông thoáng, tạo điều kiện
cho bảo hiểm nhân thọ phát triển.
Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rõ rằng, vào thời điểm này, sự ra đời của bảo
hiểm nhân thọ cũng đồng thời gặp phải một số khó khăn. Nền kinh tế tuy đã có bước
phát triển song vẫn còn chậm và ở mức thấp, trong khi giá trị đồng tiền chưa được đảm
bảo khiến cho người dân ít có khả năng cũng như tâm lý thực hiện các kế hoạch đầu tư dài
hạn như mua bảo hiểm nhân thọ. Đây lại là một loại dịch vụ hoàn toàn mới, chưa từng xuất
hiện trên thị trường Việt Nam, do vậy, bản thân các doanh nghiệp bảo hiểm cũng như
người tiêu dùng đều chưa có đủ kiến thức và kinh nghiệm về loại hình dịch vụ mới mẻ
này. Cũng vì lý do này, các quy định của pháp luật có liên quan còn nhiều bất cập, chưa
tạo được một hành lang pháp lý thật sự phù hợp cho bảo hiểm nhân thọ phát triển.
Trong bối cảnh như vậy, bảo hiểm nhân thọ đã được ra đời ở Việt Nam sau rất
nhiều cố gắng chuẩn bị cả từ phía cơ quan bảo hiểm và các doanh nghiệp bảo hiểm. Sự
ra đời của loại hình này được đánh dấu bởi việc ngày 20/3/1996, Bộ trưởng Bộ Tài
chính ra Quyết định số 281TC/TCNH về việc triển khai thí điểm bảo hiểm nhân thọ,
theo đó, Bộ Tài chính cho phép Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam tổ chức triển khai thí
điểm bảo hiểm nhân thọ với hai nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ có thời hạn 5 năm và 10
năm và bảo hiểm trẻ em - chương trình đảm bảo cho trẻ em đến tuổi trưởng thành. Với
(100% vốn đầu tư nước ngoài có nguồn gốc từ Anh), Công ty trách nhiệm hữu hạn Bảo
hiểm Baominh-CMG (liên doanh giữa Công ty Bảo hiểm Thành phố Hồ Chí Minh - một
doanh nghiệp nhà nước Việt Nam và Công ty CMG của úc), Công ty trách nhiệm hữu hạn
Bảo hiểm Quốc tế Mỹ (AIA - 100% vốn đầu tư nước ngoài có nguồn gốc từ Hoa Kỳ) và
Công ty trách nhiệm hữu hạn Bảo hiểm Manulife (100% vốn đầu tư nước ngoài có nguồn
gốc từ Canada).
Các công ty bảo hiểm nhân thọ nước ngoài mới vào Việt Nam và tập trung đưa
ra thị trường nhiều loại sản phẩm mới, thu hút nhiều sự quan tâm của người tiêu dùng.
Kể từ đây, hoạt động bảo hiểm nhân thọ đã có những bước tiến nhanh chóng và vững
chắc, quy mô thị trường bảo hiểm nhân thọ được mở rộng từng bước đáp ứng nhu cầu
của nền kinh tế và đời sống nhân dân. Số lượng sản phẩm bảo hiểm ngày càng tăng với
sự phong phú về thời hạn bảo hiểm, phương thức và thời hạn nộp phí, phương thức
thanh toán. Điều khoản các hợp đồng cũng được soạn thảo theo hướng phù hợp với tiêu
chuẩn quốc tế, cung cấp cho chủ hợp đồng (bên mua bảo hiểm) tuyệt đại bộ phận các
quyền lợi mà một chủ hợp đồng có thể có được theo thông lệ quốc tế.
Theo đó, trình độ nhận thức và hiểu biết của khách hàng về bảo hiểm nhân thọ
đã phát triển một cách rõ rệt. Mô hình tổ chức ở tất cả các doanh nghiệp kinh doanh bảo
hiểm nhân thọ đã thể hiện tính chuyên nghiệp hóa và chuyên môn hóa cao với sự phân
tách chi tiết nhiều phòng, ban, bộ phận tương ứng với các chức năng hoạt động. Các
doanh nghiệp bảo hiểm luôn đưa ra thị trường bảo hiểm những sản phẩm mới kết hợp
với các sản phẩm bổ trợ để người dân lựa chọn, thu hút được nhiều sự quan tâm của
người tiêu dùng.
Các sản phẩm bảo hiểm từng bước đáp ứng nhu cầu phong phú của nhiều đối
tượng khách hàng trong việc bảo vệ bản thân, bảo vệ gia đình cũng như đáp ứng nhu
cầu tích lũy tài chính cho những dự án, mục tiêu trong tương lai. Các sản phẩm được
thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc y tế chất lượng cao, bổ sung thu nhập khi nghỉ
hưu, tích lũy và ổn định đảm bảo tài chính cho việc học hành của con cái. Dưới đây là Bảng số liệu thống kê so sánh tình hình phát triển của thị trường
1,18% (tăng 1,06% GDP), tăng hơn rất nhiều so với doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm phi
nhân thọ, mặc dù từ năm 1999 đến 2003, số lượng công ty bảo hiểm phi nhân thọ trên
thị trường lớn hơn nhiều so với số lượng công ty bảo hiểm nhân thọ.
- Giai đoạn 3 (năm 2004 đến nay):
Là giai đoạn thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam dần đi vào ổn định sau cơn
bão phát triển bảo hiểm nhân thọ ở giai đoạn trên. Theo số liệu thống kê của Hiệp hội
Bảo hiểm Việt Nam cho thấy số hợp đồng bảo hiểm nhân thọ khai thác mới giảm từ