VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN KHÁNH LINH
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH
VỰC BẢO HIỂM NHÂN THỌ THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Nguyễn Trọng Điệp
Hà Nội , 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Mọi số liệu,
dẫn chứng thể hiện trong luận văn là trung thực và được chú thích nguồn đầy đủ
theo đúng quy định.
Học viên
Nguyễn Khánh Linh
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BHNT
: Người tiêu dùng
BVQLNTD
: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
DNBHNT
: Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
HĐBHNT
: Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
KDBH
: Kinh doanh bảo hiểm
NTD
: Người tiêu dùng
NAIC
: Hiệp hội quốc gia các Ủy ban bảo hiểm Hoa
Kỳ
Từ thực tiễn giải quyết các tranh chấp và nghiên cứu về thực trạng trên, tôi
cho rằng một trong các nguyên nhân chính ảnh hưởng đến quyền lợi của người
được bảo hiểm đó là hệ thống pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, về bảo vệ quyền
lợi người tham gia bảo hiểm chưa hoàn thiện, còn nhiều bất cập và mâu thuẫn phát
sinh. Chẳng hạn, quy định điều chỉnh quan hệ người tham gia bảo hiểm chưa rõ
ràng, đầy đủ; các quy định liên quan đến hợp đồng, cụ thể ở đây là hợp đồng theo
mẫu giữa Bộ luật Dân sự (luật gốc) và Luật KDBH (luật chuyên ngành) chưa thống
nhất, như khái niệm "đình chỉ hợp đồng" không được quy định trong Bộ luật Dân sự
hay Luật KDBH nhưng lại được sử dụng rất nhiều lần trong Luật KDBH; quy định
1
về quyền lợi có thể được bảo hiểm chưa hợp lý với bản chất của bảo hiểm nhân thọ;
cơ sở tính phí bảo hiểm do nguyên nhân khách quan hay chủ quan chưa có sự phân
biệt rõ ràng;...
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Qua việc rà soát các công trình nghiên cứu liên quan đến việc bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, ta có thể
nhận thấy rằng, các công trình nghiên cứu về mặt lý luận và tổng kết thực tiễn về
vấn đề BVQLNTD trong BHNT chưa nhiều. Đa số chỉ đề cập đến pháp luật kinh
doanh bảo hiểm, tập trung khai thác vấn đề về quản lý, kinh doanh của các doanh
nghiệp bảo hiểm, trong khi các bài nghiên cứu về cơ chế bảo vệ người tham gia bảo
hiểm mới chỉ là những đề cập sơ lược, những bài báo dù rằng tranh chấp này cũng
thường xuyên xảy ra.
Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu, đề xuất phương hướng hoàn
thiện các quy định pháp luật liên quan đến BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT là hết
sức cần thiết để vừa đảm bảo lợi ích cho các bên khi tham gia bảo hiểm nói chung,
người tiêu dùng sản phẩm bảo hiểm nhân thọ nói riêng, vừa góp phần thúc đẩy thị
trường dịch vụ bảo hiểm ở Việt Nam phát triển, đẩy mạnh sự lớn mạnh của nền
kinh tế - xã hội. Bởi vậy theo tác giả, việc nghiên cứu đề tài "Bảo vệ quyền lợi
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh
vực bảo hiểm nhân thọ
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
4
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC
BẢO HIỂM NHÂN THỌ
1.1. Những vấn đề chung về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực
bảo hiểm nhân thọ
1.1.1. Khái niệm người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
Theo quy định tại Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội và theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số
59/2010/QH12 thì: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho
mục đích tiêu dùng, sinh hoạt cá nhân, gia đình, tổ chức”.
Hiện nay, có hai cách hiểu khác nhau về người tiêu dùng:
+ Theo nghĩa rộng, người tiêu dùng ngoài mục đích mua hàng hóa, sử dụng
dịch vụ để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thì còn có thể phục vụ cho mục đích tái sản
xuất kinh doanh (mua sản phẩm này để chế biến, sản xuất thành sản phẩm khác, ví
dụ như mua vải để may thành quần, áo và mang đi bán).
+ Theo nghĩa hẹp, người tiêu dùng là các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức mua
hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng của mình. Như
vậy, người tiêu dùng bao gồm cả người mua hàng hóa (mua lương thực, thực phẩm,
thuốc chữa bệnh, quần áo, thiết bị máy móc, đồ dùng sinh hoạt, phương tiện đi
mình,
+ Người mua hàng hóa, dịch vụ cho người khác, cho gia đình hoặc cho tổ
chức sử dụng,
+ Cá nhân, gia đình, tổ chức sử dụng hàng hóa, dịch vụ do người khác mua
hoặc được cho, tặng.
Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm (KDBH) nói chung và bảo hiểm nhân
thọ (BHNT) nói riêng, chưa có một quy định pháp luật nào định nghĩa về người tiêu
dùng trong lĩnh vực BHNT cả. Tuy nhiên, chúng ta có thể suy đoán ra từ khái niệm
người tiêu dùng nói chung và từ bản chất, đặc điểm của BHNT trong các văn bản
pháp luật có liên quan. BHNT thuộc nhóm bảo hiểm con người trong bảo hiểm
thương mại, là loại hình bảo hiểm mà người mua bảo hiểm sẽ định kỳ nộp một
khoản tiền nhỏ (gọi là phí bảo hiểm) cho doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
(DNBHNT), theo đó DNBHNT có trách nhiệm trả một số tiền lớn (gọi là số tiền
bảo hiểm) cho người hưởng quyền lợi bảo hiểm như đã thỏa thuận từ trước khi xảy
ra các sự kiện bảo hiểm liên quan đến tuổi thọ, tính mạng của người được bảo hiểm.
Như vậy, người tiêu dùng trong BHNT (sau đây gọi tắt là người tiêu dùng) được
hiểu là một bên giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (HĐBHNT), có thể có các tư
cách chủ thể sau:
- Là bên mua bảo hiểm: là cá nhân hoặc tổ chức có nhu cầu mua bảo hiểm,
giao kết HĐBHNT với doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo
6
hiểm có thể là người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng. Bên mua bảo hiểm chỉ
có thể mua bảo hiểm cho những người sau:
+ Bản thân bên mua bảo hiểm
+ Vợ, chồng, con, cha, mẹ của bên mua bảo hiểm
+ Anh, chị, em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng
+ Người khác nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm
- Là người được bảo hiểm: là người có tính mạng và sức khỏe là đối tượng
của bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng.
Để làm rõ QLNTD khi tham gia BHNT, ta sẽ chia theo quyền lợi gắn liền
với các loại hình BHNT cơ bản:
(1) Bảo hiểm trong trường hợp sống: DNBHNT cam kết chi trả những khoản
tiền đều đặn trong một khoảng thời gian xác định hoặc trong suốt cuộc đời người
tham gia bảo hiểm nếu đến một thời điểm nào đó được ấn định trong hợp đồng mà
người được bảo hiểm vẫn còn sống. Trường hợp người được bảo hiểm chết trước
ngày đến hạn thanh toán thì sẽ không được chi trả bất kỳ một khoản tiền nào. Mục
đích của loại bảo hiểm này là đảm bảo thu nhập cố định sau khi về hưu hay tuổi cao
sức yếu, giảm bớt nhu cầu phụ thuộc vào phúc lợi xã hội hoặc con cái khi tuổi già.
Loại hình bảo hiểm này rất phù hợp với những người khi về hưu hoặc những người
không được hưởng tiền trợ cấp hưu trí từ bảo hiểm xã hội đến độ tuổi tương ứng với
tuổi về hưu đăng ký tham gia để được hưởng những khoản trợ cấp định kỳ hàng
tháng. Vậy nên các DNBHNT đặt tên cho loại hình BHNT này là “bảo hiểm tiền trợ
cấp hưu trí”, “bảo hiểm tiền hưu”, “niên kim nhân thọ”...
(2) Bảo hiểm trong trường hợp tử vong: được chia thành 2 nhóm:
(i) Bảo hiểm tử kỳ (còn được gọi là bảo hiểm tạm thời hay bảo hiểm sinh
mạng có thời hạn): DNBHNT có trách nhiệm thanh toán số tiền bảo hiểm cho người
thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm được chỉ định nếu người được bảo hiểm tử vong
trong thời gian có hiệu lực của hợp đồng. Nếu cái chết không xảy ra trong thời gian
đó thì người được bảo hiểm không nhận được bất kỳ một khoản hoàn phí nào từ số
phí bảo hiểm đã đóng. Mục đích của loại bảo hiểm này là nhằm đảm bảo các chi phí
mai táng chôn cất, bảo trợ cho gia đình và người thân trong một thời gian ngắn hay
thanh toán các khoản nợ nần cho những khoản vay hoặc thế chấp của người được
bảo hiểm. Bảo hiểm tử kỳ còn được đa dạng hóa thành các dạng như bảo hiểm tử kỳ
cố định, bảo hiểm tử kỳ có thể tái tục, bảo hiểm tử kỳ có thể chuyển đổi, bảo hiểm
tử kỳ giảm dần, bảo hiểm tử kỳ tăng dần, bảo hiểm thu nhập gia đình, bảo hiểm tử
kỳ có điều kiện,… [21, tr.438-441]
(ii) BHNT trọn đời (bảo hiểm trường sinh): DNBHNT cam kết chi trả cho
người thụ hưởng bảo hiểm một số tiền bảo hiểm đã được ấn định trên hợp đồng khi
đủ quyền lợi bảo hiểm trong thời hạn mà pháp luật quy định và cam kết trong
HĐBH sau khi đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Quyền lợi bảo hiểm là lợi ích
vật chất thể hiện bằng tiền, do đó nếu doanh nghiệp bảo hiểm chậm trễ trong việc
thanh toán bảo hiểm thì rõ rang quyền lợi của người được bảo hiểm không được bảo
vệ. Pháp luật Việt Nam cũng như các nước đều quy định về thời hạn mà DNBHNT
phải trả tiền bảo hiểm kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu trả tiền
bảo hiểm.
Thứ ba, quá trình tiến hành thủ tục yêu cầu trả tiền bảo hiểm, người tiêu
dùng được tạo điều kiện thuận lợi từ các chủ thể có liên quan (DNBHNT; các tổ
chức, cá nhân liên quan đến việc giám định bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm).
9
Tóm lại, QLNTD trong lĩnh vực BHNT xét đến cùng là khả năng số tiền bảo
hiểm sẽ được trả khi người được bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nhất định hoặc được
ấn định trong hợp đồng (bảo hiểm trong trường hợp sống – bảo hiểm sinh kỳ) hoặc
là số tiền bảo hiểm sẽ được trả cho người thụ hưởng khi người được bảo hiểm
không may qua đời, ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền rất nhỏ qua
việc đóng phí bảo hiểm (bảo hiểm trong trường hợp tử vong – bảo hiểm tử kỳ và
bảo hiểm trường sinh) hoặc là số tiền bảo hiểm sẽ được trả khi hết hạn hợp đồng
hoặc người được bảo hiểm bị tử vong trong thời hạn bảo hiểm (bảo hiểm cả trong
trường hợp sống hay tử vong – bảo hiểm hỗn hợp).
1.1.2.2. Sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực
bảo hiểm nhân thọ
Người tham gia BHNT hay người tiêu dùng trong lĩnh vực BHNT là người
mua bảo hiểm, người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng, tức là những chủ thể
mà quyền lợi và nghĩa vụ gắn liền với HĐBH do DNBHNT cung cấp. Trong pháp
luật Việt Nam cũng như thông lệ quốc tế, bên cạnh nguyên tắc bảo vệ quyền lợi
chính đáng của tất cả các bên tham gia hợp đồng, người tham gia bảo hiểm luôn là
chủ thể được chú ý bảo vệ quyền lợi vì những lý do sau đây:
thông tin bất cân xứng). PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa nhận xét “…thông tin bất cân
xứng ngày càng trở thành một lĩnh vực cần được quan tâm, đặc biệt trong những
hợp đồng giữa thương nhân và người tiêu dùng" [35, tr.40]. Từ đó dẫn tới người
tiêu dùng bị yếu thế trong việc đàm phán, thiết lập hợp đồng khi quan hệ với nhà
kinh doanh chuyên nghiệp trên thị trường. Và nếu có tranh chấp xảy ra thì người
tiêu dùng cũng yếu thế hơn về khả năng chịu rủi ro do tiềm lực tài chính có hạn.
Thứ ba, xuất phát từ đặc thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm hay là tính
lệ thuộc của người tham gia bảo hiểm vào DNBHNT có thể dẫn đến hành vi không
công bằng khi thực hiện hợp đồng của DNBHNT. Khi DNBHNT nhận phí bảo
hiểm do bên bảo hiểm đóng thì họ không chuyển giao tài sản hay một loại sản phẩm
hữu hình mà người mua bảo hiểm chỉ nhận được cam kết từ phía DNBHNT. Sau
khi nộp phí bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm đã hoàn tất nghĩa vụ của mình, nếu
sự kiện bảo hiểm xảy ra thì họ có quyền lợi theo HĐBHNT. Chính vì sự lệ thuộc
này mà DNBHNT có thể đưa ra các thỏa thuận, hoặc có những hành vi làm ảnh
hưởng đến quyền lợi chính đáng của người tham gia bảo hiểm, ví dụ như những đòi
hỏi quá mức trong các thủ tục khai báo, hoặc chậm trễ trong việc quyết định trả tiền
bảo hiểm,...
Bên cạnh đó, do HĐBHNT thường có thời gian bảo hiểm dài (từ 5 năm trở
lên) nên những thiệt hại do HĐBHNT bị chấm dứt trước hạn là rất lớn đối với
người tiêu dùng. Chính vì người tiêu dùng luôn có nhu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng
nên DNBHNT sẽ có lợi thế trong khi thực hiện HĐBHNT. Chẳng hạn một người
đàn ông 58 tuổi mua bảo hiểm tử kỳ, nếu bị chấm dứt hợp đồng vì bất cứ lý do gì,
thậm chí là khi DNBHNT bị phá sản thì người đó cũng rất khó có khả năng mua
11
được sản phẩm thay thế hoặc thậm chí có thể bị từ chối nếu vượt quá một ngưỡng
tuổi nhất định (thường là 65 tuổi).
Thứ tư, kinh doanh BHNT tại Việt Nam mặc dù đã xuất hiện từ những năm
1996 nhưng phải đến gần đây mới thực sự phát triển. Do vậy nhận thức của người
12
quyền của mình, có kiến thức và sự tìm hiểu, am hiểu về sản phẩm mà mình muốn
mua và có năng lực để đối phó với những tranh chấp có thể xuất hiện trước, trong
và sau quá trình thực hiện hợp đồng.
Trong quan hệ với DNBHNT, người tiêu dùng hiểu hơn ai hết về nhu cầu
của chính bản thân mình khi tham gia vào các giao dịch. Người tiêu dùng có quyền
lựa chọn sản phẩm phù hợp với nhu cầu và năng lực; yêu cầu được cung cấp thêm
thông tin hoặc thay đổi điều khoản giao dịch; quyết định tham gia hoặc không tham
gia HĐBHNT. Tuy vậy, cũng phải thừa nhận một thực tế rằng, người tiêu dùng ở
Việt Nam còn có những hạn chế nhất định như sự hiểu biết trong quan hệ tiêu dùng
nói chung và quan hệ kinh doanh BHNT nói riêng còn chưa đầy đủ. Vậy, để bảo vệ
quyền lợi của mình, người tiêu dùng cần biết liên kết, tự bảo vệ mình trước khi cần
đến sự giúp đỡ của các cơ quan chức năng hay sự trợ giúp của pháp luật.
1.1.3.2. Được bảo vệ thông qua pháp luật Nhà nước
Nếu như người tiêu dùng là “người tiêu dùng thông thái” còn các DNBHNT
thực hiện đầy đủ các trách nhiệm của mình đối với người tiêu dùng và xã hội thì có
lẽ chúng ta sẽ không phải bàn luận nhiều về vấn đề này. Tuy nhiên, hằng ngày, hằng
giờ, người tiêu dùng vẫn đang bị xâm hại quyền lợi chính đáng bằng nhiều cách. Vì
nhiều lý do khác nhau, hiểu biết hay không hiểu biết đều ngại khiếu nại, tố cáo. Vì
vậy, trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng sẽ do Nhà nước đảm nhân, điều này hoàn
toàn phù hợp với chức năng của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người
được thực thi trên thực tế. Để bảo vệ QLNTD trong nhà nước pháp quyền, pháp luật
và thực thi pháp luật đóng vai trò là phương tiện để người tiêu dùng trong lĩnh vực
BHNT tự bảo vệ mình, là công cụ để nhà nước bảo vệ quyền lợi chính đáng của
người tham gia bảo hiểm, duy trì trật tự xã hội.
1.1.3.3. Các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Để bảo vệ những quyền lợi hợp pháp và chính đáng của bản thân, người
tham gia BHNT có thể nhờ cậy đến các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi
quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại hoặc Tòa án. Trọng
tài thương mại và Tòa án với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm giải quyết mâu
thuẫn tranh chấp bằng việc đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc các bên phải thi
hành.
1.2. Những vấn đề chung về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong
lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
1.2.1. Khái niệm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực
bảo hiểm nhân thọ
BVQLNTD là nhu cầu khách quan của kinh tế thị trường, bởi xung đột về lợi
ích giữa DNBHNT và người tiêu dùng luôn xuất hiện cùng với sự phát triển không
ngừng của nền kinh tế thị trường. Đây đồng thời cũng là nguyện vọng của người
tiêu dùng, lực lượng đông đảo đóng vai trò là động lực phát triển của sản xuất, kinh
doanh cũng như của cả nền kinh tế - xã hội. Dưới góc độ pháp lý, BVQLNTD trong
lĩnh vực BHNT được hiểu là tổng thể các biện pháp pháp luật, kinh tế, văn hóa, xã
14
hội được Nhà nước quy định và áp dụng trên thực tế để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người tiêu dùng, bảo đảm cho các quyền của người tiêu dùng được tôn
trọng và thực thi có hiệu quả. Trong đó, pháp luật được coi là phương tiện quan
trọng, chủ yếu và hữu hiệu nhất để bảo vệ QLNTD bởi sức mạnh cưỡng chế của
Nhà nước.
Pháp luật BVQLNTD là một công trình hệ thống, đề cập đến việc lập pháp
nhiều mặt như quan hệ xã hội, dân sự, hành chính, kinh tế, hình sự, trình tự tố tụng
có liên quan đến đời sống tiêu dùng cá nhân. Vì thế pháp luật BVQLNTD trong lĩnh
vực BHNT là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa
nhận nhằm điều chỉnh quan hệ tiêu dùng phát sinh khi giao kết HĐBHNT. Bản chất
của quan hệ tiêu dùng hay mua – bán trong lĩnh vực BHNT là một loại quan hệ dân
sự, được thực hiện dựa trên cơ sở HĐBHNT giữa người tiêu dùng và DNBHNT
chuyên nghiệp. Bởi vậy, quan hệ tiêu dùng trong lĩnh vực BHNT trước hết được
Quyền tự do kinh doanh thuộc lĩnh vực quyền dân sự của tổ chức, cá nhân.
Về nguyên lý, tôn trọng và bảo vệ quyền tự do kinh doanh là việc nhà nước thể chế
hóa pháp luật và bảo đảm bằng nhà nước với tư tưởng “tổ chức, cá nhân được làm
tất cả những gì pháp luật không cấm”. Tuy nhiên, bảo đảm quyền tự do kinh doanh
của DNBHNT với việc bảo đảm an toàn, hạn chế rủi ro kinh doanh là hai mặt cần
phải giải quyết xung đột đối với loại doanh nghiệp này. Bởi vì, đây là chủ thể kinh
doanh trong lĩnh vực tài chính tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao.
Thứ hai, về phía người được bảo hiểm, pháp luật phải bảo đảm:
- Quyền được đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong giao kết và thực hiện
HĐBHNT. Mặc thù nội dung này đã được pháp luật ghi nhận, nhưng do đặc thù của
quan hệ bảo hiểm, nhất là đối với BHNT khi người tham gia bảo hiểm thường là
từng cá nhân riêng lẻ thì DNBHNT thường có vị thế mạnh hơn khi giao kết và thực
hiện hợp đồng
- Quyền được giải thích, hướng dẫn để hiểu đúng và đầy đủ nội dung của
HĐBHNT. Bởi vì, hoạt động kinh doanh BHNT gồm các tác nghiệp mang tính kỹ
thuật kinh tế rất cao, đòi hỏi người mua bảo hiểm phải có nhận thức tối thiểu về bảo
hiểm. Nếu không hiểu rõ, người tham gia bảo hiểm sẽ có thể thực hiện không đúng
thỏa thuận, dẫn đến những bất lợi, thậm chí có thể không được trả tiền bảo hiểm khi
xảy ra sự kiện bảo hiểm.
- Quyền được trả tiền bảo hiểm theo đúng thỏa thuận. Đây là quyền lợi quan
trọng nhất của người được bảo hiểm, vì nó là mục đích của việc tham gia bảo hiểm
của bên mua bảo hiểm.
- Ngoài ra còn có các quyền như quyền được an toàn, được lựa chọn, được
lắng nghe, được khiếu nại, được đền bù…
Thứ ba, pháp luật về BVQLNTD còn phải đảm bảo ràng buộc trách nhiệm
của các cơ quan, đơn vị, cá nhân trong mối quan hệ với người tiêu dùng; có chứa
các quy định, chế tài xử lý có đủ sức răn đe, xóa bỏ được những bất cập vốn có, huy
động được sức mạnh của toàn xã hội để bảo vệ người tiêu dùng.
16
được thông qua và có hiệu lực từ 01/10/1999. Việc bảo vệ quyền lợi của người
tham gia BHNT thời gian này cũng chịu sự điều chỉnh của pháp lệnh này với những
ghi nhận rõ ràng về quyền và trách nhiệm của người tiêu dùng; trách nhiệm của các
cơ quan chính quyền cũng như của các tổ chức, cá nhân kinh doanh. Sau đó, sự điều
chỉnh pháp luật BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT tiếp tục được quy định tại các
17
văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật hình sự năm 1999, Luật KDBH năm 2000
(sửa đổi, bổ sung năm 2010), Luật BVQLNTD năm 2010, Bộ luật dân sự năm
2015, Nghị định số 45/2007/NĐ-CP ngày 7/3/2007 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật KDBH; Nghị định số 123/2011/NĐ-CP ngày
28/12/2011 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật KDBH và sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
45/2007/NĐ-CP; Nghị định số 68/2014/NĐ-CP ngày 09/7/2014 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định số 45/2007/NĐ-CP; Thông tư 194/2014/TT-BTC, Nghị
định 73/2016/NĐ-CP, Thông tư 50/2017/TT-BTC, … Những văn bản pháp luật liên
quan đến bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm này đã và đang có tác động
trực tiếp và tích cực đến nền kinh tế xã hội, đến nhận thức của các DNBHNT và bản
thân người tiêu dùng trong giao kết, thực hiện HĐBH nói riêng và trong vấn đề
BVQLNTD nói chung.
BVQLNTD nói chung và quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực BHNT
nói riêng được coi là một trong những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước
ta nhằm thực hiện hóa mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng,
văn minh”. Pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT đã thực sự trở thành một
lĩnh vực pháp luật độc lập, có vị trí đáng kể trong hệ thống pháp luật Việt Nam,
cùng với những cấu trúc pháp luật khác góp phần tạo nên một môi trường kinh
doanh hiện đại, pháp quyền và công bằng.
1.2.4. Cấu trúc nội dung pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
Thứ hai, pháp luật cần điều chỉnh nhóm quan hệ hợp đồng giữa DNBHNT
với người tham gia bảo hiểm.
DNBHNT với tư cách chủ thể kinh doanh sản phẩm BHNT, sẽ tiến hành
“bán” các sản phẩm của mình thông qua một giao dịch hợp đồng. Do sản phẩm
BHNT là dịch vụ, nên khác với sản phẩm hàng hóa, HĐBHNT cần phải mô tả rõ về
nội dung dịch vụ đó với những quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng.
Chính vì vậy, pháp luật điều chỉnh đối với HĐBHNT luôn được coi là một bộ phận
pháp luật quan trọng đối với hoạt động kinh doanh BHNT.
Thứ ba, pháp luật cần điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội là các cơ quan có
thẩm quyền giám sát và giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm khi có khiếu nại, tố
cáo của người tham gia bảo hiểm hoặc DNBHNT nhằm mục đích bảo vệ QLNTD.
DNBHNT với tư cách là một chủ thể kinh doanh phải chịu sự giám sát của
cơ quan quản lý nhà nước và các chủ thể khác có thẩm quyền. Quan hệ pháp luật
phát sinh giữa cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền với DNBHNT chủ yếu là
quan hệ pháp luật hành chính, dựa trên nguyên tắc mệnh lệnh giữa một bên là chủ
thể quản lý và một bên là chủ thể chịu quản lý. Những quy định của bộ phận pháp
luật này xác định những quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước và các chủ thể
khác có thẩm quyền trong hoạt động giám sát, đồng thời cũng xác định những nghĩa
19
vụ mà DNBHNT cần phải tuân thủ và thực hiện để đảm bảo sự minh bạch, công
bằng trên thị trường bảo hiểm tự do cạnh tranh và đảm bảo nguyên tắc bảo vệ người
tham gia bảo hiểm.
1.2.4.1. Quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên
a) Quyền và nghĩa vụ của người tham gia BHNT
Người tiêu dùng có 8 quyền như Bản hướng dẫn của Liên hợp quốc về bảo
vệ người tiêu dùng [49] và được cụ thể trong Điều 8 của Luật bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng, đó là: Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, Quyền được
an toàn, Quyền được thông tin, Quyền được lựa chọn, Quyền được lắng nghe,
- Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm
theo thỏa thuận trong HĐBHNT;
- Áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định của Luật
KDBH và các quy định khác của pháp luật có liên quan;
- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
b) Quyền và nghĩa vụ của DNBHNT
Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền:
- Thu phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong HĐBHNT;
- Yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp đầy đủ trung thực thông tin liên quan
đếnviệc giao kết và thực hiện HĐBHNT;
- Đơn phương đình chỉ thực hiện HĐBH theo quy định tại khoản 2 Điều19,
khoản 2 Điều 20, khoản 2 Điều 35 và khoản 3 Điều 50 của Luật KDBH;
- Từ chối trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc từ chối bồi thường cho
người được bảo hiểm trong trường hợp không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm
hoặc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thỏa thuận trong HĐBHNT;
- Yêu cầu bên mua bảo hiểm áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn
thất theo quy định và các quy định khác của pháp luật có liên quan;
- Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ:
- Giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm;
quyền, nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm;
- Cấp cho bên mua bảo hiểm giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm ngay
sau khi giao kết HĐBHNT;
- Trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người
đượcbảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;
- Giải thích bằng văn bản lý do từ chối trả tiền bảo hiểm hoặc từ chối bồi
thường;
- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Trong các quyền và nghĩa vụ của hai bên giao kết HĐBHNT, vai trò của
minh bạch thông tin là hết sức quan trọng nhằm đảm bảo cho HĐBHNT được thực