LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại KHIÁ CẠNH PHÁP lý TRONG hợp ĐỒNG MUA bán HÀNG hóa QUỐC tế - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN THƯƠNG MẠI

Luận Văn Tốt Nghiệp
Đề Tài:
KHIÁ CẠNH PHÁP LÝ TRONG HỢP ĐỒNG MUA
BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

GVHD: ThS. Diệp Ngọc Dũng
SVTH: Nguyễn Trần Minh Triết
MSSV: 5054979
Lớp

3

: Thương Mại 2K31


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

-------------------------------------------------------------------------------------

4


Lời nói đầu
Bill Gates, trong một lần phỏng vấn các ứng viên thi tuyển vào Microsoft, đã đặt
câu hỏi: “Theo các bạn, đâu là yếu tố duy trì sự ổn định và thành công của các
hoạt động kinh doanh ngày nay?”. Một ứng viên đã trả lời: “Đó là tính chặt chẽ
của hợp đồng”. Nhiều người khi đó đã nghi ngờ sự nghiêm túc trong câu trả lời

Người viết chủ yếu dựa trên một số tài liệu của các học giả , giáo trình của
các trường Đại học , và đề tài nghiên cứu cấp cơ sở của các sinh viên . Trên cơ sở
đó phân tích , thẩm định, đánh giá và nêu ra quan điểm của cá nhân .
Cấu trúc đề tài gồm ba phần :
Chương 1 : khái quát hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế .
Chương 2 : pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc .
Chương 3 : khuyến nghị để hạn chế rủi ro khi giao kết hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế .
Do kiến thức còn hạn chế và dưới góc nhìn còn thiển cận , tài liệu nghiên
cứu còn quá ít nên đề tài còn thiếu sót nhiều xin độc giả thông cảm và góp ý để
đề tài hoàn thiện hơn .

5


MỤC LỤC

Nhận xét ............................................................................................... Trang 2
Lời nói đầu ...................................................................................................... 3
Mục lục ........................................................................................................... 4
Chương 1 : Khái quát hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ............................. 5
1.1 Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là gì ................................... 5
1.2 Cơ sở pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ............... 8
1.3 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế . 13
Chương 2 : Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ....................... 21
2.1 Đàm phán và ký kết hợp đồng mua bán quốc tế ......................... 21
2.2 Nội dung cơ bản của hợp đồng .................................................. 27
2.3 Giải thích hợp đồng ................................................................... 50
2.4 Điều chỉnh nội dung của hợp đồng ............................................ 53
Chương 3 : Khuyến nghị để hạn chế rủi ro khi giao kết hợp đồng mua bán hàng

tập thành bầy đàn , họ đã biết buôn bán . Xem xét về nguồn gốc , có lẽ các chợ đã
được hình thành trên cơ sở đường biên giới giữa các lãnh thổ và các thủ lĩnh cộng
đồng đồng ý đưa ra những bảo đảm an toàn nhất định đối với các thương gia tại
những nơi họp chợ trên . Theo các nhà khảo cổ , mạng lưới thương nghiệp phát triển
đã xuất hiện vào khoảng năm 3500 TCN , tại vùng Mestopotamia cổ đại . Những
tuyến đường mua bán đã mở rộng từ vùng đất Iraq , Iran ngày nay và về phía Tây
đến các nền văn minh Ai Cập , phát triển về phía Đông đến Pakistan ngày nay và về
phía bắc Uzơbekistan ngày nay . Noài ra , các nhà khảo cổ cho rằng ở Trung Quốc
người ta đã sử dụng những tuyến đường mua bán trong khoảng thời gian từ năm
1500 đến 2000 TCN và vài nơi châu Mĩ từ năm 1000 đến 2000TCN .
- Thời trung cổ : theo các ghi chép sử liệu thời trung cổ , hình thức chủ
yếu của mua bán ngoại thương là các thương gia chuẩn bị thuyền đem hàng ra nước
ngoài , trực tiếp tiêu thụ ở thị trường nơi đó . Cũng có một số thương gia tự mình ra
nước ngoài mua hàng hóa , sau đó đem về nước . Lại có người kiêm cả hai , đồng
thời với việc bán ra họ mua những hàng hóa cần thiết . Bất kể phương thức nào , đều
do chủ hàng gánh chịu rủi ro , trách nhiệm và chi phí trong vận chuyển hàng hóa
đường dài , còn về chất lượng hàng thì do đặt thù phương thức này nên chất lượng
hàng hóa được các thương gia xem xét lúc hàng hóa được đưa lên tàu của mình .
Hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế phát triển xung quanh vùng vịnh Pecxich đến
Ấn Độ và Đông Nam Á
Vào cuối thời kì trung cổ , châu Âu đã có một mạng lưới buôn bán rất phát triển
và phức tạp . Dọc theo biển Địa Trung Hải , các thành phố Vơnidơ , Phơloren và
Giênon đã phát triển nhờ hoạt động mua bán trong vùng và mua bán với châu Phi và
(1) GT Luật kinh doanh quốc tế . PGS Nguyễn Đăng Dung, TS Nguyễn Ngọc Đào. NXB
Đồng Nai 2000 . Tr 12,13

7


châu Á . Ở Bắc Âu , vào giữa thế kỉ 14 , 80 thành phố đã tụ họp lại với nhau thành

+ Đối tượng của thương mại như hàng hóa , dịch vụ hoặc các đối tượng khác
ở nước ngoài .
- Trên cơ sở thương mại quốc tế , ta thấy hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế mang đầy đủ các đặc trưng cơ bản của hợp đồng thương mại quốc tế, so với
các hợp đồng thương mại khác nó chỉ khác về mặt khách thể còn về chủ thể và các
đặc điểm khác thì tương đồng với các loại hợp đồng khác . VD: hợp đồng cung ứng
dịch vụ thì khách thể là một công việc nhưng hợp đồng mua bán là việc chuyển giao
quyền sở hữu hàng hóa . Qua đó , hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng
được kí kết :
+ Các bên có quốc tịch khác nhau hoặc có trụ sở thương mại ở các nước
khác nhau .

(2) GT Luật thương mại quốc tế . Trường đại học Luật Hà Nội 2006 .Tr 16

8


+ Sự kiện đàm phán làm phát sinh thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ thương mại xảy
ra ở nước ngoài .
+ Đối tượng của hợp đồng ở nước ngoài .
- Cũng như thuật ngữ thương mại quốc tế pháp luật Việt Nam chưa đưa ra
được định nghĩa hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế . Nếu Luật thương mại 1997
quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài và do đó lấy
quốc tịch của các thương nhân để làm tiêu chí xác định loại hợp đồng này thì Luật
thương mại 2005 đã mở rộng phạm vi loại hợp đồng này hơn khi không dùng khái
niệm hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài mà quy định về mua
bán hàng hóa quốc tế . Quy định này phù hợp hơn với thực tiễn của hoạt động mua
bán hàng hóa quốc tế hiện nay . Luật thương mại 2005 không căn cứ vào quốc tịch
của thương nhân mà căn cứ vào hình thức mua bán hàng hóa để xác định hợp đồng
loại này , theo đó một hợp đồng mua bán hàng hóa dưới hình thức xuất khẩu , nhập

(4) GT Pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại. GS.TS Nguyễn Thị Mơ. NXB Giáo
Dục 2005 .Tr 79
9


Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng có đền bù: bên có nghĩa vụ thì
cũng có quyền lợi và ngược lại. Bên nhập khẩu được hưởng quyền lợi nhận hàng
và đổi lại phải có nghĩa vụ trả tiền cân xứng với giá trị đã được giao. Ngược lại,
Bên xuất khẩu nhận được tiền phải có nghĩa vụ giao hàng.
* Phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế :
Xét về thời gian thực hiện hợp đồng thì có 2 loại : hợp đồng ngắn hạn và hợp
đồng dài hạn .
- Hợp đồng ngắn hạn thường được ký kết trong một thời gian tương đối
ngắn và sau khi hai bên hoàn thành nghĩa vụ của mình thì quan hệ pháp lý giữa
hai bên về hợp đồng cũng kết thúc .
- Hợp đồng dài hạn có thời gian thực hiện lâu dài và trong thời gian đó việc
giao hàng được tiến hành làm nhiều lần .
Xét về mặt nội dung của quan hệ kinh doanh trong hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế thì có những loại sau :
- Hợp đồng xuất khẩu ,
- Hợp đồng nhập khẩu ,
- Hợp đồng tạm nhập tái xuất ,
- Hợp đồng tạm xuất tái nhập ,
- Hợp đồng chuyển khẩu ( xem thêm điều 28, 29, 30 luật thương mại
2005) .
Xét về hình thức của hợp đồng có các loại sau :
- Hình thức văn bản ,
- Hình thức miệng ,
- Hình thức mặc nhiên .
1.2 Cơ sở pháp lý của mua bán hàng hóa quốc tế :

+ Điều ước quốc tế song phương : do hai bên chủ thể trong quan hệ
quốc tế kí kết , với mục đích xác lập mối quan hệ pháp lý giữa hai bên trong hoạt
động thương mại quốc tế .
+ Điều ước đa phương : do ba chủ thể trong quan hệ quốc tế trở lên kí
kết hoặc tham gia .
Căn cứ vào tính chất điều chỉnh :
+ Điều ước qui định những nguyên tắc chung là loại điều ước chỉ đưa ra
những nguyên tắc mà theo đó các bên phải tuân thủ trong quá trình xác lập và thực
hiện các giao dịch thương mại quốc tế . VD : những nguyên tắc đãi ngộ như công
dân , nguyên tắc đối xử tối huệ quốc , nguyên tắc có đi có lại …
+ Điều ước qui định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên là loại điều ước
chứa đưng các qui phạm điều chỉnh một cách rõ ràng cụ thể quyền và nghĩa vụ của
các bên . VD : công ước Viên 1980 …
Khi nói đến điều ước quốc tế , một trong những vấn đề vô cùng quan
trọng là trong trường hợp náo điều ước quốc tế được áp dụng . Theo nguyên tắc
chung điều ước quốc tế được áp dụng trong hai trường hợp sau :
+ Quốc gia của các chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế kí
kết hay tham gia điều ước quốc tế tương ứng .
+ Mặc dù quốc gia của ít nhất một chủ thể trong hợp đồng không tham
gia kí kết hay phê chuẩn điều ước quốc tế nhưng các bên thỏa thuận áp dụng điều
ước quốc tế để điều chỉnh quan hệ của bên theo hợp đồng .
Trong trường hợp có sự qui định khác nhau giữa điều ước quốc tế về
thương mại và luật trong nước của nước là thành viên của điều ước quốc tế đó thì
qui định của điều ước quốc tế được ưu tiên áp dụng .
Những quy phạm pháp luật của điều ước quốc tế là những quy phạm thực
chất hoặc quy phạm xung đột đã được các quốc gia thống nhất . Do vậy , các chủ thể
của hợp đồng mua bán quốc tế dù ở các nước khác nhau sẽ có một sự hiểu thống
nhất trong việc giải quyết nhanh chóng tranh chấp phát sinh , tiết kiệm thời gian .
Hiện nay , Việt Nam chưa kí nhiều điều ước quốc tế về mua bán với các nước (đặc
biệt là các nước phát triển ) nên điều ước quốc tế về thương mại với ý nghĩa là nguồn

Không giống như luật Lục địa , hệ thống luật Anh -Mỹ không hoàn toàn
được soạn thành văn bản . Truyền thống luật bất thành văn đưa ta trở lại thời những
vị vua xa xưa ngồi dưới gốc cây sồi phán quyết từng vụ án một .Để đạt được công
bằng , nhà vua xét xử mỗi vụ án dựa trên các phán quyết của các vụ án tương tự xảy
ra trước đó , cái gọi là “án lệ” .
Ngày nay công luật nói chung được soạn thảo thành luật , trong khi dân luật
phần lớn vẫn còn là luật án lệ . Cần lưu ý rằng , ngày nay luật thương mại Mỹ đã trở
thành luật thành văn , không còn cái thời buổi lộn xộn mà mỗi tiểu ban áp dụng
những tập quán pháp lý khác nhau . Đạo luật thương mại thống nhất (Uniform
Commercial Code – UCC ) được soạn thành luật từ năm 1941 đến 1952 . Bản hiệu
đính 1962 được 49 tiểu bang chấp nhận và thực hiện , đến bản hiệu đính năm 1972
thì toàn quốc đều chấp nhận . Vì Anh và Mỹ luôn chiếm ưu thế trong mậu dịch quốc
tế nên tư tưởng pháp lý Anh - Mỹ phát triển khá toàn vẹn , đặc biệt là luật thương
mại và hợp đồng của các quốc gia trao đổi mậu dịch phát triển rất mạnh mẽ .
Luật Xã Hội Chủ Nghĩa ( Socialist law )
Đặc điểm ý thức hệ chính yếu được đưa vào trong truyền thống pháp lý
XHCN là xây dựng những dạng khối của xã hội Cộng Sản . Hệ thống pháp lý đó
phục vụ cho sự sở hữu nhà nước các phương tiện sản xuất và phân phối , bao gồm
hầu hết các doanh nghiệp . Truyền thống pháp lý XHCN là một trong sự kiểm soát
mạnh mẽ của chính phủ trung ương . Các luật lệ hỗ trợ cho đặc trưng kế hoạch hóa
kinh tế của nhà nước XHCN , cho phép chính phủ trung ương thiết lập các tiêu
chuẩn quốc gia , thống nhất như nhau cho các hoạt đông doanh nghiệp .
Luật Hồi giáo ( Islamic law )
Được áp dụng rất thịnh hành ở các quốc gia Hồi giáo . Ý tưởng về luật pháp
trong các xã hội Hồi giáo là hoàn toàn khác với hầu hết các nền văn hóa phương Tây
. Hầu hết các nước phương Tây nhìn thấy luật pháp như một biểu hiện của ý chí
nhân dân hành động thông qua các cơ chế lập pháp của họ thì luật Hồi giáo cho là sự

12


- Thứ hai , quy phạm tùy nghi : tức là các quy phạm quy định quyền và ngĩa
vụ của các bên trong hợp đồng . Việc áp dụng các quy phạm này xuất phát từ :
+ Sự tự thỏa thuận của các bên . Các bên có thể thỏa thuận mọi điều
khoản liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình bao gồm cả việc tự do thỏa thuận
chọn luật áp dụng . Các bên có thể thỏa thuận chọn luật trong nước của mỗi bên hoặc
có thể chọn luật của một nước thứ ba , với điều kiện chọn pháp luật của nước này
không trái với qui định của nơi kí hợp đồng . (7)
Thông thường , để đạt được một thỏa thuận chung về áp dụng luật của quốc
gia mà một bên chủ thể có quốc tịch là quốc gia đó rất khó . Vì chủ thể có quốc tịch
là quốc gia dược các bên chọn để điều chỉnh hợp đồng sẽ
thuận lợi hơn chủ thể kia , vì họ hiểu rất rõ hệ thống pháp luật trong quốc gia mình .
Họ có thể đặt đối tác vào một thế bất lợi mà pháp luật nước đó thừa nhận . Do đó để
thống nhất áp dụng pháp luật nuớc nào của một trong các bên chủ thể thì hoàn toàn
(6) GT Luật hợp đồng thương mại quốc tế. PGS.TS Nguyễn Văn Luyện, TS Dương Anh
Sơn, TS Dương Thị Bích Thọ . NXB ĐHQG TPHCM 2007 . Tr 21
(7)GT Luật thương mại quốc tế . Trường đại học Luật Hà Nội 2006 .Tr 25

13


phụ thuộc vào sự nhân nhượng và sự thuyết phục của các bên . Đó phụ thuộc vào
nghệ thật đàm phán của các bên .
+ Pháp luật của quốc gia sẽ được áp dụng nếu có quy phạm xung đột dẫn
chiếu đến . Trong trường hợp mặc dù các bên chủ thể không thỏa thuận chọn luật áp
dụng , nhưng trong các nguồn luật liên quan có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến
một hệ thống pháp luật của quốc gia nào đó , thì pháp luật được dẫn chiếu sẽ được
đem áp dụng để điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế .
1.2.3 Tập quán về thương mại :
Tập quán quốc tế về thương mại cũng là nguồn luật của hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế . Tập quán thương mại quốc tế là một thói quen thương mại được hình thành

tr 16 ,17
(9)GT Pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại. GS.TS Nguyễn Thị Mơ. NXB Giáo Dục
2005 .Tr 89,90

14


dụng ở từng nước , từng khu vực từng cảng . VD : ở Hoa Kỳ cũng có điều kiện giao
hàng FOB , nhưng theo điều kiện FOB Hoa Kỳ , nghĩa là nghĩa vụ của người bán sẽ
nặng hơn rất nhiều ( người bán phải thuê tàu hộ người mua ) so với nghĩa vụ của
người bán FOB trong INCOTERMS 2000 .
Tập quán thương mại quốc tế sẽ được áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế trong các trường hợp :
+ Khi chính hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế quy định .
+ Khi các điều ước quốc tế liên quan qui định
+ Khi luật thực chất ( luật quốc gia ) do các bên thỏa thuận lựa chọn không
có hoặc có nhưng không đầy đủ còn khiếm khuyết .
+ Được luật trong nước quy định áp dụng .
+ Cơ quan xét xử cho rằng các bên chủ thể đã mặc nhiên áp dụng tập quán
thương mại quốc tế trong giao dịch của họ .
1.2.4 Án lệ :
Chính sự hạn chế của pháp luật và năng lực của các cơ quan công
quyền khi giải quyết những vấn đề sinh động trong thực tiễn kinh doanh, thương mại
ở các nước phương Tây, đã làm nảy sinh nhu cầu sử dụng một hình thức pháp luật
đặc thù, đó là án lệ. Án lệ là hình thức nhà nước thừa nhận các quyết định của cơ
quan hành chính hoặc cơ quan xét xử cấp trên khi giải quyết vụ việc cụ thể làm cơ sở
để áp dụng các trường hợp tương tự . Ở các nước XHCN cho rằng hình thức này
xuất phát từ hoạt động của cơ quan hành pháp và tư pháp . Vì vậy dễ tạo ra sự tùy
tiện ảnh hưởng đến tính thống nhất của pháp luật , không phù hợp với nguyên tắc
pháp chế XHCN . Cho nên án lệ không thể coi là một hình thức cơ bản của pháp luật

bán hàng hóa quốc tế các bên có quyền thỏa thuận hoặc lựa chọn luật áp dụng , tuy
nhiên điều kiện có hiệu lực của chúng được xác định trên cơ sở qui định của pháp
luật của mỗi quốc gia mà không phụ thuộc vào luật áp dụng . Theo quy định của
pháp luật Việt Nam , hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được coi là có hiệu lực khi
tuân thủ các điều kiện sau đây :
1.3.1Chủ thể của hợp đồng phải có năng lực pháp luật và được phép kí
kết hợp đồng thương mại quốc tế :
Luật Pháp gọi đây là : năng lực pháp lý giữa các bên kí kết ( la capacité légale )
Pháp luật Việt Nam hiện hành đã có những sửa đổi khá cơ bản về quyền kinh doanh
xuất nhập khẩu của thương nhân:
- Theo Nghị định số 33/CP của Chính Phủ ngày 19/4/1994 về quản lý nhà
nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu, muốn được kinh doanh xuất nhập khẩu
các thể nhân hoặc pháp nhân phải có Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu do
Bộ thương mại cấp.
Đối với doanh nghiệp chuyên kinh doanh xuất nhập khẩu, để được cấp
Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu doanh nghiệp phải đáp ứng đủ 4 điều kiện:
+ Là doanh nghiệp được thành lập theo đúng luật pháp và cam kết tuân
thủ các quy định của luật pháp hiện hành;
+ Hoạt động theo đúng ngành hàng đã đăng ký khi thành lập doanh
nghiệp;
+ Doanh nghiệp phải có mức vốn lưu động tối thiểu tính bằng tiền Việt
Nam
tương đương 200 000 USD tại thời điểm đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu.
Riêng đối với các doanh nghiệp thuộc các tỉnh miền núi và các tỉnh có khó khăn
về kinh tế, các doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng cần khuyến khích xuất
khẩu mà không đòi hỏi nhiều vốn, mức vốn lưu động nêu trên được quy định
tương đương 100 000 USD;
+ Có đội ngũ cán bộ đủ trình độ kinh doanh, ký kết và thực hiện hợp đồng
mua bán ngoại thương.
Đối với doanh nghiệp sản xuất, muốn được cấp Giấy phép kinh doanh xuất nhập

nhập khẩu do Bộ thương mại đã cấp hết hiệu lực thi hành. Như vậy, theo Nghị
định 57, quyền kinh doanh xuất nhập khẩu đối với thương nhân đã được mở rộng
cho tất cả các doanh các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp chỉ cần đăng ký mã số
doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh, thành phố là được kinh
doanh xuất nhập khẩu, không còn phải xin phép Bộ thương mại. Và cũng không
còn sự phân biệt giữa doanh nghiệp được quyền và doanh nghiệp không được
quyền kinh doanh xuất nhập khẩu nữa.
- Nghị định 44/2001/NĐ-CP đã tiếp tục mở rộng quyền kinh doanh xuất
khẩu cho doanh nghiệp khi quy định thương nhân có thể xuất khẩu tất cả các loại
hàng hoá không phụ thuộc vào ngành nghề được ghi trong Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh, trừ những hàng hoá thuộc danh mục cấm xuất khẩu. Tuy nhiên,
quyền kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp vẫn còn bị hạn chế. Cụ thể,
thương nhân chỉ được nhập khẩu những hàng hoá theo ngành nghề, ngành hàng
ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Đối với những hàng hoá thuộc
Danh mục hàng hoá xuất nhập khẩu có điều kiện (hàng xuất khẩu, nhập khẩu có
hạn ngạch, có giấy phép của Bộ thương mại hoặc Bộ quản lý chuyên ngành) thì
thương nhân phải được cơ quan có thẩm quyền phân bổ hạn ngạch hoặc cấp giấy
phép thì mới được tiến hành kinh doanh xuất nhập khẩu.
- Quyền kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp được mở rộng hơn
nữa cùng với sự ra đời của Nghị định 12/2006/NĐ-CP. Nghị định 12/2006/NĐCP có hiệu lực từ ngày 1/5/2006 và thay thế cho Nghị định 57/1998/NĐ-CP và
Nghị định 44/2001/NĐ-CP. Theo Nghị định 12, thương nhân được xuất khẩu
nhập khẩu hàng hóa không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh trừ
hàng hóa thuộc Danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc
Danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu.
Nghĩa vụ của hai bên có giá trị , khi người kí hợp đồng có đầy đủ năng lực
pháp lý cần thiết để thành lập hợp đồng . Ngoài ra , người đứng ra kí hợp đồng nhiều
lúc không phải cam kết cho chính mình mà chỉ đại diện cho một cá nhân hay một tổ
chức do sự uỷ quyền (đại diện ủy quyền ) .

17

dứt quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết. ý chí giao kết hợp đồng của các bên giữ
vị trí vô cùng quan trọng trong việc xác định sự tồn tại hay không của hợp đồng. Các
biểu hiện của sự không thống nhất ý chí (sự thể hiện ý chí khác nhau) hoặc sự trái
ngược giữa biểu hiện với ý chí đích thực của các bên giao kết sẽ không hình thành
nên một hợp đồng có hiệu lực. Nói cách khác một hợp đồng được giao kết dưới tác
động của sự lừa dối, nhầm lẫn hay đe dọa có thể không có giá trị vì trong các hoàn
cảnh như vậy, các cam kết được đưa ra không xuất phát từ ý chí đích thực của người
giao kết .
- Nhầm lẫn : Trong một số tình huống, một bên có thể được giải phóng
khỏi các trách nhiệm của hợp đồng nếu có bằng chứng về sự nhầm lẫn. Khái
niệm nhầm lẫn trong hoàn cảnh này không phải là sự thiếu hiểu biết, thiếu năng
lực hay đánh giá sai lầm; cũng không phải được sử dụng để một bên có quyền rút
khỏi hợp đồng nếu thấy mình bị “hớ”. Nhầm lẫn để có thể dẫn đến việc rút khỏi

(11)Luật và các tổ chức thương mại quốc tế diễn giải. Dương Hữu Hạnh . NXB Thống
Kê 2001. Tr 81

18


hợp đồng phải là kết quả của một sự mập mờ trong đàm phán về hợp đồng đó
hoặc phải là sự nhầm lẫn về một sự việc quan trọng mà nó đã dẫn tới việc ký kết
hợp đồng .
Nếu trong quá trình đàm phán hợp đồng, các bên đã sử dụng ngôn ngữ
dẫn tới có nhiều cách hiểu khác nhau, và một bên đã thành thật đưa ra một cách
hiểu trong khi một bên khác lại đưa ra một cách hiểu khác, thì khi đó toà án
thường sẽ quyết định rằng sẽ không có hợp đồng nào được ký kết do bởi đã
không có sự đồng thuận
Khi có sự nhầm lẫn về việc có hay không có một sự việc trọng đại trong
hiện tại hay trong quá khứ, thì tuỳ vào những sự việc của hoàn cảnh cụ thể đó mà

điều kiện để xác định khi nào thì lừa dối tồn tại. Phần lớn pháp luật các nước đều
coi những lừa dối có tính chất quyết định đến sự giao kết hợp đồng là yếu tố vô
hiệu hợp đồng. Tính chất quyết định thể hiện ở chỗ nếu không dùng các mánh
khóe như vậy thì sẽ không có giao kết hợp đồng. “Sự lừa dối là căn cứ làm cho
hợp đồng vô hiệu khi các thủ đoạn do một bên đã thực hiện mà nếu không có các
thủ đoạn đó thì bên kia đã không kí kết hợp đồng”(12). Lừa dối chỉ được coi là yếu

19


tố dẫn đến vô hiệu hợp đồng khi một bên cố ý làm cho bên kia phải giao kết hợp
đồng không theo ý muốn thực. Lừa dối và nhầm lẫn đều là những khiếm khuyết
của sự thể hiện ý chí của các bên trong giao kết hợp đồng và đều giống nhau ở
chỗ cả hai đều liên quan đến việc trình bày một cách trực tiếp hay gián tiếp về
những sự việc không đúng sự thật hay không tiết lộ một sự thật. Song sự lừa dối
khác với nhầm lẫn ở chỗ: Sự nhầm lẫn vốn do người kí kết hợp đồng tự mình
hiểu sai còn sự lừa dối là sự hiểu sai do đối phương gây ra. Sự phân biệt giữa lừa
dối và nhầm lẫn được xác định bởi tính chất và mục đích của việc trình bày gian
lận của một bên. Nhầm lẫn hay lừa dối đều đưa đến hệ quả là hợp đồng có thể bị
vô hiệu do thỏa thuận không thể hiện đúng ý chí thật của các bên.
. Theo nguyên tắc , hành vi lừa dối phải do một bên kí kết thực hiện . Tuy nhiên dù
một người kí kết không trực tiếp thi hành hành vi lừa dối , nhưng đã tham gia vào
hoặc đồng lõa có lợi có hành vi lừa dối đó cũng được xem là do chính người kí hợp
đồng thực hiện(13)
. - Đe dọa : là hành vi khiến người khác khiếp sợ , phải ưng thuận kí hợp đồng
ngoài ý muốn của họ . Đe dọa gồm hai loại : đe dọa thể chất và đe dọa tinh thần .
Một bên được phép vô hiệu hợp đồng trong trường hợp này nếu:
Sự đe dọa phải có tính tức thời và nghiêm trọng dẫn đến họ không còn cách nào
khác là phải giao kết hợp đồng .
Sự đe dọa không có lý do chính đáng , cụ thể một bên đã hành động hoặc không

không có hiệu lực pháp lý, toà án đã bảo vệ nhằm chống lại những hợp đồng
không chính đáng, là những hợp đồng đi ngược lại với lương tâm con người và là
những hợp đồng đạt được thông qua sự lợi dụng một vị thế tin cẩn
1.3.4 Hình thức của hợp đồng phải hợp pháp :
Tự do thoả thuận là một trong những nguyên tắc quan trọng trong giao
kết hợp đồng kinh doanh. Điều này có nghĩa là các bên được phép lựa chọn hình
thức thích hợp khi ký kết hợp đồng. Tuy nhiên, để bảo đảm an toàn pháp luật
trong các giao dịch hợp đồng giữa các bên, cũng như để bảo vệ trật tự pháp luật
và lợi ích kinh doanh đối với một số loại hợp đồng pháp luật đòi hỏi người chịu
trách nhiệm ở công ty giao kết hợp đồng phải tuân theo những hình thức nhất
định, ngược lại, hợp đồng đó sẽ không có hiệu lực. Vì thế, yếu tố hình thức hợp
đồng kinh doanh và ảnh hưởng của nó đến hiệu lực của hợp đồng sẽ rất quan
trọng trong các hoạt động kinh doanh.
Hình thức của hợp đồng là cách thức thể hiện ý chí ra bên ngoài dưới hình thức
nhất định của các chủ thể hợp đồng. Thông qua cách thức biểu hiện này, người ta có
thể biết được nội dung của giao dịch kinh doanh đã xác lập. Hình thức của hợp đồng
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tố tụng, bởi đó là chứng cứ xác nhận các quan
hệ kinh doanh đã và đang tồn tại giữa các bên, từ đó xác định trách nhiệm khi có vi
phạm xảy ra. Hình thức của hợp đồng có thể là lời nói, văn bản hoặc các hành vi cụ
thể.
Khi nói đến hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường có hai quan điểm
:
+ Hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể được kí bằng
miệng , bằng văn bản hay bất cứ hình thức nào khác tùy các bên tự do thỏa thuận
. Đó là nguyên tắc tự do kí kết hợp đồng . Theo nguyên tắc này sự thỏa hiệp ý chí
của các bên đủ tạo lập hợp đồng , hình thức văn bản không phải là một điều kiện
tất yếu cho việc tạo lập hợp đồng . Một số nước theo hệ thống luật lục địa
(continental law) như Pháp, Thụy Sỹ... thì coi tự do ký kết hợp đồng là nguyên
tắc cơ bản. Ở các nước này, sự thoả thuận thể hiện ý chí chung của các bên đã là
điều kiện đủ để hình thành nên hợp đồng, cho dù chúng được thể hiện dưới bất

Cũng cần nói thêm , văn bản là những dạng vật chất chứa đựng những thông tin , có
khả năng sao chép dưới dạng hữu hình . Để hợp đồng có hiệu lực trên lãnh thổ Việt
Nam thì hình thức của hợp đồng phải được kí kết bằng văn bản . Văn bản theo luật
Việt Nam được mở rộng bao gồm cả : fax , telex , điện tín …
1.3.5 Đối tượng phải hợp pháp :
Khi kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế , các bên phải lưu ý
rằng đối tượng phải hợp pháp . Theo qui định của pháp luật Việt Nam, thương
nhân được xuất khẩu nhập khẩu hàng hóa không phụ thuộc vào ngành nghề đăng
ký kinh doanh trừ hàng hóa thuộc Danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất
khẩu, hàng hóa thuộc Danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu. Đối với
hàng hóa xuất nhập khẩu theo giấy phép, thương nhân muốn xuất nhập khẩu phải
có giấy phép của Bộ thương mại hoặc các Bộ quản lý chuyên ngành. (Điều 3,4
Nghị Định 12/2006/NĐ-CP). Danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập
khẩu; Danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép của Bộ thương
mại; Danh mục hàng hoá thuộc diện quản lý chuyên ngành theo quy định của
Việt Nam được quy định trong phụ lục số 01, 02 và 03 ban hành kèm theo Nghị
định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006.
. Những mặt hàng bị cấm xuất khẩu là
- Vũ khí , đạn dược , thiết bị quân sự
- Đồ cổ
- Ma túy
- Hóa chất độc
- Các loại động vật hoang dã và động thực vật quý hiếm .
- Gỗ tròn , gỗ xẽ từ rừng tự nhiên trong nước hoặc củi có nguồn gốc từ
gỗ tự nhiên trong nước
- Các loại máy mã chuyên dụng và chương trình phần mềm mật mã sử
dụng trong phạm vi bảo vệ bí mật nhà nước .
Ngoài ra , khi qui định về điều khoản đối tượng của hợp đồng mua bán
quốc tế các doanh nghiệp Việt Nam phải lưu ý tới những hàng hóa thuộc danh mục
cấm nhập khẩu , hàng hóa quản lý bằng hạng ngạch ( như gạo , dệt may xuất khẩu

lượng … thì trong kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nguyên tắc tự do ý
chí của các bên không chỉ được thể hiện trong việc xác định nội dung của hợp
đồng mà còn thể hiện ở hai vấn đề cơ bản sau :
Thứ nhất , các bên hoàn tòan tự do trong việc xác định luật áp dụng để điều
chỉnh quan hệ phát sinh từ hợp đồng .
Thứ hai , các bên hoàn toàn tự do trong việc thỏa thuận hình thức giải quyết
tranh chấp có thể phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng cũng như pháp luật
áp dụng cho thủ tục giải quyết tranh chấp .
Thực tiễn hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế cho thấy rằng hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế có thể được kí kết bằng hai phương thức sau :
+ Đàm phán trực tiếp giữa các bên
+ Đàm phán gián tiếp : chào hàng (đề nghị giao kết hợp đồng) và chấp nhận
chào hàng ( chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng ) .
2.1.1 Đàm phán trực tiếp giữa các bên :
Cũng như trong mọi hợp đồng nói chung , hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế có thể được kí kết thông qua đàm phán trực tiếp giữa các bên . Trong nhiều
trường hợp các bên gặp nhau trực tiếp để tiến hành đàm phán , sự đàm phán được
khởi xướng bằng việc mời chào hàng của một trong các bên . Trong quá trình đàm
phán các bên thỏa thuận thống nhất từng điều khoản , khi điều khoản cuối cùng
được thống nhất các bên có thể kí kết vào hợp đồng . Trong trường hợp này các
bên không thể xác định cái gì là chào hàng , cái gì là chấp nhhận chào hàng .
Phương thức kí kết này có những ưu điểm là các bên tham gia kí kết có điều
kiện bàn bạc , thống nhất kĩ lưỡng từng điều khỏan từng nội dung của hợp đồng .
Các bên có thể tránh được những sai sót đặc biệt là tránh được sự hiểu lầm ý của
nhau vì khi đàm phán trực tiếp được tiến hành dựa trên cơ sở các bên đưa ra
những lời đề nghị cho nhau . Mỗi bên đưa ra những yêu cầu nhất định , đồng thời

24



đàm phán . Bên nào có sự quan tâm đặc biệt đến việc thỏa thuận về các điều
khoản của hợp đồng , trước hết cần phải nói cho bên kia biết hợp đồng chỉ được kí
kết khi tất cả các điều khoản của nó được thống nhất . Thực tiễn đã chứng minh
hợp đồng kí kết trực tiếp chỉ có hiệu lực khi bên cuối cùng kí vào văn bản hợp
đồng .
Thẩm quyền kí kết hợp đồng nua bán hàng hóa quốc tế :
Nếu hợp đồng được kí kết giữa các cá nhân , các thương nhân cá thể hay
các doanh nghiệp tư nhân với nhau thì người có thẩm quyền kí kết hợp đồng mua
bán hàng hoá quốc tế là người chủ các doanh nghiệp đó .
Nếu hợp đồng được kí kết giữa các doanh nghiệp dưới dạng công ty , hãng
, hiệp hội , tập đoàn …luật pháp sẽ quy định rõ ai sẽ là người kí kết hợp đồng đó .
Thông thường những người đại diện theo pháp luật cho các công ty , pháp nhân .
Vd : tổng giám đốc hoặc giám đốc công ty , chủ tịch các hang các tập đoàn …
những người này là người đại diện theo pháp luật cho công ty trong giao dịch đối
nội cũng như đối ngoại . Song trong thực tế , không phải lúc nào người này cũng
tự đàm phán và kí kết mọi hợp đồng , do đó họ lại uỷ quyền cho người khác . Việc

25


ủy quyền như vậy rất phổ biến xảy ra đặc biệt trong hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế .
Những người được uỷ quyền kí kết hợp đồng mua bán quốc tế , dù trên cơ sở
giấy uỷ nhiệm hay trên cơ sở hợp đồng uỷ thác , cũng có thể kí hợp đồng vượt
ngoài phạm vi được uỷ quyền . Những trường hợp này về mặt pháp lý không có
giá trị . Do đó khi kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cần phải kiểm tra
xem đối tác kí kết hợp đồng với mình là người thế nào đặc biệt là giấy uỷ quyền .
2.1.2 Kí kết một cách gián tiếp :
Sự phát triển của công nghệ truyền thông tác động mạnh mẽ đến hoạt động
thương mại quốc tế nói chung và hoạt đông mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng

về việc kí hợp đồng của một người gửi cho một người xác định . Trong đó người
đề nghị bày tỏ ý chí sẽ bị ràng buộc bởi lời đề nghị của mình nếu có sự chấp nhận
đề nghị đó .
Từ hai khái nịêm trên ta có thể kết luận nếu lời đề nghị đựoc gửi cho một
hay nhiều người không xác định sẽ không được coi là chào hàng mà chỉ được coi

26


là mời chào hàng . Đặc điểm này cũng cho phép phân biệt chào hàng với quảng
cáo .
Theo đề nghị giao kết hợp đồng của bộ luật dân sự Việt Nam ta thấy xuất
hiện một rắc rối mang tính pháp lý cũng như thực tiễn có thể đặt ra là dựa trên tiêu
chí hay cơ sở nào để có thể xác định ý định giao kết hợp đồng và chụi sự ràng
buộc về đề nghị giao kết của bên đề nghị. Vì sự cần thiết để bảo vệ tính xác thực
của giao dịch, chủ ý này của người đề nghị phải được đánh giá theo những tiêu chí
khách quan.(14) Có thể hiểu ngầm rằng, ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng
buộc về đề nghị giao kết hợp đồng của bên đề nghị được thể hiện ở chỗ, trong lời
đề nghị giao kết hợp đồng bên đề nghị có qui định những điều khoản có thể gọi là
cơ bản, trên cơ sở này có thể xác định được quyền và nghĩa vụ của các bên trong
hợp đồng tương lai trong trường hợp bên được đề nghị chấp nhận .
Theo pháp luật của một số nước và công ước Viên 1980 không những qui định
đề nghị giao kết hợp đồng phải thể hiện rõ ý định giao kết và chịu sự ràng buộc về
đề nghị đó mà còn yêu cầu đề nghị giao kết phải được xác định. Sự xác định của
đề nghị giao kết hợp đồng, được thể hiện ở chỗ trong đề nghi giao kết hợp đồng
bên đề nghị phải qui định những điều khoản của hợp đồng tương lai : hàng hóa ,
số lượng, giá cả .
Trong đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời nếu bên đề
nghị giao kết hợp đồng lại giao kết với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được
đề nghị trả lời thì phải bồi thường cho bên được đề nghị mà không được giao kết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status