Một số vấn đề pháp lý về quyền của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại
ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NIÊN KHÓA 2009 – 2013
Đề tài:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CỦA
CÁC BÊN TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
TS. Cao Nhất Linh
Bộ môn Luật KD –TM
Lê Xuân Cường
Mssv: 5095407
Lớp: LK0964A2
Cần Thơ, 11/2012
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 1
SVTH: Lê Xuân Cường
TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI…………………………………. .................................... 24
2.1. Quyền của các bên trong giai đoạn chuẩn bị giải quyết tranh chấp ..................... 24
2.1.1. Quyền của các bên trong hình thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng và
hòa giải …………………………………………………………………………….24
2.1.1.1. Quyền thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng thương lượng và hòa giải .. 24
2.1.1.2. Quyền yêu cầu trung gian hòa giải của các bên tranh chấp thương mại ... 26
2.1.2. Quyền của các bên trong hình thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
thương mại
. ……………………………………………………………………28
2.1.2.1 Quyền của các bên khi khởi kiện và khởi kiện lại trong tranh chấp
thương mại ................................................................................................................... 28
2.1.2.2. Quyền nhận đơn kiện và gửi bản tự bảo vệ của bị đơn ................................ 30
2.1.2.3. Quyền thỏa thuận thời điểm bắt đầu tố tụng, chọn địa điểm, Trọng tài
viên giải quyết tranh chấp giữa các bên ..................................................................... 31
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 2
SVTH: Lê Xuân Cường
Một số vấn đề pháp lý về quyền của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại
2.1.3. Quyền của các bên trong hình thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án
…34
2.1.3.1 Quyền khởi kiện tại Tòa án của nguyên đơn ................................................. 34
2.1.3.2. Quyền yêu cầu phản tố của bị đơn................................................................. 37
2.2. Quyền của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp thƣơng mại ................ 38
2.3.2. Quyền của các bên tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại
…52
2.3.2.1. Quyền yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài ............................................... 52
2.3.2.2. Quyền yêu cầu hủy quyết định và phán quyết trọng tài của các bên tranh
chấp thương mại .......................................................................................................... 53
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 3
SVTH: Lê Xuân Cường
Một số vấn đề pháp lý về quyền của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại
2.3.3. Quyền của các bên trong việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án
55
2.3.3.1. Quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm của các
bên tranh chấp thương mại ......................................................................................... 55
2.3.3.2. Quyền yêu cầu đề nghị giám đốc thẩm và tái thẩm của các đương sự
trong tranh chấp thương mại ...................................................................................... 57
2.3.3.3. Quyền yêu cầu thi hành án dân sự của các bên tranh chấp thương mại
tại Tòa án...................................................................................................................... 59
Chƣơng 3. MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ HƢỚNG HOÀN THIỆN VỀ QUYỀN ĐỊNH
ĐOẠT CỦA CÁC BÊN TRONG CÁC HÌNH THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƢƠNG MẠI ..................................................................................................................... 61
3.1. Hạn chế về quyền của các bên trong các hình thức giải quyết tranh chấp
thƣơng mại ....................................................................................................................... 61
1. Lý do chọn đề tài
Các hoạt động kinh tế luôn có vị trí vai trò đặc biệt quan trọng, nó quyết định sự tồn
tại cũng như phát triển của xã hội. Để thực hiện chức năng kinh tế, ngày nay Nhà nước
nào cũng ban hành hệ thống các qui phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ kinh tế.
Trong hoạt động kinh doanh thường khó tránh khỏi các tranh chấp do nhiều nguyên
nhân khác nhau, do vậy, giải quyết các tranh chấp kinh tế cũng là yêu cầu tất yếu. Để bảo
vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, đảm bảo các quan hệ kinh doanh được ổn
định, lành mạnh và phát triển, Nhà nước thông qua các cơ quan chức năng hoặc các tổ
chức được pháp luật thừa nhận để giải quyết tranh chấp. Theo quy định của pháp luật
hiện nay, có bốn phương thức để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh
doanh - thương mại như: thương lượng, hòa giải, Trọng tài, Tòa án. Mỗi phương thức
giải quyết tranh chấp sẽ có những ưu, nhược điểm riêng của nó.
Thương lượng và hòa giải mang tính thỏa thuận và quyền tự quyết của các bên rất
cao. Các bên không bắt buộc phải tuân theo một hình thức luật định nào cả. Thể hiện sự
thuận tiện, linh hoạt nên rất được các doanh nghiệp lựa chọn khi có xảy ra tranh chấp.
Nhưng bên cạnh đó nó cũng tồn tại nhưng nhược điểm là tính thi hành kết quả thương
lượng và hòa giải là rất thấp chỉ dựa vào sự tự nguyện của các bên mà thôi.
Trọng tài thương mại đang là phương thức giải quyết tranh chấp mà các nhà kinh
doanh trên thế giới ưu tiên lựa chọn khi giải quyết các tranh chấp phát sinh. Nếu so sánh
với phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án, thì các bên có thể tiết kiệm được thời
gian và rút ngắn được các trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp và uy tín của các bên trên
thương trường cũng ít bị ảnh hưởng hơn so với Tòa án. Trong khi đó, ở Việt Nam thì
phương thức này vẫn chưa được các bên lựa chọn khi có tranh chấp phát sinh. Khi có
tranh chấp phát sinh thì các bên vẫn có xu hướng kiện nhau ra tòa để giải quyết.
Tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua cơ quan tài phán Nhà nước,
nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra các phán quyết buộc bên có nghĩa vụ phải thi
hành. Với hình thức này, Nhà nước đã đứng ra để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
bên bị xâm phạm. Bên cạnh đó, Tòa án cũng thể hiện những hạn chế như tốn kém về thời
gian và tiền bạc, thủ tục tại Tòa án thiếu linh hoạt do được pháp luật quy định từ trước,
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để tìm hiểu sâu hơn về nội dung của đề tài, tháo gở những vướng mắc cần thiết
trong hệ thống pháp luật nước ta, người viết dùng phương pháp phân tích, so sánh kết
hợp với đối chiếu. Bên cạnh đó, thì người viết còn dùng phương pháp của các ngành
khoa học khác như: Phân tích luật viết, liệt kê, bình luận và tổng hợp, siêu tầm các tài
liệu có liên quan. Nhằm chuyển tải hết những nội dung cơ bản của đề tài, tuy chỉ là một
khía cạnh của vấn đề nhưng những phương pháp này sẽ hữu ích trong việc tìm ra những
điểm cần khắc phục cũng như những vấn đề cơ bản nhất của đề tài.
5. Kết cấu của đề tài
Kết cấu của đề tài gồm những phần chính sau đây: Lời nói đầu, nội dung, kết luận.
Riêng phần nội dung gồm có ba chương:
Chƣơng 1. Khái quát chung về tranh chấp thƣơng mại và chủ thể của tranh chấp
thƣơng mại
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 6
SVTH: Lê Xuân Cường
Một số vấn đề pháp lý về quyền của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại
Chương này gồm những nội dung chính như: Đưa ra các khái niệm về tranh chấp
thương mại, chủ thể của tranh chấp thương mại và các phương thức giải quyết tranh chấp
thương mại.
Chƣơng 2. Quy định của pháp luật về quyền của các bên trong các hình thức giải
quyết tranh chấp thƣơng mại
Chương này đi sâu nghiên cứu về quyền của các bên trong quá trình giải quyết tranh
chấp thương mại thông qua quy định của pháp luật như: Quyền của các bên trong giai
tế. Theo hiểu biết chung, giải quyết tranh chấp trong kinh doanh chính là sự lựa chọn các
hình thức, biện pháp thích hợp để giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng, xung đột lợi ích
giữa các bên, tạo lập lại sự cân bằng về mặt lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được.
1.1.1 . Khái niệm về tranh chấp thƣơng mại
Trong đời sống kinh tế có lẽ ai cũng biết hoặc đã từng nghe nói về tranh chấp
thương mại, mà trước đây gọi là tranh chấp kinh tế. Hiểu theo nghĩa thông thường, tranh
chấp là sự bất đồng, mâu thuẫn về vấn đề gì đó, còn “thương mại”, khi hỏi về hoạt động
bao gồm những hoạt động nào, thì không ít người phải suy nghĩ, trong hệ thống pháp luật
Việt Nam cũng đã từng tồn tại những khái niệm khác nhau về hoạt động thương mại.
Theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 16/3/1994 và Nghị định
116/CP ngày 05/9/1994 thì các tranh chấp kinh tế bao gồm: “Tranh chấp về hợp đồng
kinh tế; Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên
công ty liên quan đến việc thành lập hoạt động, giải thể công ty; Các tranh chấp liên
quan đến lĩnh vực mua bán cổ phiếu, trái phiếu”.1
Trong Luật thương mại ngày 10/5/1997, khái niệm này còn hạn hẹp hơn, tranh chấp
thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
hợp đồng trong hoạt động thương mại.2
Còn Pháp lệnh Trọng tài thương mại ngày 25/02/2003 không trực tiếp đưa ra định
nghĩa về tranh chấp thương mại mà là sự liệt kê các hoạt động thương mại: “Hoạt động
1
2
. Điều 1, Nghị định 116/CP/05/09/1994 của Chính Phủ (đã hết hiệu lực pháp luật).
. Điều 239, Luật thương mại 1997, (đã hết hiệu lực pháp luật).
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 8
SVTH: Lê Xuân Cường
gửi; thuê, cho thuê,thuê mua; xây dựng; tư vấn, kỹ thuật; vận chuyển hàng hóa, hành
khách bằng đường hàng không, đường biển; Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có
giá khác; đầu tư, tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác. Tranh chấp về
quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và điều có
mục đích lợi nhuận. Tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty, giữa các thành viên
công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất,
chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty. Các tranh chấp khác về kinh doanh,
3
. Khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, (đã hết hiệu lực và được thay thế bởi Luật Trọng tài
thượng mại năm 2010.)
4
. Khoản 1 Điều 3, Luật thương mại 2005.
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 9
SVTH: Lê Xuân Cường
Một số vấn đề pháp lý về quyền của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại
thương mại mà pháp luật có quy định”.5 Như vậy, trong Bộ luật tố tụng dân sự 2004, quy
định các tranh chấp về hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng
ký kinh doanh, nhưng trên thực tế có nhiều trường hợp tổ chức hoạt động kinh doanh
trước khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. 6 Trong trường hợp này vẫn
thuộc loại tranh chấp kinh doanh thương mại và thuộc thẩm quyền của tòa kinh tế.
Luật Trọng tài thương mại 2010 đưa ra những quy định rộng hơn về thẩm quyền
giải quyết tranh chấp của Trọng tài so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003.
. Điều 2, Luật Trọng tài thương mại năm 2010.
8
. TS. Đỗ Văn Đại – TS. Trần Hoàng Hải, Pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại, Nxb Chính trị quốc gia,
2011, Trang 43.
6
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 10
SVTH: Lê Xuân Cường
Một số vấn đề pháp lý về quyền của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại
tham gia giao dịch không nhất thiết phải là “hoạt động thương mại” cũng có thể yêu cầu
trọng tài giải quyết. Các tranh chấp khác có thể là tranh chấp hàng hải, tranh chấp chứng
khoán, tranh chấp về đầu tư…Vì vậy, với việc quy định theo khoản 3 Điều 2 Luật trọng
tài thương mại chỉ ghi nhận những gì có thể xảy ra trong thực tế không làm ảnh hưởng
đến thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài.
Nhìn chung, mặc dù có sự biểu đạt khác nhau về từ ngữ nhưng hệ thống pháp luật
Việt Nam gần đây quy định tương đối giống nhau về tranh chấp thương mại. Từ những
khái niệm được liệt kê ở trên, ta có thể định nghĩa một cách khái quát nhất: Tranh chấp
thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng, xung đột về quyền và nghĩa vụ giữa các bên
chủ thể trong một quan hệ pháp luật đã phát sinh.
1.1.2. Điều kiện để một tranh chấp là tranh chấp thƣơng mại
Từ những khái niệm đã nêu ở trên chúng ta có thể thấy rằng, một tranh chấp thương
mại phải hội tụ đủ các yếu tố sau:
Thứ nhất, tranh chấp thương mại trước hết là những mâu thuẫn hay bất đồng về
quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ pháp luật thương mại cụ thể. Nguyên
lời đó cũng có thể là tranh chấp thương mại nếu chủ thể không vì mục đích sinh lời yêu
cầu giải quyết bằng con đường tranh chấp thương mại.
Ví dụ, như tranh chấp phát sinh giữa hai công ty A và công ty B về hợp đồng gia
công một lô hàng mà công ty A nhận gia công cho công ty B nhưng đến thời hạn giao
hàng như thỏa thuận thì công ty A vẫn chưa có hàng để giao cho công ty B thì lúc này
vấn đề tất yếu sẽ phát sinh tranh chấp giữa hai công ty vì lý do chậm giao hàng của công
ty A có thể gây thiệt hại cho công ty B và công ty A trong trường hợp này vì đã vi phạm
hợp đồng với công ty B. Tranh chấp này thỏa mãn điều kiện là tranh chấp thương mại vì
cả hai bên tranh chấp đều là thương nhân (công ty A và công ty B), tranh chấp này phát
sinh từ việc gia công hàng hóa và cả hai công ty A và B đều tham gia quan hệ hợp đồng
với mục đích lợi nhuận. Nên đây là một trong những điều kiện để nhận biết chúng là
tranh chấp thương mại.
1.1.3. Nguyên nhân làm phát sinh tranh chấp thƣơng mại
Tranh chấp thương mại có thể xuất phát với nhiều lý do khác nhau. Có thể do bất
khả kháng, do lỗi không chủ định của một bên hoặc có thể do chủ định của một bên hoặc
nhiều bên vì những mục đích khác nhau. Nhưng trên thực tế của pháp luật điều chỉnh dựa
trên hai nguyên nhân chính đó là nguyên nhân do lỗi khách quan và nguyên nhân do lỗi
chủ quan.
Nguyên nhân do lỗi khách quan là nguyên nhân phát sinh từ thực tế của các giao
dịch thương mại mà các bên không thể biết trước được hoặc biết nhưng cho rằng nó
không quan trọng và có thể khắc phục được, cũng có thể những trở ngại đó nằm ngoài
phạm vi xử lý của các bên; cũng có thể hành vi vi phạm của bên này là hoàn toàn do lỗi
của bên kia, hay là do quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các
bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng. Chính vì vậy, đối với nguyên
nhân khách quan này nếu bên có lỗi chứng minh được mình đã thực hiện các biện pháp
khắc phục hoặc gặp các sự kiện bất khả kháng thì có thể được miễn trách nhiệm. Ví dụ,
như trong hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng giữa công ty A với công ty B và có điều
khoản quy định trong hợp đồng là công ty B sẽ nhận hàng tại cơ sở sản xuất của công ty
A vào ngày 10/10/2010. Nhưng tối ngày 09/10/2010 thì kho của công ty A bị cháy và
nhân.
1.2.1. Chủ thể là thƣơng nhân
1.2.1.1 Khái niệm thương nhân
Qua tìm hiểu chúng ta điều thấy rằng ở một góc độ nào đó pháp luật thương mại là
luật riêng của thương nhân. Như vậy, việc xác định chủ thể nào là thương nhân là một nội
dung quan trọng của pháp luật thương mại.
Khái niện thương nhân lần đầu tiên đã được quy định tại Luật thương mại năm 1997
và hoàn thiện hơn trong khái niệm Luật thương mại năm 2005. Theo Luật thương mại
năm 1997, quy định: “Thương nhân gồm cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có
đăng ký kinh doanh hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên”. 11 Nếu theo
như quy định ở trên thì cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình phải có hoạt động
thương mại một cách độc lập, thường xuyên thì mới được coi là thương nhân và thuộc
đối tượng điều chỉnh của Luật thương mại 1997, khi các chủ thể này phải qua một thủ tục
hành chính bắt buộc đó là “đăng ký kinh doanh”. Từ quy định này đã dẫn đến nhiều
trường hợp các chủ thể tham gia hoat động thương mại một cách độc lập và thường
xuyên (thương nhân thực tế), không được coi là thương nhân vì họ không đăng ký kinh
10
11
. Điều 294, Luật thương mại 2005.
. Khoản 6 Điều 5, Luật thương mại 1997 (đã hết hiệu lực và được thay thế bởi Luật thương mại năm 2005.)
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 13
SVTH: Lê Xuân Cường
Một số vấn đề pháp lý về quyền của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại
đó có phải là thương nhân hay không, thì phải xem chủ thể đó có thực hiện hoạt động
thương mại hay không”.14 Điều này cũng cho thấy sự phụ thuộc vào quan niệm hoạt động
12
. Khoản 1, Điều 6, Luật thương mại năm 2005.
. Khoản 1, Điều 3, Luật thương mại năm 2005.
14
. Khoản 6, Điều 5, Luật thương mại năm 1997 (đã hết hiệu lực pháp luật)
13
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 14
SVTH: Lê Xuân Cường
Một số vấn đề pháp lý về quyền của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại
thương mại được hiểu theo nghĩa rộng hay hẹp mà việc xác định số lượng chủ thể được
coi là thương nhân cũng khác nhau.
Thứ hai, thương nhân phải là người (cá nhân, tổ chức) thực hiện hoạt động thương
mại một cách độc lập: Có nghĩa là thương nhân phải thực hiện hành vi thương mại cho
chính mình, dưới danh nghĩa của mình và vì lợi ích của bản thân mình, không phụ thuộc
vào một người nào khác, tự mình quyết định nội dung hoạt động và thời gian làm việc, tự
chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh. Trong hoạt động thương mại thường
có nhiều người tham gia vào như người làm công ăn lương, các nhân viên quản lí điều
hành. Do vậy, cần phải dựa vào tính độc lập trong thực hiện hành vi của chủ thể để xác
định người đó có tư cách thương nhân. Ví dụ, đối với một cửa hàng buôn bán vật liệu xây
Một số vấn đề pháp lý về quyền của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại
Đăng ký kinh doanh là nghĩa vụ pháp lý đối với thương nhân theo quy định của
pháp luật thương mại Việt Nam. Bên cạnh đó, thương nhân thực tế Luật thương mại vẫn
không công nhận một cách trực tiếp thương nhân thực tế như luật pháp của nhiều nước
trên thế giới. Tuy nhiên, với việc tách biệt nghĩa vụ đăng ký kinh doanh và việc quy định
rõ: “Trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về
mọi mặt hoạt động của mình theo quy định của luật này”.15 Với quy định như vậy, Luật
thương mại 2005 đã giải quyết được bất cập này của luật thương mại 1997.
Mục đích chính của thủ tục này là để cơ quan nhà nước nắm bắt các thông tin về các
hoạt động thương mại của thương nhân đó như: Ngành nghề kinh doanh, vốn kinh doanh,
địa chỉ kinh doanh, tên người đứng ra kinh doanh. Để thực hiện chức năng quản lý của
mình, đây cũng là thủ tục đã tồn tại lâu đời trong lịch sử thương mại. Các chủ thể khác
muốn biết thông tin cụ thể về một thương nhân nào đó, có thể đến nơi thương nhân đó
đăng ký kinh doanh để được cung cấp các thông tin cần thiết về thương nhân này.
1.2.1.3. Các loại thương nhân
Chủ thể pháp luật nói chung và chủ thể của Luật thương mại nói riêng được chia
thành: Pháp nhân và thể nhân. Pháp nhân là thuật ngữ dùng để chỉ chủ thể pháp luật là
một tổ chức còn thể nhân dùng để chỉ một con người cụ thể. Trong pháp luật thực định
của Việt Nam, thuật ngữ cá nhân thường được sử dụng thay cho thuật ngữ thể nhân, mặc
dù hai thuật ngữ này thường không hoàn toàn đồng nhất với nhau (theo quan niệm
chung).
Thứ nhất, thương nhân là cá nhân nhằm chỉ một con người cụ thể và chủ thể này có
đầy đủ dấu hiệu pháp lý của thương nhân. Họ có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực
hành vi để thực hiện các hoạt động thương mại. Theo quy định của Luật thương mại thì:
“Cá nhân phải đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc các
trường hợp pháp luật cấm kinh doanh thì có quyền đăng ký kinh doanh và khi đáp ứng
đầy đủ các điều kiện của luật định thì trở thành thương nhân”.16
điểm khác biệt giữa hai hình thức hộ kinh doanh và doanh nghiệp tư nhân, các thương
nhân này đều có điểm chung là phải chịu trách nhiệm vô hạn về mọi nghĩa vụ phát sinh
từ hoạt động thương mại và không có tư cách pháp nhân.
Thứ hai, thương nhân là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp
Tổ chức kinh tế là một tập thể cùng tham gia hoạt động trong cùng một lĩnh vực và
chung mục tiêu là lợi nhuận. Như vậy đây là một hình thức mà nhiều người cùng góp vốn
để kinh doanh và thành lập nên công ty thì công ty đó được xác định là thương nhân khi
nó hội đủ các điều kiện của pháp nhân sau đây: “Được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ
chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng
tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập” 17.Từ quy
định trên, chúng ta có thể thấy không phải mọi tổ chức có tư cách pháp nhân đều có thể
trở thành thương nhân mà một tổ chức chỉ được coi là thương nhân hoặc pháp nhân khi
hội đủ các điều kiện ở trên.
Xét từ các khía cạnh của thương nhân và tiêu chuẩn luật định của pháp nhân, hiện
nay ở nước ta các thương nhân là pháp nhân chủ yếu bao gồm các loại hình sau đây:
“Doanh nghiệp nhà nước; Hợp tác xã; Tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, tổ chức xã
hội nghề nghiệp; Công ty trách nhiệm hữu hạn; Công ty cổ phần; Công ty hợp danh;
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, có đủ các điều kiện tại Điều 84, của Bộ luật
dân sự 2005”.18 Như vậy, chỉ cần các tổ chức kinh tế này tham gia hoạt động thương mại
và tự chịu trách nhiệm về tài sản của mình và đáp ứng các yêu cầu của luật định thì sẽ trở
thành thương nhân.
Ngoài các đặc điểm của thương nhân nói chung, các thương nhân là pháp nhân đều
phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động thương mại trong phạm vi số
vốn, tài sản của pháp nhân. Pháp nhân là nguyên đơn hoặc bị đơn trong quan hệ tố tụng.
17
18
. Điều 84, Bộ Luật dân sự năm 2005.
. Khoản 1, Điều 103, Bộ Luật dân sự 2005.
tới việc người tiêu dùng mua những gì? Mua như thế nào? Mà vấn đề ở đây là đề cập tới
việc khi người tiêu dùng bị xâm phạm tới những lợi ích chính đáng của mình, thì có thể
làm gì và làm như thế nào. Theo quy định tại Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng:
“Khi có tranh chấp xảy ra giữa người tiêu dùng và người cung cấp hành hóa, dịch vụ
được giải quyết thông qua: Thương lượng, hòa giải, Trọng tài, Tòa án.20 Với việc quy
định như vậy, thì quyền lợi của người tiêu dùng đã được quan tâm khá tốt, khi xảy ra
tranh chấp người tiêu dùng có thể đề nghị được tiến hành bằng các hình thức nêu trên.
Với quy định trên thì có một hình thức mới được đưa ra để cho người tiêu dùng lựa chọn
đó là phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Nhưng với hình thức trọng tài
pháp luật không bắt buộc người tiêu dùng phải giải quyết bằng phương thức này mà chỉ
tùy ý lựa chọn mà thôi. Do trọng tài là một tổ chức phi chính phủ và là đơn vị sự nghiệp
19
20
. Khoản 1, Điều 3, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010.
. Điều 30, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010.
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 18
SVTH: Lê Xuân Cường
Một số vấn đề pháp lý về quyền của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại
có thu, nên khi người tiêu dùng muốn giải quyết bằng phương thức này sẽ rất tốn kém,
nên cho dù trong hợp đồng của nhà sản xuất kinh doanh có đưa ra điều khoản nếu khi xảy
ra tranh chấp các bên sẽ giải quyết bằng Trọng tài, thì khi đó người tiêu dùng vẫn được
21
. Điều 17, Luật trọng tài thương mại 2010.
. TS. Đỗ Văn Đại – TS. Trần Hoàng Hải, Pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại, Nxb Chính trị quốc gia,
2011, trang 46.
22
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 19
SVTH: Lê Xuân Cường
Một số vấn đề pháp lý về quyền của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại
đăng ký kinh doanh khác.23 Từ các hình thức buôn bán trên, đều có điểm chung là các
hoạt động thương mại này là không có địa điểm cố định. Nhìn chung, những người buôn
bán rong, bán quà vặt là những người tham gia hoạt động thương mại với quy mô nhỏ lẻ,
có thu nhập thấp, nhằm mục đích dân sinh là chủ yếu, về thực chất là lấy công làm lãi,
vốn kinh doanh không nhiều. Theo như quy định trên, thì đây là một quy định rất hợp lý
đã đánh giá đúng được những đối tượng nào không phải đăng ký kinh doanh để bảo vệ
quyền lợi cho những chủ thể này khi tham gia các hoạt động thương mại. Nếu quy định
họ là thương nhân thì sẽ gây rất nhiều khó khăn cho các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh
vực này, không những thế còn gây những phiền hà không đáng có đối với các chủ thể đó.
Nhưng theo quy định thì: “Hoạt động thương mại của cá nhân vẫn chịu sự điều
chỉnh của Luật thương mại áp dụng đối với thương nhân và pháp luật có liên quan”. 24
Như vậy, khi có sự biến pháp lý nào đó thì các chủ thể này cũng sẽ được Luật thương mại
điều chỉnh hoặc một ngành luật khác điều chỉnh khi có liên quan. Vì vậy, nếu có tranh
chấp xảy ra thì chủ thể này cũng có quyền lợi và nghĩa vụ như thương nhân.
Trang 20
SVTH: Lê Xuân Cường
Một số vấn đề pháp lý về quyền của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại
1.2.3. Các phƣơng thức giải quyết tranh chấp thƣơng mại
Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và tùy theo vào mức độ của
các loại tranh chấp mà các bên có thể lựa chọn các phương thức khác nhau để giải quyết
các tranh chấp khi phát sinh, nhưng trên thực tế hiện nay các tranh chấp thương mại có
bốn hình thức để các bên lựa chọn là thương lượng và hòa giải, Trọng tài thương mại,
Tòa án. Mỗi phương thức giải quyết sẽ có những ưu và nhược điểm riêng và tùy theo
những mối quan hệ phát sinh mà các bên sẽ lựa chọn những phương thức phù hợp nhất.
1.2.3.1. Thương lượng và hòa giải
Hiện nay thương lượng được tồn tại dưới hai hình thức đó là thương lượng ngoài tố
tụng và thương lượng trong tố tụng (trọng tài hay tòa án).
Thương lượng ngoài tố tụng là hình thức mà các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc
và đi đến thỏa thuận một cách thức tranh chấp mà không cần sự tác động hay giúp đở của
bên thứ ba. Phương thức này đơn giản, gọn nhẹ, hiệu quả lại ít tốn kém về tiền bạc,
không mất nhiều thời gian của các bên và ít gây ảnh hưởng đến mối quan hệ hợp tác vốn
có giữa các bên. Các bên có thể tự mình đứng ra giải quyết hoặc ủy quyền cho người đại
diện hợp pháp của mình đứng ra giải quyết mà không cần phải trực tiếp tham gia. Trong
quá trình giải quyết thì các bên có thể tự đưa ra ý kiến, quan điểm của mình để giải quyết
các tranh chấp hoặc có thể thỏa thuận lại những nội dung đang phát sinh tranh chấp theo
hướng phù hợp và có lợi nhất cho các bên tranh chấp và không làm mất hòa khí giữa các
bên, thậm chí còn tăng cường sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau khi thương lượng thành
công. Thỏa thuận được lập thành giữa các bên có giá trị như một hợp đồng, có hiệu lực
thi hành tự nguyện giữa các bên. Thế nhưng phương thức giải quyết này chỉ thích hợp khi
cả hai bên cùng có thiện chí để giải quyết các tranh chấp đang xảy ra mà thôi.
tịch trung tâm trọng tài quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp và quyết định thương
lượng của các bên sẽ có hiệu lực thi hành ngay đối với các bên. Nhưng trong trường hợp
các bên chỉ thương lượng một phần nào của tranh chấp thì Hội đồng trọng tài vẫn tiếp tục
tiến hành tố tụng trọng tài để giải quyết tiếp vấn đề mà các bên vẫn đang còn tranh chấp.
Đối với thương lượng trong tố tụng tại Tòa án thì: “Các đương sự có quyền thỏa
thuận giải quyết vụ án thì thẩm phán chỉ công nhận thỏa thuận này, nếu đương sự thỏa
thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án”.27 Mặc dù vụ án đã được đưa ra
trước cơ quan tư pháp của nhà nước, nhưng các đương sự vẫn có quyền tự thỏa thuận các
tranh chấp đang được giải quyết. Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự thì: “Quyết
định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được
ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm”.28 Với quy định
như vậy, nhằm hạn chế tối đa những thay đổi của đương sự sau khi thỏa thuận được với
nhau tại tòa án, tránh trường hợp do sự thay đổi của đương sự làm ảnh hưởng tới thời
gian và chi phí của các đương sự. Hạn chế được trường hợp tòa án phải xử đi xử lại một
vụ án thành nhiều lần.
Nhưng bên cạnh đó, Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có
thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là
do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội. Như vậy, vì
một lý do khách quan hay chủ quan nào đó dẫn tới chuyện các đương sự tiến hành thỏa
thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, thì vẫn còn một thủ tục để xem xét
lại đó là “giám đốc thẩm”, khi phát hiện ra những căn cứ đó là không thật sự khách quan,
thì nguyên đơn có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám
đốc thẩm.
26
. Điều 38, Luật trọng tài thương mại 2010.
. Khoản 2, Điều 187, Bộ Luật tố tụng dân sự 2004.
28
. Điều 188, Bộ luật tố tụng dân sự 2004.
Hòa giải cũng là giải pháp mang tính hiệu quả và được các nhà kinh doanh ưa
chuộng để giải quyết tranh chấp nhưng hạn chế là đến nay vẫn còn thiếu văn bản pháp
luật điều chỉnh về lĩnh vực hòa giải ngoài tố tụng. Cụ thể là quy định về vai trò và trách
nhiệm của người hòa giải, thủ tục, hình thức hòa giải, quyền và nghĩa vụ của các bên khi
tham gia quá trình hòa giải. Trên thực tế có hai hình thức hòa giải chủ yếu là hòa giải
ngoài thủ tục tố tụng và hòa giải trong thủ tục tố tụng (tiến hành tại Tòa án hay Trọng tài
thương mại).
Hòa giải ngoài thủ tục tố tụng là hòa giải qua trung gian được các bên tiến hành
trước khi đưa vụ tranh chấp ra cơ quan tài phán. Khi thống nhất được các hình thức giải
quyết tranh chấp, các bên phải tôn trọng và thực hiện nghiêm túc các phương án đã thỏa
thuận. Đối với hòa giải ngoài tố tụng, nhiều quốc gia cho đây là công việc riêng tư giữa
các bên nên không điều chỉnh trực tiếp và chi tiết.29
Hòa giải trong tố tụng là hòa giải được tiến hành tại Tòa án hay Trọng tài khi các cơ
quan này giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của các bên. Người trung gian hòa giải trong
29
. Tiến sĩ: Lê Minh Toàn, Sách luật kinh doanh Việt Nam (Tập 2), Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2009, trang 190.
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 23
SVTH: Lê Xuân Cường
Một số vấn đề pháp lý về quyền của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại
trường hợp này có thể là Thẩm phán hoặc Trọng tài viên phụ trách vụ việc. Hòa giải
trong tố tụng được coi là một giai đoạn trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng Tòa án
hay Trọng tài và chỉ có thể được tiến hành khi có một trong các bên gửi đơn kiện đến Tòa
30
. Tiến sĩ: Cao Nhất linh, Tập bài giảng Luật thương mại (phần 3), Khoa Luật Trường Đại học Cần Thơ, năm 2012
trang 19.
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 24
SVTH: Lê Xuân Cường
Một số vấn đề pháp lý về quyền của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại
Trọng tài thường trực (Trọng tài quy chế) là tổ chức phi chính phủ (không nằm
trong hệ thống cơ quan nhà nước), với quy định thì: “Trung tâm trọng tài có tư cách
pháp nhân, có con dấu riêng, có tài khoản riêng và trụ sở giao dịch ổn định, có danh
sách trọng tài viên và hoạt động theo điều lệ riêng.31 Ở nước ta Trọng tài thường trực
được tổ chức dưới dạng các Trung tâm trọng tài. Đặc điểm của tố tụng trọng tài là quy
chế tố tụng trọng tài rất chặt chẽ. Bởi vì mỗi tổ chức Trọng tài thường trực đều có điều lệ
hoạt động riêng của mình nên dễ dàng thay đổi,điều chỉnh, hoàn thiện cho phù hợp thực
tế của thời đại.
Do vậy, Trọng tài viên hay Trung tâm trọng tài được các bên lựa chọn để giải quyết
các tranh chấp theo phương thức này thường là những người có kiến thức chuyên môn và
có kinh nghiệm về lĩnh vực cần giải quyết. Trong nền kinh tế thị trường ngày càng phát
triển và các mối quan hệ của các bên cũng đã vượt ra ngoài phạm vi của một quốc gia
mang tính chất quốc tế nên việc áp dụng phương thức giải quyết tranh chấp này là phù
hợp với tình hình chung của thế giới.
Tuy nhiên, phương thức giải quyết này vẫn còn những hạn chế nhất định như:
“Phán quyết của trọng tài vẫn có thể bị hủy bỏ nếu một trong các bên có đủ căn cứ để