MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CHỦ THỂ CỦA HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI - Pdf 28

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ
VỀ CHỦ THỂ CỦA HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG
MẠI
1. Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại
Xuất phát từ bản chất kinh tế cũng như bản chất pháp lý của hoạt động nhượng quyền
thương mại (NQTM), hợp đồng NQTM cũng giống như các loại hợp đồng thông thường
khác, là sự thoả thuận của các bên trong quan hệ NQTM về những vấn đề chính trong nội
dung của quan hệ này. Đây chính là cơ sở phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên trong hoạt
động nhượng quyền và cũng là cơ sở để giải quyết tranh chấp có thể sẽ phát sinh trong quá
trình các bên thực hiện hợp đồng.
Theo Hiệp ước EEC, “Hợp đồng NQTM là một thoả thuận trong đó, một bên là bên
nhượng quyền cấp phép cho một bên khác là bên nhận quyền khả năng được khai thác một
“quyền thương mại” nhằm mục đích xúc tiến thương mại đối với một loại sản phẩm hoặc
dịch vụ đặc thù để đổi lại một cách trực tiếp hay gián tiếp một khoản tiền nhất định. Hợp
đồng này phải quy định những nghĩa vụ tối thiểu của các bên, liên quan đến: việc sử dụng
tên thông thường hoặc dấu hiệu của cửa hàng hoặc một cách thức chung; việc trao đổi
công nghệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền; việc tiếp tục thực hiện của bên
nhượng quyền đối với bên nhận quyền trong việc trợ giúp, hỗ trợ thương mại cũng như kỹ
thuật trong suốt thời gian hợp đồng NQTM còn hiệu lực” [1].
Có thể nói, hợp đồng NQTM là một loại hợp đồng chứa đựng những đặc điểm tổng hợp
của rất nhiều loại hợp đồng khác nhau. Hợp đồng NQTM có chứa đựng những yếu tố của
hợp đồng li -xăng, đó là sự hướng tới việc sử dụng một số đối tượng của quyền sở hữu
công nghiệp như sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp. Bên cạnh đó, hợp
đồng này còn có những điểm tương đồng với hợp đồng chuyển giao công nghệ khi mà
trong nội dung của hợp đồng luôn xác định rõ việc bên nhượng quyền phải chuyển giao,
cung cấp, hướng dẫn cho bên nhận quyền các công nghệ đi kèm và các tài liệu hướng dẫn
vận hành công nghệ đó. Không những thế, bóng dáng của các hợp đồng cung ứng, hợp
đồng đại lý phân phối cũng hiện hữu trong hợp đồng NQTM. Với tính chất tổng hợp này,
hợp đồng NQTM và các vấn đề cụ thể liên quan tới chúng đã đặt việc nghiên cứu trước
ngưỡng cửa của sự phức tạp.
Mặc dù Hiệp hội NQTM của nước Đức đã đưa ra một khái niệm chính thức về hoạt động

hợp đồng này vẫn được phân biệt với các loại hợp đồng khác như hợp đồng li -xăng hay
hợp đồng đại lý phân phối sản phẩm.
Như vậy, hợp đồng NQTM là một tập hợp các thoả thuận của các bên chủ thể, trong đó các
bên phải đề cập đến ít nhất một số vấn đề chủ yếu liên quan đến:
• thứ nhất, sự chuyển giao các yếu tố của quyền sở hữu công nghiệp, sở hữu trí tuệ từ
bên nhượng quyền sang bên nhận quyền nhằm khai thác thu lợi nhuận;
• thứ hai, sự hỗ trợ của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền trong suốt quá
trình thực hiện hợp đồng;
• thứ ba, nghĩa vụ tài chính cũng như các nghĩa vụ đối ứng khác của bên nhận quyền
đối với bên nhượng quyền.
Với khái niệm này, hợp đồng NQTM đã thể hiện được đúng bản chất pháp lý của hoạt
động NQTM, giúp cho công chúng có thể dễ dàng phân biệt được loại hợp đồng thương
mại đặc biệt này với một số loại hợp đồng khác có cùng một hoặc một số tính chất nhất
định.
Ở Việt Nam, pháp luật không đưa ra định nghĩa về hợp đồng NQTM mà chỉ quy định về
hình thức của loại hợp đồng này tại Điều 285 Luật Thương mại năm 2005. Như vậy, có thể
hiểu, trên phương diện pháp luật, hợp đồng NQTM là một loại hợp đồng được các thương
nhân ký kết trong quá trình thực hiện hoạt động thương mại, mà cụ thể ở đây chính là thực
hiện hoạt động NQTM. Vì vậy, hợp đồng này cũng phải có những đặc điểm chung của hợp
đồng được quy định ở chương VI của Bộ luật Dân sự và đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà
pháp luật dân sự đặt ra dưới góc độ của một loại giao dịch dân sự. Thêm vào đó, về cơ bản,
nó phải thể hiện được bản chất của giao dịch NQTM đã được định nghĩa tại Điều 284 Luật
Thương mại năm 2005.
Không đưa ra định nghĩa cụ thể về hợp đồng NQTM nói chung, nhưng Nghị định số
35/2006/NĐ-CP ngày 31/03/2006 của Chính phủ lại nêu định nghĩa về các dạng đặc biệt
của hợp đồng NQTM như: “hợp đồng phát triển quyền thương mại” (Khoản 8 Điều 3)
hoặc “hợp đồng NQTM thứ cấp” (Khoản 10 Điều 3). Đây là các dạng biến thể của hợp
đồng NQTM, thể hiện sự đa dạng về hình thức và phương thức NQTM nên việc đưa ra
định nghĩa cụ thể về những loại hợp đồng này trong luật là rất đúng đắn. Tuy nhiên, khi
giải thích về nghĩa của cả hai loại hợp đồng nói trên, các nhà làm luật vẫn sử dụng thuật

đựng.
Ngoài ra, pháp luật về NQTM của Việt Nam cũng có những quy định cụ thể về điều kiện
đặt ra đối với các thương nhân thực hiện hoạt động NQTM, đó cũng chính là những điều
kiện về mặt chủ thể của hợp đồng NQTM. Theo Điều 5, Điều 6 Nghị định 35/2006/NĐ-CP
thì thương nhân NQTM chỉ được phép cấp quyền thương mại khi đáp ứng đủ các điều
kiện:
• Hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã hoạt động được ít nhất 01
năm (nếu thương nhân Việt Nam là bên nhận quyền sơ cấp từ bên nhượng quyền
nước ngoài, thương nhân Việt Nam đó phải kinh doanh theo phương thức NQTM ít
nhất 01 năm ở Việt Nam trước khi tiến hành cấp lại quyền thương mại);
• Đã đăng ký hoạt động NQTM với cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp
luật (Sở Thương mại, Sở Thương mại - du lịch cấp tỉnh đối với hoạt động NQTM
mang tính nội địa; Bộ Thương mại đối với hoạt động NQTM có yếu tố nước ngoài);
• Hàng hoá, dịch vụ kinh doanh thuộc đối tượng của quyền thương mại (không thuộc
danh mục hàng hoá cấm kinh doanh; nếu thuộc danh mục hàng hoá kinh doanh có
điều kiện thì phải đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật).
Theo các quy định này thì điều kiện đặt ra đối với thương nhân nhượng quyền khá khắt
khe và phức tạp. Trong khi đó, đối với thương nhân nhận quyền, điều kiện chủ thể này
dường như đơn giản hơn và nhiều khi, pháp luật chỉ quy định thương nhân nhận quyền
được phép nhận quyền thương mại khi có đăng ký ngành nghề kinh doanh phù hợp với
hoạt động NQTM.
Trên thực tế, pháp luật của một số nước đưa ra những yêu cầu khá khắt khe đối với bên
nhượng quyền, hầu hết những quy định này tập trung vào khả năng tài chính, thời gian hoạt
động, số lượng các cơ sở kinh doanh đã có… Thực chất mục đích của các yêu cầu khắt khe
được đặt ra đối với bên nhượng quyền là để cho bên nhận quyền, ở một mức độ nhất định
nào đó, tránh khỏi nguy cơ phải đối mặt với các rủi ro trong kinh doanh. Dưới góc độ kinh
tế, trong quan hệ NQTM, bên nhượng quyền bắt buộc phải có một hệ thống và cơ sở kinh
doanh có lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Hệ thống kinh doanh này phải có sự trải
nghiệm thị trường đủ để tạo ra một giá trị “quyền thương mại” hợp lý và tạo niềm tin cho
bên nhận quyền. Với lợi thế có sẵn đó, trong quan hệ với bên nhận quyền, bên nhượng

thương nhân không phải lúc nào cũng đã được hình thành một cách trọn vẹn. Tuy
nhiên, với tư cách là một lĩnh vực hoạt động thương mại mới mẻ, NQTM phải được
tạo mọi điều kiện để phát triển một cách tương đối tự do và nhanh chóng. Vì vậy,
quy định khoảng thời gian ngắn để nhận biết giá trị “quyền thương mại” của bên
nhượng quyền cũng là một trong những cách thức tiếp cận có ý nghĩa của pháp luật
thương mại Việt Nam.
Bên nhận quyền phải có tư cách độc lập về mặt pháp lý, tài chính và đầu tư; đồng thời chấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status