1 of 128.
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn nghị luận là loại văn trong đó người viết đưa ra những lí lẽ,
dẫn chứng về một vấn đề nào đó và thông qua cách thức bàn luận mà
làm cho người đọc hiểu, tin, tán đồng những ý kiến của mình và hành
động theo những gì mình đề xuất. Chính vì thế, văn nghị luận đã hình
thành từ xa xưa cùng với sự phát triển của tư tưởng và văn hóa giáo dục
dân tộc. Nó là phương tiện đắc lực giúp vào quá trình phát triển ấy.
Trong nhà trường, việc rèn luyện viết văn nghị luận là yêu cầu rất
trọng yếu trong quá trình học tập. Văn nghị luận giúp cho học sinh tập
vận dụng tổng hợp các tri thức văn học, tri thức xã hội và đời sống vào
quá trình làm văn, rèn luyện kĩ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ và đặc biệt
giúp đắc lực vào việc phát triển tư duy khoa học, tư duy lí luận ở họ.
Những đề bài nghị luận đặt ra những vấn đề tư tưởng và học thuật đòi
hỏi học sinh phải huy động những hiểu biết lí luận và thực tiễn để giải
quyết nhằm xây dựng cho họ một phương pháp, tư tưởng khoa học để có
nhận thức đúng và thái độ đúng trước những vấn đề bàn luận cũng tức là
giúp học sinh có sự chuẩn bị cần thiết để tiến tới những hành động đúng
đắn, tích cực và sáng tạo trong đời sống hiện tại và tương lai.
Để học sinh phổ thông tạo được những văn bản hay, đầy sáng tạo,
việc dạy các em sử dụng tốt các thao tác lập luận là vô cùng quan trọng.
Vì vậy, SGK Ngữ Văn từ THCS đến THPT đã đưa ra các thao tác lập
luận thành từng nội dung cụ thể nhằm giúp học sinh hiểu sâu bản chất
các thao tác cụ thể để từ đó vận dụng tốt các thao tác đó trong quá trình
tạo lập văn bản.
Tuy nhiên phần Làm Văn này còn đi vào chiều rộng, có chú ý đến
“Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng thao tác lập luận
phân tích trong văn nghị luận cho học sinh lớp 11”.
2. Lịch sử vấn đề
Phân tích là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa thiết thực đối với
con người trong cuộc sống hàng ngày. Vì thế, khi nghiên cứu văn bản
nghị luận, các tác giả, các nhà nghiên cứu Làm Văn rất quan tâm, chú
trọng đi vào khai thác, nghiên cứu về cách thức tổ chức phân tích cho
văn bản. Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, mỗi tác giả lại
đưa ra những cách tiếp cận khác nhau. Cụ thể là:
Các tác giả Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Quang
Ninh, Cao Đức Tiến, Hà Bình Trị trong cuốn Làm Văn 10 (Tài liệu giáo
khoa thực nghiệm ban Khoa học xã hội) [101,3] đã nêu khái quát về kiểu
bài phân tích văn học và sau đó đã nêu ra các loại đề về kiểu bài này
VŨ THỊ HOA
2
LỚP: 35C
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
3 of 128.
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
như: Phân tích một đoạn văn; phân tích một bài thơ hay một đoạn thơ;
phân tích tích cách nhân vật; phân tích tâm trạng nhân vật; phân tích
LỚP: 35C
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
4 of 128.
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
phân tích văn học. Sau khi đưa ra khái niệm về bài phân tích văn học,
các tác giả này cũng đi sâu vào cách làm từng kiểu bài phân tích văn
học, như: Phân tích tác phẩm văn học; phân tích vấn đề văn học.
Trong cuốn Làm Văn 12 (Sách chỉnh lí hợp nhất 2000 – NXB Giáo
dục) [55,20], các tác giả Trần Đình Sử, Phan Trọng Luận, Nguyễn Minh
Thuyết đã đưa ra một số phương pháp phân tích văn học, như:
Muốn phân tích một đối tượng thì ta phải chia tách nhỏ đối tượng
thành bộ phận hay từng phương tiện để phân tích. Để thực sự bước vào
phân tích nội dung bên trong của hiện tượng văn học, có thể thực hiện
các bước:
Phân tích đối tượng theo quá trình.
Phân tích đối tượng theo mối quan hệ của nó với môi trường, hoàn
cảnh xung quanh.
Phân tích đối tượng theo mối quan hệ tương đồng hay tương phản
với các đối tượng cùng loại.
Như vậy, cùng bàn về một vấn đề nhưng cách hiểu, cách trình bày
đánh giá của tác giả đã có sự khác nhau. Điều đó cho thấy các ý kiến về
yêu cầu và cách phân tích của các nhà nghiên cứu chưa thực sự đồng
nhất, có nhiều nội dung còn trình bày khá sơ lược. Đó là nguyên nhân
dẫn đến những khó khăn cho người giảng dạy thao tác phân tích. Hơn
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
-Tìm hiểu, xác định cơ sở lí thuyết và thực tiễn cho việc vận dụng
thao tác lập luận phân tích.
-Đề xuất các dạng bài tập sử dụng thao tác lập luận phân tích.
-Tổ chức thể nghiệm để kiểm tra tính khả thi của những đề xuất
trong khóa luận đã đề ra.
5. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
-Đối tượng: Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng thao tác lập
luận phân tích trong văn nghị luận cho học sinh lớp 11
-Phạm vi: Các bài học thao tác lập luận phân tích trong chương
trình SGK Ngữ Văn 11 THPT: Thao tác lập luận phân tích, luyện tập
thao tác lập luận phân tích. Nghiên cứu quá trình dạy, học và vận dụng
thao tác lập luận phân tích cho học sinh lớp 11 THPT Thuận Thành số 1,
tỉnh Bắc Ninh, nơi chúng tôi thực tập.
6. Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp thống kê: đây là một trong những phương pháp của
toán học. Tôi sử dụng phương pháp này để xử lí các số liệu thu thập
được trong quá trình điều tra thể nghiệm.
VŨ THỊ HOA
5
LỚP: 35C
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
6 of 128.
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
VŨ THỊ HOA
6
LỚP: 35C
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
7 of 128.
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
Phần mở đầu khóa luận trình bày những nội dung cơ bản có tính
định hướng trong việc nghiên cứu nội dung đề tài là: lí do chọn đề tài,
lịch sử vấn đề, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, mục đích,nhiệm vụ
nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Ngoài ra trong phần mở đầu,
chúng tôi còn giới thiệu về bố cục của khóa luận, qua đó đánh giá tầm
quan trọng của việc nghiên cứu đề tài này.
Phần nội dung của khóa luận được triển khai trong ba chương.
Trong đó mỗi chương được tôi trình bày các phương diện khác nhau của
đề tài.Cụ thể:
Chương 1: Tập trung trình bày cơ sơ lí luận và thực tiễn về phân
tích, thao tác lập luận phân tích trong văn nghị luận và những vấn đề cơ
bản nhất của thao tác lập luận phân tích trong văn nghị luận.
Chương 2: Tập trung vào việc trình bày hệ thống bài tập rèn luyện
kĩ năng sử dụng thao tác lập luận phân tích trong văn nghị luận cho học
sinh lớp 11 THPT. Trong đó bao gồm: nguyên tắc chung đối với việc
xây dựng hệ thống bài tập và trình bày một số dạng bài tập tiêu biểu.
Trong tâm lí học, thao tác được xem là những hệ thống những hành
động trong tư duy. Thao tác chính là cốt lõi của các cách thức hành động
bị quy định và phụ thuộc chặt chẽ bởi phương tiện, điều kiện cụ thể.
Thao tác là một yếu tố không thể thiếu được trong hành động của
con người. Nó nảy sinh từ nhu cầu hành động của con người. Nhu cầu
ấy chi phối tới việc xác định hành động như thế nào để đạt được những
mục đích cụ thể, những nhiệm vụ cụ thể. Thao tác là cách để làm nên
nội dung hành động. Vì vậy nó là yếu tố có tính chất cơ động kĩ thuật, có
thể lắp ghép trong các chuỗi hành động miễn sao nó phù hợp với mục
đích thực hiện hành động đó.
b) Khái niệm tư duy
Trong thực tiễn cuộc sống, có rất nhiều cái mà ta chưa biết, chưa
hiểu. Song để làm chủ được thực tiễn, con người cần phải hiểu thấu đáo
những cái chưa biết đó, phải vạch ra những cái bản chất, mối quan hệ,
liên hệ có tính quy luật của chúng. Quy trình đó gọi là tư duy.
“Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản
chất, những mối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng
trong thế giới khách quan trước đó ta chưa biết. Như vậy, tư duy chính
là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát
VŨ THỊ HOA
8
LỚP: 35C
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
9 of 128.
điểm của bản thân. Việc trình bày lí lẽ được người viết thể hiện thông
VŨ THỊ HOA
9
LỚP: 35C
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
10 of 128.
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
qua các phương thức tư duy logic như: Khái niệm, phán đoán, suy lí và
hệ thống dẫn chứng nhằm đạt được mục đích khiến người đọc tin theo.
Vậy thao tác lập luận chính là thao tác được sử dụng để thực hiện một
hành động lập luận.
Khi lập luận, người ta có thể dùng nhiều thao tác: chứng minh, giải
thích, so sánh, bác bỏ, bình luận. Các thao tác này, học sinh được học rất
kĩ trong nhà trường từ THCS - THPT.
1.1.2 Phân tích với tư cách là một thao tác bộ phận trong kĩ năng làm
văn nghị luận
1.1.2.1 Khái niệm văn nghị luận
-Nghị: lấy lời lẽ mà giải thích.
-Luận: bàn bạc, mở rộng, suy xét, phê phán.
Văn nghị luận nói chung là loại văn mà người viết dùng vốn hiểu biết
của mình về một vấn đề cụ thể đã được đặt ra để giải thích, chứng minh,
tác này tương đối khó vì cần phải so sánh, đối chiếu cả về nội dung lẫn
hình thức để xác định giá trị của từng tác giả, tác phẩm, điểm giống hay
khác nhau giữa những chi tiết, hình ảnh trong câu thơ, đoạn thơ để qua
đó người viết tìm ra điểm hay, hấp dẫn hoặc có cơ sở để giải thích ý
nghĩa, giá trị mà tác phẩm đó mang lại.
-Bác bỏ: Bác bỏ là dùng lý lẽ và dẫn chứng để gạt bỏ những quan
điểm, ý kiến sai lệch hoặc thiếu chính xác, từ đó nêu ý kiến đúng của mình
để thuyết phục người nghe, người đọc. Người viết có thể bác bỏ một luận
điểm, luận cứ hoặc cách lập luận bằng cách nêu tác hại, chỉ ra nguyên nhân
hoặc phân tích những khía cạnh sai lệch, thiếu chính xác…của luận điểm,
luận cứ, lập luận ấy.
-Bình luận: Bình luận là nhằm đề xuất và thuyết phục người đọc
(người nghe) tán đồng với nhận xét, đánh giá, bàn luận của mình về một
hiện tượng (vấn đề) trong đời sống hoặc trong văn học.
1.1.2.3. Thao tác phân tích trong văn nghị luận
Phân tích là một thao tác lập luận cơ bản của quá trình tư duy cũng
như là thao tác cơ bản khi làm một bài văn nghị luận. Phân tích được
hiểu là việc chia nhỏ đối tượng thành nhiều yếu tố để đi sâu xem xét một
cách kĩ lưỡng nội dung và mối quan hệ bên trong cũng như bên ngoài.
Khi phân tích cần chia tách đối tượng thành nhiều yếu tố theo
những tiêu chí, quan hệ nhất định (Quan hệ giữa các yếu tố tạo nên đối
VŨ THỊ HOA
11
LỚP: 35C
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
bằng cách lựa chọn và vận dụng những kiến thức đã có để giải quyết
VŨ THỊ HOA
12
LỚP: 35C
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
13 of 128.
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
một nhiệm vụ, thực hiện một công việc nào đó ở một cấp độ tiêu chuẩn
xác định.
Vấn đề hình thành kĩ năng được nhiều nhà tâm lí học trong và
ngoài nước quan tâm, mỗi tác giả, mỗi trường phái có những ý kiến khác
nhau, song đều thống nhất với nhau rằng: kĩ năng được hình thành trong
hoạt động. A.N.Leonchiev đã mô tả mô hình cấu trúc của hoạt động như
sau: Hoạt động < hành động >thao tác và tương ứng chúng là các
yếu tố khách quan: đối tượng (động cơ)> mục đích >phương tiện
(điều kiện)
Thao tác được sinh ra từ hành động, mặt khác nó tạo ra cơ cấu kĩ
thuật của hành động.
1.1.3.2 Quan niệm về hệ thống bài tập
Khi tổ chức dạy thực hành làm văn, một số yếu tố không thể thiếu
đó là hệ thống bài tập. Có thể nói bài tập chính là công cụ, là phương
giống như giải thích, chứng minh, bình luận, phân tích được giảng dạy
với tư cách là một kiểu bài. Tuy nhiên, trong chương trình Ngữ văn hiện
nay, khi triển khai nội dung, phần Làm Văn không còn tồn tại khái niệm
kiểu bài mà thay vào đó là khái niệm kiểu văn bản. Do đó, các kiểu bài
nghị luận như giải thích, chứng minh, bình luận …và phân tích sẽ được
gọi bằng tên mới “thao tác lập luận”.
Quán triệt quan điểm trên, chương trình Ngữ văn hiện hành đã
xây dựng một số bài thao tác lập luận. Bộ sách cơ bản có bài “Thao tác
lập luận phân tích”. Đây là bài đầu tiên của một chuỗi bài về các thao tác
lập luận trong văn nghị luận. Theo phân phối chương trình, bài này được
giảng ở SGK Ngữ văn 11 (tập 1). Sau bài này, SGK còn bố trí thêm bài:
“Luyện tập thao tác lập luận phân tích”. Cách triển khai như vậy đã thể
hiện quan niệm tiến bộ trong việc biên soạn nội dung chương trình Ngữ
Văn nói chung và phần Làm Văn nói riêng. Quan điểm tiến bộ ấy xuất
phát từ chính mục đích của việc dạy học làm văn. Muốn làm được điều
đó, việc dạy học Làm Văn, một mặt phải trang bị hệ thống cơ sở lí
thuyết cho học sinh. Mặt khác phải tạo cho học sinh có điều kiện luyện
tập thực hành. Bởi lẽ, thực hành là con đường duy nhất giúp học sinh
củng cố và nâng cao các vấn đề lí thuyết đã học. Đồng thời đây cũng là
cơ hội tốt để các em vận dụng lí thuyết vào quá trình tạo lập văn bản.
Điều này, đòi hỏi nội dung lí thuyết của Làm Văn phải tỉ lệ thuận với
hoạt động thực hành.
VŨ THỊ HOA
14
LỚP: 35C
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
giáo viên thực hiện các nội dung SGK theo những định hướng trong
SGK. Thông thường, giáo viên đưa ra các câu hỏi gợi ý, hướng dẫn học
sinh phân tích ngữ liệu theo phần nội dung trong SGK, sau đó nhận xét,
bổ sung rồi rút ra kết luận theo phần ghi nhớ trong SGK. Cuối cùng,
VŨ THỊ HOA
15
LỚP: 35C
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
16 of 128.
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
giáo viên hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức lí thuyết đã học vào
việc giải quyết các bài tập trong SGK.
Khi khảo sát chương trình, chúng tôi nhận thấy thời gian giành
cho bài “Thao tác lập luận phân tích” là một tiết và một tiết cho bài
“Luyện tập thao tác lập luận phân tích”. Do đó, giáo viên ít có điều kiện
mở rộng kiến thức và việc luyện tập cũng chưa được kĩ càng, sâu sắc. Vì
vậy, khi tạo lập văn bản nghị luận, học sinh vẫn chưa vận dụng được các
bước phân tích một cách có hiệu quả.
1.2.3 Thực trạng học tập của học sinh
Trong quá trình học thao tác lập luận phân tích, nhìn chung, học
sinh vẫn còn thụ động. Mặc dù, giáo viên khi lên lớp có cố gắng đổi mới
1.2.4. Đánh giá chung về thực trạng
Từ thực trạng dạy – học của giáo viên và học sinh như trên chúng
ta thấy: để việc dạy học Làm Văn thực sự chủ động, sáng tạo, học sinh
biết vận dụng thao tác lập luận phân tích một cách linh hoạt và có hiệu
quả theo yêu cầu đổi mới là không ít khó khăn. Khắc phục những khó
khăn đó không hề đơn giản, cần phải có thời gian. Hơn nữa, nó cũng đòi
hỏi phải có sự tận tình, sáng tạo của mỗi giáo viên khi dạy học. Việc đưa
các bài tập vào quá trình học sẽ giúp các em có thêm kĩ năng viết văn
nghị luận.
VŨ THỊ HOA
17
LỚP: 35C
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
18 of 128.
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
Chương 2. HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ
DỤNG THAO TÁC LẬP LUẬN PHÂN TÍCH TRONG VĂN NGHỊ
LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 11
2.1. Nguyên tắc chung đối với việc xây dựng hệ thống bài tập
2.1.1. Đảm bảo tính khoa học
19 of 128.
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
phân tích. Các bài tập đó được sắp xếp theo lớp lang, chúng có mối liên
hệ và tác động qua lại với nhau. Dạng bài tập sau khó hơn dạng bài tập
trước song nó được hình thành dựa trên dạng bài tập đã cho…Cứ thế,
các dạng bài tập đó làm nên một hệ thống bài tập giúp người học có
thêm kĩ năng trong học và thực hành thao tác lập luận phân tích khi làm
một bài văn nghị luận. Hệ thống bài tập ở đây được triển khai từ dễ đến
khó, từ bài tập nhận diện, vận dụng sáng tạo đến bài tập chữa lỗi. Hệ
thống bài tập ở đây được đưa ra có sự kế thừa từ những công trình
nghiên cứu bài tập về thao tác lập luận phân tích trong chương trình
THCS song có sự mở rộng, phát triển hơn.
2.1.3. Đảm bảo tính vừa sức
Nguyên tắc này yêu cầu trong quá trình dạy học, đòi hỏi phải vận
dụng những nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù
hợp với trình độ phát triển của học sinh chung trong lớp, đồng thời cũng
phù hợp với trình độ phát triển của từng đối tượng học sinh, thậm chí
của từng học sinh, đảm bảo cho mọi học sinh đều có thể phát triển ở
mức độ tối đa so với khả năng của mình.
Trong quá trình dạy đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ
gần đến xa, từ nắm tri thức đến rèn kĩ năng, kĩ xảo, từ vận dụng tri thức
trong những tình huống đã học đến vận dụng tri thức vào những tình
huống mới…
Ngoài ra hệ thống bài tập còn cần đảm bảo tâm sinh lí của học
sinh. Học sinh THPT đã có khả năng hiểu và vận dụng những bài tập
trong chương trình Ngữ văn trừu tượng hơn, khái quát hơn. Học sinh
cũng có cách nhìn, sự cảm nhận sâu sắc hơn về cuộc sống thường
liên quan đến Làm Văn: phân tích giá trị của biện pháp tu từ: so sánh,
nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ…
2.2. Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng thao tác lập luận
phân tích trong văn nghị luận cho học sinh lớp 11
2.2.1. Giới thiệu khái quát bài tập
Khi tổ chức dạy thực hành làm văn, một số yếu tố không thể thiếu
đó là hệ thống bài tập. Có thể nói bài tập chính là công cụ, là phương
tiện để giáo viên thực hiện những ý đồ rèn luyện các kĩ năng cho học
sinh. Trong thực hành Làm Văn, hệ thống bài tập còn là cơ sở, là những
tài liệu thiết thực giúp học sinh trong quá trình tạo lập văn bản khác. Vì
vậy, thực hành phải được thực hiện ngay sau giờ học lí thuyết, trước giờ
viết bài.
VŨ THỊ HOA
20
LỚP: 35C
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
21 of 128.
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
Thông thường để tổ chức nội dung thực hành, giáo viên cần căn
cứ từ những vấn đề làm cơ sở định hướng cho hoạt động thực hành
thông qua hệ thống bài tập cụ thể. Theo tôi, để tổ chức rèn luyện kĩ năng
23 of 128.
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
2.2.2.Hệ thống bài tập
Khi viết một bài văn nghị luận, trước hết ta cần phải biết được
cách xây dựng một lập luận. Có nghĩa là xây dựng được một đoạn văn
(bài văn) có luận điểm, luận cứ và kết luận rõ ràng. Khi xây dựng một
lập luận phân tích cũng vậy, trước hết chúng ta cần xây dựng được đoạn
văn (bài văn) đó theo một lập luận. Hệ thống bài tập trong khóa luận chỉ
đề cập đến phần chính. Đó là hệ thống bài tập xây dựng các lập luận
phân tích. Sau đây là các dạng chủ yếu:
2.2.2.1. Bài tập nhận diện
Miêu tả bài tập
Kiểu bài tập này thường gồm hai phần: cung cấp ngữ liệu và trình
bày yêu cầu. Ngữ liệu có thể là một đoạn văn nghị luận hoặc cũng có thể
là một văn bản nghị luận. Sau phần trình bày ngữ liệu là phần nêu nội
dung yêu cầu bài tập. Phần yêu cầu thường được thể hiện bằng cách diễn
đạt như: Xác định đoạn văn sử dụng thao tác nào? Xác định bước thực
hiện nội dung bài (đoạn văn).
Mục đích
Đối với loại bài tập này, mục đích chính là giúp học sinh có thể
nhận diện được thao tác lập luận phân tích trong văn bản nhằm mục đích
làm sáng tỏ luận điểm nào đó. Đây là loại bài tập có yêu cầu ở mức độ
thấp, nó mang tính khởi động, khơi gợi khả năng ghi nhớ kiến thức cơ
bản về thao tác lập luận phân tích. Học sinh được cung cấp ngữ liệu và
yêu cầu học sinh nhận diện thao tác và những biểu hiện của thao tác này.
Loại bài tập này không chỉ giúp giáo viên và học sinh củng cố tri thức về
thao tác lập luận phân tích mà còn giúp giáo viên có điều kiện trình bày
Trong giờ thực hành, sau khi thực hiện kiểu bài tập này, giáo viên
cho học sinh tiếp tục thực hiện một kiểu bài tập khác là thực hiện thao
tác phân tích trong làm văn nghị luận.
Một số dạng bài tập nhận diện
a) Nhận diện cấu tạo lập luận có sử dụng thao tác phân tích
Để nhận diện được một số cách phân tích khi sử dụng thao tác lập
luận phân tích thì người đọc (nghe) cần xác định được cách thức tạo lập
lên lập luận đó. Nhận biết cách thức của một lập luận chính là khi chúng
ta nhận biết các yếu tố của một lập luận. Các yếu tố đó chính là: luận
điểm (kết luận), luận cứ và cách thức lập luận.
(1) Nhận diện luận điểm: Luận điểm là điều rút ra sau khi đã
được giải thích, phân tích, chứng minh, trong quá trình lập luận hay có
VŨ THỊ HOA
24
LỚP: 35C
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
25 of 128.
TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
thể đó là điều được tác giả giới thiệu ngay trong phần mở đoạn (mở bài).
Luận điểm hay nói rộng ra đó là kết luận, kết luận chính là cái đích của
một lập luận. Đây là điều mà người nói (viết) muốn người đọc (nghe)