Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng các kiểu liên kết câu cho học sinh lớp 5 - Pdf 40

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
=====o0o=====

NGUYỄN THỊ THANH NHÀN

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG
CÁC KIỂU LIÊN KẾT CÂU
CHO HỌC SINH LỚP 5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt

HÀ NỘI, 2016


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
=====o0o=====

NGUYỄN THỊ THANH NHÀN

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG
CÁC KIỂU LIÊN KẾT CÂU
CHO HỌC SINH LỚP 5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. Phạm Thị Hòa


thầy cô, sự giúp đỡ của bạn bè và nghiên cứu tài liệu.
Khóa luận này là kết quả của riêng cá nhân em, hoàn toàn không trùng
với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác. Những điều em nói ở trên là
hoàn toàn đúng sự thât. Nếu sai, em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên

Nguyễn Thị Thanh Nhàn


KÝ HIỆU VIẾT TẮT

HS

: Học sinh

HSTH

: Học sinh tiểu học

NXB

: Nhà xuất bản

SGK

: Sách giáo khoa

TH


1.2.4. Thực trạng việc xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử
dụng các kiểu liên kết câu ở các trường TH ........................................... 28
Chương 2. HỆ THỐNG BÀI TẬP LĨNH HỘI CÁC KIỂU LIÊN KẾT CÂU
TRONG CÁC VĂN BẢN TẬP ĐỌC........................................................... 30
2.1. Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng lĩnh hội và sử
dụng các kiểu liên kết câu ......................................................................... 30


2.2. Hệ thống bài tập lĩnh hội các kiểu liên kết câu trong các văn bản
Tập đọc. ................................................................................................... 31
Chương 3. HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG CÁC
KIỂU LIÊN KẾT CÂU CHO HỌC SINH LỚP 5 TRONG PHÂN MÔN TẬP
LÀM VĂN ................................................................................................... 42
KẾT LUẬN ................................................................................................. 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá với những
biến đổi toàn diện và sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá
đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học - công nghệ nói chung và khoa học giáo
dục nói riêng. Sự phát triển của thời đại có những ảnh hưởng sâu sắc đến nền
giáo dục nước nhà. Yêu cầu cấp thiết đặt ra cho nền giáo dục là đào tạo những
con người phát triển đủ đức, đủ tài, đủ năng lực để xây dựng và phát triển đất
nước, đưa đất nước hội nhập với thế giới nhưng vẫn giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hoá dân tộc, hoà nhập nhưng không hoà tan.
Trước yêu cầu mới của đất nước, ngày 09 tháng 12 năm 2000 Quốc hội
đã có Nghị quyết số 40/2000/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ

làm cần thiết với tất cả những giáo viên (GV) đang giảng dạy theo chương trình
hiện hành và theo mô hình trường học mới VNEN.
Từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Xây dựng hệ
thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng các kiểu liên kết câu cho HS lớp 5”.
2. Lịch sử vấn đề
Dạy và học liên kết câu là một nhiệm vụ khó khăn và đã được không ít
các nhà giáo dục nghiên cứu, tìm hiểu.
Thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về liên kết câu:
- Hệ thống liên kết văn bản Tiếng Việt, Trần Ngọc Thêm (2006, NXB
Giáo dục)
- Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Diệp Quang Ban (1998, NXB
Giáo dục)
Trong hai cuốn sách này, các tác giả đã cung cấp đầy đủ kiến thức về câu
và liên kết câu trong Tiếng Việt. Đây là cơ sở lí luận quan trọng cho việc dạy
học liên kết câu ở Tiểu học .
Thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu về việc dạy liên kết câu cho HS
tiểu học. Tuy nhiên, qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi thấy những công trình

3


nghiên cứu có đề cập đến vấn đề dạy học liên kết câu cho HS Tiểu học nhưng
chỉ viết ở mức độ sơ bộ.
- GS. TS Lê Phương Nga, trong cuốn “Bồi dưỡng HS khá - giỏi Tiếng
Việt ở Tiểu học” (NXB Đại học Sư Phạm, 2015) đã nêu lên các dạng bài tập
thực hành rèn luyện kĩ năng sử dụng liên kết câu nhưng tác giả chưa đi sâu
vào rèn kĩ năng cho HS từng khối lớp.
- Chuyên đề dạy học Luyện từ và câu ở Tiểu học, Chu Thị Thủy An,
Chu Thị Hà Thanh: Các tác giả đã đưa ra những nhận xét về vai trò, sự cần
thiết của việc dạy học liên kết câu trong trường Tiểu học. Sách còn đưa ra các

5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, khóa luận đưa ra một số nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Tìm hiểu cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài làm căn cứ xây dựng hệ
thống bài tập.
- Tìm hiểu nội dung các kiểu liên kết câu trong các bài tập đọc trong
SGK TV5.
- Tìm hiểu thực trạng dạy và học việc sử dụng liên kết câu ở 1 số trường
trong vài năm trở lại đây.
- Xây dựng 1 hệ thống bài tập phong phú đa dạng giúp HS lĩnh hội các
kiểu liên kết câu trong các văn bản tập đọc và rèn kĩ năng sử dụng các kiểu
liên kết câu cho HS lớp 5 trong phân môn TLV.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để nghiên cứu các tài liệu lí luận
liên quan đến dạy học nói chung và đặc biệt là dạy và học liên kết câu.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp này dùng để nghiên cứu khả năng thực tế của HS trong
việc nhận diện và sử dụng phép liên kết câu trong học tập và giao tiếp làm cơ
sở để xây dựng hệ thống bài tập.

5


- Phương pháp xử lí thông tin.
Nghiên cứu, phát hiện năng lực, thực trạng nhận diện và sử dụng phép
liên kết câu trong học tập của HS.
Thu lượm tài liệu, kết quả khảo sát để hỗ trợ quá trình đưa ra bài tập.
Phân tích và vận dụng những vấn đề lí thuyết đã nghiên cứu vào thực tế
giảng dạy các bài thực hành Tiếng Việt.
7. Cấu trúc khoá luận

thể yếu tố này thì phải tham khảo nghĩa của yếu tố kia và trên cơ sở đó hai
câu chứa chúng liên được với nhau” [4, tr.222].
Tác giả Nguyễn Quý Thành trong “Câu tiếng Việt và việc luyện câu cho
HS Tiểu học” nhận định mối liên hệ giữa các câu trong ngôn bản được gọi là
sự liên kết câu.
Theo GS.TS Lê A “Tính liên kết trong văn bản là những mối quan hệ
qua lại chặt chẽ giữa các câu, giữa các đoạn, giữa các phần, các bộ phận của
văn bản.” [16, tr.26].

7


Trong số các tác giả viết về liên kết câu trong văn bản, tác giả Trần Ngọc
Thêm là người trình bày khái niệm và khảo sát liên kết trong Tiếng Việt một
cách hệ thống và tập trung hơn cả. Có thể tóm tắt những quan điểm chính của
ông như sau:
- Liên kết là mạng lưới các mối quan hệ giữa các câu trong một văn bản.
- Liên kết là yếu tố quan trọng nhất có tác dụng biến một chuỗi câu
thành văn bản.
- Liên kết có hai mặt là liên kết nội dung và liên kết hình thức.
Như vậy, khái niệm liên kết câu trong văn bản đã được nhiều tác giả
bàn đến như một trong những đặc trưng quan trọng của văn bản. Tuy nhiên,
có thể nói rằng định nghĩa về tính liên kết của tác giả Phan Mậu Cảnh trong
“Lí thuyết và thực hành văn bản Tiếng Việt” mang tính khái quát hơn cả: liên
kết là mạng lưới các mối quan hệ về nội dung giữa các thành tố trong văn bản
được thể hiện qua những hình thức liên kết nhất định đồng thời là mối quan
hệ giữa văn bản và những nhân tố ngoài văn bản được thể hiện qua những dấu
hiệu nhất định.
1.1.1.2. Các kiểu liên kết câu
Các câu trong văn bản liên kết với nhau về nội dung và hình thức. Hai

một cách rõ ràng, đơn giản và cụ thể. Có thể trình bày ngắn gọn bảy phương
thức đó như sau:
* Phương thức lặp (phép lặp) là biện pháp sử dụng trong câu đứng sau
yếu tố ngôn ngữ đã xuất hiện ở câu trước để liên kết câu. Đây là một dạng
thức liên kết phổ biến nhất trong văn bản.
Ví dụ:
Hoa tay càng nhiều thì vẽ càng đẹp. Nếu con có mười cái hoa tay, con sẽ
vẽ đẹp nhất lớp, con viết chữ cũng đẹp nhất lớp.
(Nguyễn Nhật Ánh)
Dựa vào phương tiện liên kết câu, người ta chia phương thức lặp thành 3
tiểu loại:

9


- Thứ nhất, lặp ngữ âm là một dạng của phương thức lặp mà ở đó yếu tố
được lặp là các phương tiện ngữ âm (vần, nhịp, số lượng âm tiết trong một câu).
Lặp âm tiết thường có tính chất chơi chữ, mang màu sắc tu từ.
Ví dụ:
Ðòn gánh / có mấu
Củ ấu / có sừng
Bánh chưng / có lá
Con cá / có vây
Ông thầy / có sách
Ðào ngạch / có dao
Thợ rào / có búa...
- Thứ hai, lặp từ vựng là một dạng của phương thức lặp mà ở đó yếu tố
được lặp là thực từ, cụm từ (danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, hư từ, các
loại cụm từ). Lặp từ vựng là phương thức ngữ pháp quan trọng để liên kết chủ
đề (duy trì chủ đề). Tuy nhiên nếu lạm dụng dễ dẫn đến lỗi lặp và làm cho văn

duy trì chủ đề, rút gọn văn bản, tránh lặp mà còn góp phần quan trọng trong
việc rèn luyện kĩ năng sử dụng đại từ cho học sinh.
Ví dụ 1:
“Rõ ràng Trống Choai của chúng ta đã hết tuổi bé bỏng thơ ngây. Chú
chẳng còn phải quấn quýt quanh chân mẹ nữa rồi.”
(Hải Hồ)
Thứ hai là thế đồng nghĩa hoặc đồng sở chỉ. Đây là một dạng của
phương thức thế mà ở đó yếu tố dùng để thay thế là các từ ngữ đồng nghĩa
hoặc đồng sở chỉ. Ngoài chức năng liên kết chủ đề, phương thức này còn có
tác dụng giúp cho việc diễn đạt sinh động hơn và cung cấp thêm thông tin cho
người đọc.
Ví dụ:
Đã mấy năm vào Vương phủ Vạn Kiếp, sống gần Hưng Đạo Vương,
chàng thư sinh họ Trương thấy ông luôn điềm tĩnh. Không điều gì khiến vị
Quốc công Tiết chế có thể rối trí. Vị Chủ tướng tài ba không quên một trong

11


những điều hệ trọng để làm nên chiến thắng là phải cố kết lòng người.
Chuyến này, Hưng Đạo Vương lai kinh cùng nhà vua dự Hội nghị Diên Hồng.
Từ đây, Ông sẽ đi thẳng ra chiến trận. Vào chốn gian nguy trước vận nước
ngàn cân treo sợi tóc mà Người vẫn bình thản, tự tin, đĩnh đạc đến lạ lùng.
(Lê Vân)
* Phương thức tỉnh lược là biện pháp lược bỏ trong câu sau từ ngữ xuất
hiện ở câu trước để liên kết câu.
Ví dụ:
Chúng ta phải tiến lên, cách mạng phải tiến lên nữa. Nếu ɸ1 không tiến
lên tức là ɸ2 thoái. Và nếu ɸ3 thoái thì những thắng lợi đã đạt được không
thể củng cố và phát triển.

thức này mang đậm màu sắc của một biện pháp tu từ - biện pháp tương phản.
* Phương thức tuyến tính là biện pháp sử dụng trật tự trước sau trên hình
tuyến của các câu có quan hệ nghĩa chặt chẽ với nhau để tạo liên kết giữa
chúng. Trong liên kết bằng phép tuyến tính, nếu thay đổi trật tự của các câu
thì sẽ dẫn đến sự thay đổi của nội dung văn bản. Vì thế phép tuyến tính có tác
dụng mang lại tính mạch lạc rất cao cho văn bản.
Ví dụ:
Kháng chiến tiến bộ mạnh. Quân và dân ta tiến bộ mạnh. Nghệ thuật
cũng cần tiến bộ mạnh.
(Hồ Chí Minh)
* Phương thức nối là biện pháp sử dụng trong câu sau các từ ngữ có tác
dụng chuyển tiếp để liên kết câu. Phương thức nối có tác dụng liên kết logic,
nó mang lại sự chặt chẽ, mạch lạc cho văn bản.
Ví dụ:
Ngày nào cũng vậy, suốt buổi, tôi chui vào trong cùng hang, hì hục đào
đất để khoét một cái ổ lớn, làm thành cái giường ngủ sang trọng. Rồi cũng
biết lo xa như các cụ già trong họ dế, tôi đào hang sâu sang hai ngả làm
những con đường tắt, những cửa sau, những ngách thượng, phòng khi gặp
nguy hiểm, có thể thoát thân ra lối khác được.
(Tô Hoài)

13


Dựa theo loại từ ngữ dùng làm phương tiện để nối, người ta chia phương
thức nối thành 3 tiểu loại sau:
- Thứ nhất, nối bằng quan hệ từ: Đây là một dạng của phương thức nối
mà ở đó yếu tố dùng để nối là các quan hệ từ, chẳng hạn như: và, với, hay,
hoặc, nhưng, mà, thì, của, bằng, như, để, ….
Ví dụ:

Chú ý:
Trong liên kết câu người ta sử dụng các phương tiện liên kết câu.
Phương tiện liên kết câu là yếu tố ngôn ngữ được sử dụng nhằm bộc lộ mối
liên hệ giữa các câu, các bộ phận có liên kết với nhau. Mỗi cặp câu có thể sử
dụng một hay nhiều phương tiện liên kết câu.
Có các phương tiện liên kết câu sau:
+ Phương tiện ngữ âm (vần, nhịp, số lượng âm tiết)
+ Phương tiện từ vựng (danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, hư từ, các
loại cụm từ).
+ Phương tiện cú pháp (cấu trúc câu).
Ví dụ:
“Tre anh hùng lao động! Tre anh hùng chiến đấu!”
(Thép Mới)
Mỗi cặp câu có thể liên kết với nhau bằng một hay nhiều phương thức và
phương tiện liên kết.
Ví dụ:
Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà.
Miền Nam mong Bác, nỗi mong Cha.
(Tố Hữu)
Hai câu thơ trên vừa sử dụng phương tiện ngữ âm (lặp vần “a”, nhịp 4/3,
số lượng âm tiết là 7), vừa sử dụng phương tiện từ vựng (lặp Bác, miền Nam,
nỗi) và phương tiện cú pháp (lặp cấu trúc câu chủ ngữ - vị ngữ - thành phần
phụ chú). Đồng thời, hai câu thơ trên cũng sử dụng phương thức lặp (Bác,
miền Nam, nỗi), phương thức thế (Bác - Cha), phương thức liên tưởng (nhớ mong).

15


1.1.1.3. Các kiểu liên kết câu được học ở Tiểu học
Có rất nhiều phương tiện và phương thức để liên kết câu nhưng trong

hay tăng cường kiến thức cho người học.
Từ hai định nghĩa này có thể hiểu bài tập không chỉ dùng với mục đích
giúp người học củng cố vận dụng kiến thức đã học, rèn luyện kĩ năng tương
ứng mà còn giúp họ hình thành tri thức mới, phát triển các kĩ năng khác.
Trong các bài học thực hành rèn luyện kĩ năng, bài tập được coi là cơ
bản, chủ yếu để thực hiện mục đích. Bài tập là yếu tố không thể thiếu, có vai
trò hết sức quan trọng. Mặt khác theo quan điểm phát huy tính tích cực chủ
động của HS trong giờ học, hệ thống bài tập hiện nay không chỉ đơn thuần là
bài tập rèn luyện kĩ năng thực hành mà còn là cả một con đường để HS tự tìm
kiếm, chinh phục tri thức, hình thành những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết cho
mình.
Tóm lại, bài tập là một hệ thống tin xác định bao gồm điều kiện và yêu
cầu được đưa ra trong quá trình dạy học, đòi hỏi người học phải có lời giải
đáp. Nếu một loạt các bài tập cùng kiểu lặp đi, lặp lại tới mức độ cần thiết thì
sẽ khắc sâu kiến thức, hình thành nên những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng.
Thông qua đó, người học sẽ đạt tới một kết quả nào đó trong học tâp.
Dạy HS sử dụng các kiểu liên kết câu là giúp các em hình thành và phát
triển các kĩ năng để cuối cùng các em biết tạo lập các văn bản nói, văn bản
viết có sử dụng liên kết câu chặt chẽ, hay, sinh động. Muốn đạt được mục
đích trên con đường ngắn nhất có tính chất bắt buộc là con đường thực hành
và thực hành thông qua hệ thống bài tập bao giờ cũng đem lại hiệu quả toàn
diện, tốt nhất. Nói cụ thể hơn, trong dạy thực hành rèn luyện kĩ năng sử dụng
các kiểu liên kết câu thì việc rèn luyện thông qua hệ thống bài tập là vô cùng
cần thiết. Vấn đề đặt ra là hệ thống bài tập đó được xây dựng như thế nào?
b) Hệ thống bài tập
Trong cuốn từ điển “Từ và ngữ Hán - Việt” khái niệm hệ thống được

17






Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status