TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Khóa 35 (2009-2013)
CÁC HÀNH VI XÂM PHẠM BẢO HỘ NHÃN HIỆU
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Ths. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
Lê Thị Kim Ba
Bộ môn Luật Tư Pháp
MSSV: 5095307
Lớp: Luật Thương Mại 3
Cần Thơ – 11 /2012
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 01
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÃN HIỆU VÀ CÁC HÀNH VI
XÂM PHẠM BẢO HỘ NHÃN HIỆU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM.... 04
1.1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN VỀ BẢO HỘ
NHÃN HIỆU ............................................................................................................ 04
1.2.1. Trên thế giới .............................................................................................. 04
1.2.2. Ở Việt Nam................................................................................................ 05
1.4.5.1. Khái quát về tên miền .......................................................................... 29
1.4.5.2 Các hành vi vi phạm tên miền trên Internet liên quan đến nhãn hiệu .... 30
1.4.6 Sự cần thiết phải xử các hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu................. 32
CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÀNH VI XÂM
PHẠM BẢO HỘ NHÃN HIỆU ..................................................................... 35
2.1. CƠ SỞ XÁC ĐỊNH HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN
ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU .......................................................................................... 35
2.2. NHỮNG HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU ........................ 37
2.3. HÀNG HÓA GIẢ MẠO NHÃN HIỆU ............................................................ 49
2.4. HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN
NHÃN HIỆU ............................................................................................................ 51
2.4.1. Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ...................................................... 51
2.4.2. Theo quy định của pháp luật cạnh tranh ............................................................ 53
2.6. BIỆN PHÁP XỬ LÝ CÁC HÀNH VI XÂM PHẠM
BẢO HỘ NHÃN HIỆU............................................................................................ 55
2.6.1. Biện pháp hành chính ............................................................................... 55
2.6.2. Biện pháp dân sự....................................................................................... 58
2.6.3. Biện pháp hình sự...................................................................................... 59
2.6.4. Biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến
quyền sở hữu trí tuệ................................................................................................. 60
CHƯƠNG 3. TÌNH HÌNH CHUNG VỀ XÂM PHẠM QUYỀN ĐỐI VỚI
NHÃN HIỆU HIỆN NAY. NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ.. 62
3.1. TÌNH HÌNH CHUNG VỀ XÂM PHẠM QUYỀN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU ... 62
3.2. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN TÌNH TRẠNG XÂM PHẠM BẢO HỘ NHÃN
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, nước ta đang ngày càng phát triển trên tất cả các lĩnh vực đặc biệt là
nền kinh tế thị trường. Bên cạnh sự phát triển đó thì cũng có những tiêu cực liên quan
đến Sở hữu trí tuệ. Do áp dụng thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên
tiến nên tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu đối với
nhãn hiệu nói riêng, đặc biệt là nhãn hiệu hàng hóa đang ngày càng tăng về số lượng
và đa dạng về mẫu mã, chủng loại. Với nhu cầu hiện nay thì nhãn hiệu hàng hóa đóng
vai trò hết sức quan trọng đối với người tiêu dùng và cả doanh nghiệp. Thế nhưng, vi
phạm liên quan đến nhãn hiệu như hành vi xâm phạm quyền liên quan đến nhãn hiệu,
hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu, hàng hóa giả mạo nhãn
hiệu đang bị xâm phạm một cách mạnh mẽ, phổ biến và ngày càng tinh vi, phức tạp
hơn; gây hậu quả nghiêm trọng cho chủ sở hữu đối với nhãn hiệu, người tiêu dùng và
xã hội. Trong khi đó việc thực thi pháp luật sở hữu trí tuệ nói chung và công tác đấu
tranh phòng chống các hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu nói riêng còn nhiều bất
cập, chưa thật sự hiệu quả và không theo kịp tốc độ phát triển của các hành vi xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ. Bên cạnh đó các đối tượng xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu
thường rất ngoan cố, mặc dù đã bị các cơ quan quản lý thị trường, cảnh sát kinh tế…
kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm nhưng họ vẫn ngang nhiên bày bán công khai dẫn
đến tình trạng “bắt cóc bỏ đĩa”.
Theo báo cáo của hội nghị toàn quốc về sở hữu trí tuệ năm 2011, tổng số
lượng các vụ xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp trên cả nước là 1711 vụ và tổng số
tiền đã xử phạt là 9.31402.5000 đồng trong đó số lượng các vụ xâm phạm quyền đối
với nhãn hiệu là 1.561 vụ chiếm 91,23%, số tiền xử phạt về các hành vi xâm phạm
quyền đối với nhãn hiệu là 9.021.421.000 đồng chiếm 96,87% trên tổng số tiền đã xử
phạt các vụ xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.1 Trong 5 năm (2002-2007), lực
lượng cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế của 43 địa phương của các tỉnh, thành phố đã
phát hiện 1092 vụ sản xuất, buôn bán hàng giả.
1
tài này người viết chỉ tập trung làm rõ một số vấn đề cơ bản như : các hành vi xâm
phạm bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam theo quy định của pháp luật và từ thực tiễn, phân
tích, so sánh đối chiếu; nguyên nhân của sự xâm phạm và nêu lên một số ý kiến đề
xuất.
4. Phương pháp nghiên cứu :
Trong quá trình nghiên cứu, người viết đã sử dụng những kiến thức có được
từ quá trình học; đọc sách, báo, trang web và những tài liệu có liên quan đến đề tài
cũng như vận dụng phương pháp : tổng hợp, phân tích , liệt kê, so sánh đối chiếu giữa
lý luận và thực tiễn.
5. Kết cấu đề tài
Đề tài bao gồm:
- Lời mở đầu
- Chương 1: Lý luận chung về nhãn hiệu và các hành vi xâm phạm bảo hộ
nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
-2-
SVTH: Lê Thị Kim Ba
Luận văn tốt nghiệp
Các hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu ỏ Việt Nam hiện nay
- Chương 2: Quy định của pháp luật về các hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn
hiệu
- Chương 3: Tình hình xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hiện nay. Nguyên
nhân và ,một số kiến nghị
- Kết luận
sư kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc. Như vậy, nhãn
hiệu đã thực hiện chức năng chỉ dẫn nguồn gốc, giúp cho người tiêu phân biệt hàng
hóa, dịch vụ do một cá nhân hay một doanh nghiệp sản xuất này với một cá nhân hay
một doanh nghiệp khác sản xuất cùng loại sản phẩm.
1.1.2 Các loại nhãn hiệu
Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 (Sửa đổi, bổ sung
năm 2009) thì nhãn hiệu bao gồm các loại: nhãn hiệu nổi tiếng, nhãn hiệu tập thể, nhãn
hiệu liên kết và nhãn hiệu chứng nhận.
1.1.2.1 Nhãn hiệu nổi tiếng
Khoản 4 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009)
quy định: “Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi
trên toàn lãnh thổ Việt Nam”. Khi nhãn hiệu được sử dụng một cách liên tục cho các
2
Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005(Sửa đổi, bổ sung năm 2009)
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
-4-
SVTH: Lê Thị Kim Ba
Luận văn tốt nghiệp
Các hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu ỏ Việt Nam hiện nay
sản phẩm, dịch vụ thì nhãn hiệu đó sẽ được người tiêu dùng tín nhiệm và sử dụng
nhiều hơn. Khi đó, nhãn hiệu sẽ được biết đến một cách rộng rãi và trở thành nhãn
hiệu nổi tiếng. Quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ và thuộc về chủ sở hữu
hiệu tập thể. Như vậy, chức năng của nhãn hiệu tập thể là thông tin cho công chúng
biết về những phẩm chất đặc trưng của sản phẩm sử dụng nhãn hiệu tập thể. Một
doanh nghiệp được sử dụng nhãn hiệu tập thể có quyền dùng kèm thêm cùng với nhãn
hiệu tập thể, nhãn hiệu hàng hóa của riêng mình.
1.1.2.3 Nhãn hiệu liên kết
“Nhãn hiệu liên kết là nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc
tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên
quan với nhau” (Điều 4 khoản 19 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; Sửa đổi, bổ sung năm
2009).
Nhãn hiệu liên kết mang lại cho người chủ sở hữu nhãn hiệu nhiều quyền lợi
lớn như: chủ nhãn hiệu được độc quyền sử dụng dấu hiệu có khả năng phân biệt cho
nhiều loại hàng hóa, dịch vụ không cùng nhóm của mình. Với điều kiện: hàng hóa,
dịch vụ đó liên quan với nhau. Đồng thời, tạo ra cho người tiêu dùng một sự liên tưởng
của hàng hóa, dịch vụ này có cùng nguồn gốc xuất xứ. Ngoài ra, khi một trong các
nhãn hiệu liên kết được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ rồi thì
việc đăng ký bảo hộ đối với nhãn hiệu liên kết cũng được thực hiện một cách dễ dàng,
thuận tiện hơn.
1.1.2.4 Nhãn hiệu chứng nhận
“Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ
chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng
nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu cách thức sản xuất hàng hóa, cách
thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
-6-
SVTH: Lê Thị Kim Ba
Luận văn tốt nghiệp
trưởng sản xuất, thu được lợi nhuận cao cho doanh nghiệp.
Hơn nữa, nhãn hiệu còn tạo nên một rào cản, gây khó khăn cho các doanh
nghiệp khác muốn xâm nhập thị trường. Trên thực tế, mặc dù các quá trình sản xuất
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
-7-
SVTH: Lê Thị Kim Ba
Luận văn tốt nghiệp
Các hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu ỏ Việt Nam hiện nay
các thiết bị sản phẩm (liên quan đến sáng chế, kiểu dáng công nghiệp) có dễ bị sao
chép nhưng sự tín nhiệm của khách hàng đối với nhãn hiệu thì không dễ “bị sao chép”.
Công cụ để nhận diện và khác biệt hàng hóa sản phẩm:
Nhãn hiệu đáp ứng được mục đích nhận diện để đơn giản hóa sản phẩm hoặc
truy tìm nguồn gốc sản phẩm của công ty, giúp cho các tổ chức có thể kiểm kê, tính
toán và thực hiện các ghi chép khác.
Là nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh:
Nhãn hiệu được xem là một vũ khí cạnh tranh sắc bén của doanh nghiệp đặc
biệt là những nhãn hiệu nổi tiếng. Lợi thế cạnh tranh được thể hiện:
Thứ nhất, tính độc đáo của sản phẩm có nhãn hiệu sẽ được pháp luật bảo hộ
tránh sự sao chép bất hợp pháp.
Thứ hai, giảm bớt được chi phí maketing vì mức độ biết đến và trung thành
với nhãn hiệu đã cao, tạo được ưu thế đàm phán với các đối tác khác.
Nhãn hiệu là tài sản của doanh nghiệp:
Nhãn hiệu không chỉ là công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp, mà nhãn hiệu
còn là một tài sản vô cùng quý giá của doanh nghiệp. Nhãn hiệu càng nổi tiếng thì giá
sản xuất cụ thể hoặc nhà phân phối phải chịu trách nhiệm khi có sự cố xảy ra.
Giảm thiểu rủi ro trong tiêu dùng: Nhãn hiệu cũng có thể làm giảm rủi ro
cho người tiêu dùng khi họ quyết định mua và tiêu dùng sản phẩm: rủi ro chức năng,
rủi ro vật chất ( ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng)...để giảm thiểu
những rủi ro đó thì chắc chắn người tiêu dùng sẽ chọn mua những sản phẩm có nhãn
hiệu mà họ biết, đặc biệt là những nhãn hiệu nổi tiếng, nhãn hiệu đã được họ dùng
quen thuộc từ xưa đến nay.
Có thể nói nhãn hiệu còn là người chỉ đường, giúp người tiêu dùng tiết kiệm
được thời gian.
Yên tâm về chất lượng: Người mua có thể đánh giá chất lượng hàng hóa
thông qua nhãn hiệu.Nếu không có nhãn hiệu thì việc lựa chọn sản phẩm sẽ rất khó
khăn, bởi khách hàng không biết lấy gì để đảm bảo rằng mình đã mua đúng sản phẩm
mình muốn. Khi đó là một nhãn hiệu nổi tiếng, một nhãn hiệu mà người tiêu dùng đã
biết đến sẽ giúp cho họ yên tâm hơn về chất lượng của sản phẩm mà mình mua.
1.1.3.3 Trên bình diện kinh tế
Nhãn hiệu được coi là biểu tượng của nền kinh tế ngày nay. Ở vào thời đại mà
kỷ nghệ quảng cáo phát triển không ngừng, thì đương nhiên vai trò của nhãn hiệu càng
ngày càng quan trọng. Nhãn hiệu được hỗ trợ đắc lực bởi quảng cáo là một yếu tố thúc
đẩy tiêu thụ sản phẩm. Từ đó, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp cũng tăng lên,
góp phần đáng kể vào việc tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động. Tạo
điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng kinh tế, đưa đất nước ngày càng phát triển giàu
mạnh hơn.
1.1.4 Phân biệt nhãn hiệu với một số đối tượng quyền sở hữu công nghiệp
1.1.4.1 Phân biệt nhãn hiệu với nhãn hàng hoá
Nhãn hiệu và nhãn hàng hóa là hai khái niệm rất dễ nhầm lẫn vì nghe qua ta
nghĩ đó là một khái niệm khi nhãn hiệu là một khái niệm chung cho nhãn hiệu hàng
hóa và nhãn hiệu dịch vụ. Như vậy, nhãn hàng hóa sẽ rất dễ nhầm lẫn với nhãn hiệu
hàng hóa chỉ hơn kém nhau một từ “hiệu”, tuy vậy tính chất của chúng khác biệt rõ rệt:
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
dùng chung cho toàn bộ hoặc từng loại hàng hóa của một chủ sở hữu. Nhãn hiệu có thể
được gắn lên sản phẩm còn nhãn hàng hóa là bắt buộc phải có, ta có thể nói rắng nhãn
hiệu có thể được xem là một phần của nhãn hàng hóa nếu nhãn hiệu đó được gắn trên
nhãn hàng hóa.
1.1.4.2 Phân biệt nhãn hiệu với thương hiệu
Thương hiệu là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau
5
6
Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ.
Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ.
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
- 10 -
SVTH: Lê Thị Kim Ba
Luận văn tốt nghiệp
Các hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu ỏ Việt Nam hiện nay
Theo tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới thì thương hiệu là một dấu hiệu đặc biệt
để nhận biết một sản phẩm, một hàng hóa hay một dịch vụ nào đó được sản xuất, được
cung cấp bởi một tổ chức hoặc một cá nhân.7
Theo Hiệp hội nhãn hiệu thương mại quốc tế (ITA) thì thương hiệu được định
nghĩa là bao gồm từ ngữ, tên gọi, biểu tượng hay bất kỳ sự kết hợp nào giữa các yếu
trên được dùng trong thương mại để xác định và phân biệt của các nhà sản xuất hoặc
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
- 11 -
SVTH: Lê Thị Kim Ba
Luận văn tốt nghiệp
Các hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu ỏ Việt Nam hiện nay
Cách thứ hai, theo nghĩa hẹp thì thuật ngữ thương hiệu mang ý nghĩa tương
đồng với nhãn hiệu hàng hóa vì xuất phát từ một thuật ngữ pháp lý tiếng Anh là
“trademark”, được dịch sang tiếng Việt có nghĩa là nhãn hiệu thương mại gọi tắt là
thương hiệu, theo quy định của pháp luật các nước sử dụng tiếng Anh, Công ước Paris
đều có nghĩa là nhãn hiệu hàng hóa.10
Tóm lại, ta có thể thấy rằng thương hiệu và nhãn hiệu là hai khái niệm mang
tính chất tương đồng bởi chúng đều xuất phát từ một cái tên, một biểu tượng nào đó.
Tuy nhiên, xét ở góc độ khác thì hai thuật ngữ này vẫn có điểm khác nhau.
Thứ nhất, thuật ngữ thương hiệu và nhãn hiệu là hai thuật ngữ được dùng
trong những ngữ cảnh khác nhau. Ở góc độ pháp lý, sử dụng thuật ngữ nhãn hiệu là
dùng như trong các quy định của pháp luật ở Việt Nam, nhưng ở góc độ quản trị doanh
nghiệp và marketing thì người ta thường dùng thuật ngữ thương hiệu. Trong tiếng
Anh, hai thuật ngữ Brand và Trademark cũng tồn tại song song và người ta cũng dùng
trong những ngữ cảnh tương tự như vậy. Thực tế, trong các tài liệu của nước ngoài,
chúng ta thường gặp các cụm từ “Building Brand”, “Brand Strategy”; “Brand Image”;
“Brand Vision”; “Brand Manager”...được hiểu là “Xây dựng thư”; “Quản trị thương
hiệu”. Trong khi đó thuật ngữ “Trademark” chỉ gặp khi nói về vấn đề đăng ký bảo hộ
hoặc trong các văn bản pháp lý (registered trademark), mà không gặp các cụm từ
tương ứng là “Building trademark”; “Trademark Manager”; “Trademark Vision”. Sự
bảo hộ còn thương hiệu là kết quả phấn đấu lậu dài của doanh nghiệp và người tiêu
dùng chính là người công nhận.11
1.1.4.3 Phân biệt nhãn hiệu với tên thương mại
Theo quy định tại Điều 4 Khoản 21 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005; Sửa đổi, bổ
sung năm 2009 thì tên thương mại là “tên gọi của cá nhân, tổ chức dùng trong hoạt
động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh
doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh”. Khu vực kinh doanh tại
khoản này là khu vực địa lý của chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có
danh tiếng. Tên thương mại phải bao gồm các từ ngữ, chữ số phát âm phát âm được và
một doanh nghiệp chỉ có một tên thương mại.
So với tên thương mại thì nhãn hiệu có điểm khác nhau, nhãn hiệu là “dấu
hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. Một doanh
nghiệp có thể sản xuất nhiều sản phẩm hoặc có thể kinh doanh nhiều dịch vụ. Như
vậy, một doanh nghiệp có thể có nhiều nhãn hiệu hàng hóa.
Một sự khác biệt nữa là bản thân tên thương mại có thể tự động được bảo hộ
(nếu đáp ứng các tiêu chí đã được quy định) mà không cần đăng ký kinh doanh (khoản
3 Điều 6 Nghị định 103/2006). Tên thương mại được tiếp nhận là tên đầy đủ của công
ty ghi trong Giấy đăng ký kinh doanh.Còn nhãn hiệu bắt buộc phải trả qua thủ tục nộp
đơn đăng ký và quyền sở hữu đối với nhãn hiệu được xác lập sau khi nộp đơn đăng ký
bảo hộ nhãn hiệu trừ trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng và thẩm định.
1.1.4.4 Phân biệt nhãn hiệu với kiểu dáng công nghiệp
Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm. Được thể hiện
bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này (khoản 13 Điều
4 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam). Với định nghĩa này, kiểu dáng công nghiệp có thể
được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả kiểu dáng công nghiệp hai chiều(ví dụ: cách
11
Nguyễn Quốc Thịnh, phân biệt sự khác nhau giứa thương hiệu và nhãn hiệu, http:// gomm.com.vn/10385phan-biet-su-khac-nhau-giua-thuong-hieu-và-nhan-hieu/ (Truy cập ngày 24/10/2012).
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
khẳng định quyền sở hữu của mình.
Đến thế kỷ XIX, khi sản xuất hàng hóa phát triển, nhu cầu trao đổi hàng hóa
giữa những người khác nhau trong xã hội có điều kiện phát triển. Để giúp cho người
tiêu dùng nhận biết được hàng hóa một cách nhanh nhất, các nhà sản xuất đã nghĩ ra
cách là cần phải gắn nhãn mác lên hàng hóa, sản phẩm do mình sản xuất ra. Do đó
nhãn hiệu được ra đời.
Trong quá trình cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường, tiêu thụ sản phẩm thì
hiện tượng bắt được nhãn hiệu của nhau và gây thiệt hại cho chủ nhãn hiệu ngày càng
nhiều, số vụ xử kiện tại tòa án ngày càng tăng. Vấn đề Tòa án thời đó cần phán quyết
là quyền đối với nhãn hiệu cụ thể nào thuộc về ai ?. Trong các trường hợp này nguyên
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
- 14 -
SVTH: Lê Thị Kim Ba
Luận văn tốt nghiệp
Các hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu ỏ Việt Nam hiện nay
tắc được Tòa án áp dụng là: nhãn hiệu thuộc về người đầu tiên sử dụng nhãn hiệu hàng
hóa đó. Lúc đầu các sổ nhãn hiệu chỉ dùng theo dõi các nhãn hiệu bị tranh chấp, sau đó
ghi cả những nhãn hiệu không bị tranh chấp để đề phòng các tranh chấp trong tương
lai. Cuối cùng ngay cả các nhãn hiệu chưa được sử dụng nhưng chủ nhãn hiệu có ý
định sử dụng cũng được ghi vào sổ Theo dõi nhãn hiệu, đăng ký nhãn hiệu tại Tòa án.
Tuy nhiên việc đăng ký nhãn hiệu như vậy theo thông lệ chứ không theo một quy định
của văn bản pháp luật nào.
Theo tài liệu của WIPO, luật nhãn hiệu hàng hóa được ban hành đầu tiên vào
năm 1857 tại Pháp. Theo Luật này, quyền đối với một nhãn hiệu thuộc về người thực
Luận văn tốt nghiệp
Các hành vi xâm phạm bảo hộ nhãn hiệu ỏ Việt Nam hiện nay
Trong Bộ Luật Hồng Đức, đã có quy định về hình thức xử phạt đối với tội làm
hàng giả, đây có thể xem là nền móng, là cơ sở đầu tiên để bảo vệ các nhãn hiệu. Về
sau, những quy định về nhãn hiệu đã được ban hành dưới dạng các văn bản quy phạm
pháp luật: Nghị định số 97 của Hội đồng Bộ trưởng ngày 14 tháng 12 năm 1982 quy
định “ Điều lệ về nhãn hiệu hàng hóa “, đây là văn bản đầu tiên nhắc đến việc độc
quyền bảo hộ nhãn hiệu. Nghị định số 201/HĐBT ngày 28 tháng 12 năm 1988 về mua
bán quyền sở hữu sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng
hóa và bí quyết kĩ thuật. Vấn đề về nhãn hiệu đã thật sự quan tâm dến. Năm 1989 với
pháp lệnh bảo hộ sở hữu công nghiệp được công bố theo pháp lệnh 13/LCT/HĐNN
ngày 11 tháng 12 năm 1989 đã mở ra giai đoạn mới trong lính vực bảo hộ nhãn hiệu ở
Việt Nam.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra những phương hướng nhằm làm
cho việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
nói riêng ngày càng phát triển. Những phương hướng đó được quy định cụ thể tại Điều
60 Hiến Pháp 1992. Ngày 28 tháng 10 năm 1995 tại kỳ hợp thứ 8 Quốc hội khóa XI đã
thông qua Bộ Luật Dân Sự nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Bộ Luật dân
sự năm 1995 chính thức thiết lập chế độ pháp lý cao nhất cho việc xác lập, bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp
13
. Định nghĩa về nhãn hiệu hàng hóa được quy định tại
Điều 785 Mục 1, chương II, phần thứ VI. Đây được xem là định nghĩa đầu tiên về
Luật này và một số văn bản khác có liên quan: Luật hình sự, Luật hành chính. Bên
cạnh Luật sở hữu trí tuệ, Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định, thông tư hướng dẫn,
tạo điều kiện thuận lợi cho việc cho việc thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ như: Nghị
định 100/2006/NĐ- CP ngày 21 tháng 9 năm 2006; Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày
22 tháng 9 năm 2006...Luật sở hữu trí tuệ ra đời, đã góp phần vào việc hoàn thiện hệ
thống pháp luật về Sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ về nhãn hiệu nói riêng. Tạo điều
kiện thuận lợi đưa nền kinh tế nước ta hòa nhập vào tiến trình phát triển chung của nền
kinh tế thế giới.
1.2.3 Khái niệm bảo hộ nhãn hiệu
Theo cách lý giải trong từ điển Tiếng Việt thì Bảo hộ được hiểu là “che chở,
không để bị tổn thất”14. Như vậy, bảo hộ nhãn hiệu là những hành động mang tính chất
che chở quyền sở hữu đối với nhãn hiệu nhằm không để xảy ra tổn thất về cả tinh thần
và vật chất của nhãn hiệu được bảo hộ.
Một nhãn hiệu được coi là hợp pháp nếu được đăng ký bảo hộ và sử dụng
theo quy định của Pháp luật sở hữu trí tuệ. Ngay từ xưa, một nhãn hiệu hàng hóa có
thể được bảo hộ dựa trên cơ sở là việc sử dụng hoặc đăng ký, nghĩa là chỉ cần một
trong hai cơ sở đó thì nhãn hiệu được bảo hộ. Ngày nay, các hệ thống bảo hộ nhãn
hiệu hàng hóa thường kết hợp cr hai yếu tố trên ( đăng ký và sử dụng ). Công ước
Paris ( Việt Nam là thành viên ) buộc các nước thành viên có nghĩa vụ phải thiết lập
đăng ký nhãn hiệu hàng hóa. Hiện nay có hơn một trăm năm mươi quốc gia gia nhập
công ước này. Gần như tất cả các quốc gia đều quy định đăng ký nhãn hiệu hàng hóa
và việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa một cách đầy đủ chỉ được bảo đảm thích đáng
thông qua việc đăng ký.
Ở Việt Nam thì việc bảo hộ nhãn hiệu là việc Nhà nước thông qua hệ thống
pháp luật xác lập quyền của các chủ thể ( có thể là tổ chức, cá nhân ) đối với nhãn hiệu
và bảo vệ quyền đó chống lại bất kỳ sự vi phạm nào của bên thứ ba 15. Việc xác lập
quyền sở hữu đối với nhãn hiệu được thực hiện dưới hình thức cấp văn bằng bảo hộ
14
15
nước. Nhãn hiệu có tính cách lừa dối người tiêu dùng cũng bị coi là trái trật tự công
cộng: không thể dùng từ “ nước khoáng thiên nhiên “ làm nhãn hiệu cho nước lọc tinh
khiết.16 Việc sử dụng nhãn hiệu có tính chất gian trá là một lõi khiến nhãn hiệu vô giá
trị và có thể dẫn tới trách nhiệm bồi thường.
Tính cá biệt của nhãn hiệu:
Tính cá biệt phải được thể hiện dưới hai mặt: trước hết không thể sử dụng một
từ ngữ thông dụng mà mọi người đều phải dùng để chỉ các sản phẩm hay dịch vụ cùng
loại. Việc giành độc quyền sử dụng từ ngữ này sẽ gây trở ngại nghiêm trọng cho việc
kinh doanh của các người khác. Vì vậy nên nhãn hiệu phải có tính độc đáo.
Mặt khác, nhãn hiệu phải chưa được ai đăng ký. Nghĩa là nhãn hiệu phải mới.
Về tính độc đáo của nhãn hiệu, điều này không có nghĩa là từ ngữ, hình ảnh
dùng làm nhãn hiệu phải có tính độc đáo tuyệt đối. Nhãn hiệu đó không nhất thiết là
tác phẩm văn chương nghệ thuật, một sự sáng tạo, nó có thể là một từ ngữ bình thường
16
Lê Xuân Thảo, Đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ, NXB Tư Pháp, năm 2005,Tr.123.
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
- 18 -
SVTH: Lê Thị Kim Ba