TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 35 (2009 – 2013)
Đề tài:
BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Giảng viên hướng dẫn:
Trần Khắc Qui
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Diệu Ni
MSCB: 002285
MSSV: 5095638
Bộ môn: Luật Tư Pháp
Lớp: Luật Tư Pháp 3 - K35
Cần Thơ, 01/2013
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
------- ........................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
Cần Thơ, ngày ..…tháng…..năm…….
MỤC LỤC
1.3. Khái niệm, đặc điểm, vai trò, lịch sử hình thành và phát triển của bán đấu
giá tài sản trong thi hành án dân sự ................................................................... 19
1.3.1. Khái niệm, đặc điểm của bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự.......... 19
1.3.1.1. Khái niệm của bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự ....................... 19
1.3.1.2. Đặc điểm của bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự......................... 20
1.3.2. Lịch sử hình thành và phát triển của bán đấu giá tài sản trong thi hành
án dân sự Việt Nam......................................................................................... 21
1.3.2.1. Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 1996 ......................................................... 21
1.3.2.2. Giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2005 ......................................................... 22
1.3.2.3. Giai đoạn từ sau năm 2005 đến nay............................................................. 23
1.3.3. Vai trò của bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự ............................... 24
CHƯƠNG 2
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
2.1. Nguyên tắc bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự................................... 26
2.1.1. Tính công khai ................................................................................................. 26
2.1.2. Tính khách quan, trung thực........................................................................... 26
2.1.3. Tính liên tục ..................................................................................................... 27
2.1.4. Tính bình đẳng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia ........... 27
2.2. Tài sản bán đấu giá trong thi hành án dân sự ..................................................... 28
2.2.1. Tài sản bán đấu giá là quyền sở hữu trí tuệ..................................................... 28
2.2.1.1. Quyền tác giả .............................................................................................. 28
2.2.1.2. Quyền sở hữu công nghiệp........................................................................... 29
2.2.1.3. Quyền đối với giống cây trồng..................................................................... 29
2.2.2. Tài sản bán đấu giá là vật ................................................................................ 30
2.2.3. Tài sản bán đấu giá là quyền sử dụng đất ....................................................... 32
2.3. Các chủ thể tham gia vào hoạt động bán đấu giá tài sản trong thi hành án
3.1.1. Những thuận lợi trong việc áp dụng pháp luật về bán đấu giá tài sản
trong thi hành án dân sự ................................................................................... 52
3.1.1.1. Những thuận lợi trong việc kê biên tài sản để bán đấu giá........................... 52
3.1.1.2. Những thuận lợi trong việc định giá tài sản để bán đấu giá......................... 53
3.1.1.3. Những thuận lợi trong việc bán tài sản đã kê biên ....................................... 54
3.1.2. Những bất cập của việc áp dụng pháp luật về bán đấu giá tài sản trong thi
hành án dân sự .................................................................................................. 54
3.1.2.1. Khách hàng ngại mua tài sản vì sợ không được xem trước tài sản............... 54
3.1.2.2. Dừng bán đấu giá do người phải thi hành án nhận lại tài sản theo quy
định tại Điều 101 Luật thi hành án dân sự năm 2008.................................. 55
3.1.2.3. Bất cập từ việc kê biên quyền sử dụng đất ................................................... 57
3.1.2.4. Bất cập về quy định yêu cầu định giá lại tài sản .......................................... 58
3.1.2.5. Hạn chế trong trường hợp không có người đăng kí tham gia đấu giá .......... 60
3.1.2.6. Xử lý tài sản bán đấu giá không thành......................................................... 63
3.2. Một số giải pháp nhằm khắc phục những bất cập trong việc bán đấu giá tài
sản để thi hành án dân sự.................................................................................... 64
3.2.1. Trường hợp khách hàng ngại mua tài sản để thi hành án dân sự .................. 64
3.2.2. Dừng bán đấu giá do người phải thi hành án nhận lại tài sản ....................... 65
3.2.3. Bất cập từ việc kê biên quyền sử dụng đất....................................................... 66
3.2.4. Bất cập về quy định yêu cầu định giá lại tài sản.............................................. 67
3.2.5. Hạn chế trong trường hợp không có người đăng kí tham gia đấu giá ............ 68
3.2.6. Xử lý tài sản bán đấu giá không thành ............................................................ 68
KẾT LUẬN.................................................................................................................. 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đề tài: Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự
hợp với những yêu cầu mới đặt ra của sự phát triển kinh tế, xã hội.
Tuy nhiên, tình hình kinh tế xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt trong nền
kinh tế thị trường các giao lưu dân sự ngày một mở rộng thì số vụ việc tranh chấp
dân sự ngày càng gia tăng làm cho số lượng bản án, quyết định phải thi hành ngày
càng nhiều. Dẫn đến hoạt động bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự cũng gia
tăng theo nhưng pháp luật về vấn đề này lại tồn tại nhiều bất cập cần giải quyết. Bên
GVHD: Trần Khắc Qui
1
SVTH: Nguyễn Thị Diệu Ni
Đề tài: Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự
cạnh đó, về mặt lý thuyết thì những quy định pháp luật về vấn đề này rất hoàn chỉnh,
bảo vệ quyền lợi của các chủ thể tham gia vào hoạt động, nhưng trên thực tế thi
hành thì không phải lúc nào quyền lợi của người tham gia vào hoạt động này cũng
được đảm bảo. Có rất nhiều bất cập phát sinh khi áp dụng vào thực tế các quy định
của pháp luật về bán đấu giá sản trong thi hành án dân sự.
Nguyên nhân do các qui định pháp luật chưa thật sự nghiêm minh khi áp
dụng vào thực tế nên dẫn đến sự chống đối, cản trở của những người phải thực hiện
nghĩa vụ về tài sản như người có tài sản bị bán đấu giá. Đồng thời, cũng do những
quy định của pháp luật còn những thiếu sót làm ảnh hưởng đến quyền lợi của những
người liên quan như người tham gia mua tài sản bán đấu giá, người mua được tài
sản bán đấu giá, người được thi hành án,.. nên làm hạn chế việc bán đấu giá tài sản
trong thi hành án dân sự trên thực tế. Bên cạnh những nguyên nhân trên thì còn
nhiều nguyên nhân khác, cho nên để hoạt động bán đấu giá tài sản thi hành án dân
sự phát huy hết được vai trò của mình thì cần tìm ra những bất cập của nó trong thực
khác. Đặc biệt, qua việc nghiên cứu đề tài người viết có thể hoàn thiện hơn kiến
thức pháp luật của mình và nâng cao năng lực của bản thân.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đề tài là những cơ sở lý luận về bán đấu giá tài sản
trong thi hành án dân sự, một số quy định cơ bản của pháp luật về hoạt động này,
những bất cập khi áp dụng các quy định vào thực tế và một số biện pháp nhằm giải
quyết các bất cập này.
Phạm vi nghiên cứu: do thời gian nghiên cứu đề tài còn hạn chế nên người
viết chỉ có thể nghiên cứu một số quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản trong
thi hành án dân sự chủ yếu tại các Mục 5, 6, 8, 9 của Chương IV, Luật thi hành án
dân sự năm 2008 và một số quy định tại Nghị định 17/2010/NĐ-CP về tiêu chuẩn
Đấu giá viên, Tổ chức bán đấu giá tài sản thi hành án và quy trình tổ chức buổi bán
đấu giá tài sản. Và một số văn bản có liên quan như một vài Điều quy định về tài
sản của Bộ luật dân sự năm 2005.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, để có thể diễn đạt được nội dung của luận văn
người viết đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Đồng thời, trong quá
trình nghiên cứu, người viết còn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu
khoa học như phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp
và phương pháp thực tiễn. Trong đó:
- Phương pháp phân tích có vai trò phân tích để tìm hiểu, giải thích những
quy định của pháp luật.
- Phương pháp so sánh giữa luật cũ và luật mới trong quá trình nghiên cứu
nhằm đưa ra những điểm giống và khác giữa chúng, từ đó có thể chỉ ra những bất
cập hay tiến bộ khi áp dụng vào thực tế.
- Phương pháp tổng hợp để tổng hợp những gì đã phân tích, đưa ra kết quả
quá trình nghiên cứu đã đạt được.
tục trình bày những thuận lợi của các quy định này khi áp dụng vào thực tế, đồng
thời chỉ ra một số bất cập và các biện pháp giải quyết nhằm hoàn thiện hơn những
quy định của pháp luật.
Đây là một đề tài hoàn toản mới đối với người viết và do những nguyên
nhân như nguồn tài liệu và thời gian nghiên cứu còn hạn chế,… nên trong quá trình
nghiên cứu không tránh được những sai sót nhất định. Chính vì vậy, người viết rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn để người viết
có thể hoàn thiện hơn về đề tài của mình.
Chân thành cảm ơn!
GVHD: Trần Khắc Qui
4
SVTH: Nguyễn Thị Diệu Ni
Đề tài: Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự là một hoạt động diễn ra ngày
càng phổ biến đối với việc thi hành án dân sự, nó góp phần đảm bảo cho các bản án,
quyết định được thi hành trên thực tế. Tuy hoạt động này rất phổ biến nhưng không
phải người dân nào cũng hiểu chính xác về nó, bên cạnh đó hoạt động này lại có liên
quan đến việc bán đấu giá tài sản nên để hiểu rõ nó là một vấn đề không phải dễ
dàng. Chính vì thế trong chương 1 này người viết sẽ trình bày và phân tích các cơ sở
lý luận về hoạt động bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự để có thể hiểu rõ
hơn về hoạt động này trước khi tìm hiểu những quy định của pháp luật có liên quan.
Đề tài: Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự
thể làm thay đổi kết quả thi hành án hay cách thức tiến hành thi hành án của cơ quan
thi hành án. Với quan điểm này, thi hành án được hiểu là giai đoạn kết thúc trình tự
tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử làm cho phán quyết của
Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Theo quan điểm thứ hai, coi thi hành án là hoạt động hành chính - tư pháp.
Theo quan điểm này, quá trình tố tụng mà trọng tâm là việc xét xử của Tòa án chấm
dứt khi Tòa án ra phán quyết nhân danh Nhà nước, trong đó Tòa án đã xác định
quyền, nghĩa vụ các bên, còn việc thi hành phán quyết đó là giai đoạn khác, không
thuộc quá trình tố tụng. Thi hành án không phải là giai đoạn tố tụng, bởi vì "thi hành
án có mục đích khác với mục đích tố tụng, tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các
vụ việc đã diễn ra trên thực tế, trên cơ sở đó đưa ra phương án giải quyết vụ việc
theo đúng quy định của pháp luật, còn thi hành án là quá trình tiến hành các hoạt
động nhằm thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật".
Ngoài hai quan điểm cơ bản nêu trên, còn có quan điểm khác về thi hành án:
Theo quan điểm thứ ba, thi hành án là hoạt động tư pháp. Bởi vì, gốc của hoạt
động thi hành án là bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định theo quy định
của pháp luật. Khi thực hiện nhiệm vụ, Cơ quan thi hành án phải thi hành theo đúng
quyết định của Tòa án chứ không phải theo mệnh lệnh hành chính. Thi hành án phần
lớn thông qua vai trò hoạt động của các cá nhân những người được Nhà nước giao
trách nhiệm thi hành các bản án, quyết định như Chấp hành viên, Giám thị viên hoặc
các cơ quan tổ chức và người có thẩm quyền khác. Hoạt động hành chính trong lĩnh
vực thi hành án chẳng qua cũng chỉ để đảm bảo phục vụ cho chức năng chính của cơ
quan thi hành án là tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật. Nếu cho rằng
thi hành án (nhất là thi hành án dân sự) là giai đoạn độc lập có tính hành chính - tư
pháp vì hoạt động thi hành án được thực hiện chủ yếu bởi các cơ quan của Chính
phủ là không hợp lý vì một hoạt động mang bản chất như thế nào không thể phụ
thuộc nhiều vào chủ thể thực hiện nó.
án là hoạt động hành chính - tư pháp.
1.1.1.2. Đặc điểm thi hành án
Thi hành án với những đặc điểm của hoạt động quản lý hành chính
Thi hành án là một hoạt động diễn ra sau quá trình xét xử của Tòa án. Các
bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở để tiến hành các hoạt
động thi hành án. Do đó, không có kết quả của hoạt động xét xử thì không có hoạt
động thi hành án. Là một dạng hoạt động hành chính nhà nước, thi hành án thể hiện
tính chấp hành, quản lý rất rõ "bởi toàn bộ quá trình thi thành án với những hoạt
động, biện pháp, cách thức khác nhau đều nhằm thực hiện những nội dung đã được
thể hiện trong các bản án, quyết định của Tòa án và theo các quy định cụ thể của
pháp luật".
Trong quá trình thi hành án, Cơ quan thi hành án tác động tới đối tượng
phải thi hành án để họ tự giác thi hành hoặc cơ quan thi hành án áp dụng các biện
pháp buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ đã được xác định trong bản án, quyết định của
Tòa án, quyết định khác theo quy định của pháp luật. Qua đó, giáo dục họ và những
người xung quanh về ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích của tập thể và cá
nhân, kỷ cương của Nhà nước. Để thực hiện được điều đó, yêu cầu của hoạt động thi
hành án phải có tính kế hoạch, tổ chức, đôn đốc, kiểm tra,... đó là những tính chất
của hoạt động quản lý.
Đối với thi hành án, phương pháp giáo dục, thuyết phục là cần thiết nhưng
phương pháp mệnh lệnh, bắt buộc phải thực hiện lại mang tính đặc trưng (đặc biệt là
trong thi hành án hình sự). Tuy nhiên, thi hành án không chỉ mang tính hành chính
đơn thuần mà nó còn thể hiện tính hành pháp.
GVHD: Trần Khắc Qui
7
SVTH: Nguyễn Thị Diệu Ni
hành án tiến hành theo một trình tự, thủ tục luật định, nhằm đảm bảo thi hành các
bản án, quyết định về dân sự của Tòa án hoặc quyết định khác của cơ quan có thẩm
quyền.
Hiện nay có hai ý kiến hiểu về nghĩa từ “dân sự” trong cụm từ thi hành án
dân sự:
Đầu tiên, "dân sự" được hiểu theo nghĩa hẹp. Cơ sở để đưa ra ý kiến này
xuất phát từ quy định của Điều 1 Bộ luật dân sự năm 2005 cho rằng, quan hệ dân sự
bao gồm địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp
nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong
GVHD: Trần Khắc Qui
8
SVTH: Nguyễn Thị Diệu Ni
Đề tài: Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự
các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Vì
vậy, những bản án, quyết định dân sự trong thi hành án bao gồm bản án, quyết định
liên quan đến quan hệ tài sản và nhân thân phi tài sản (như bản án, quyết định về
tranh chấp các loại hợp đồng dân sự, về hôn nhân gia đình và một số loại bản án,
quyết định có tính chất dân sự).
Ý kiến thứ hai hiểu "dân sự" theo nghĩa rộng. Theo pháp luật của nhiều nước
trên thế giới, việc tổ chức thi hành các bản án có nguồn gốc pháp luật về nội dung là
luật tư (luật dân sự, luật kinh doanh, thương mại, lao động) được thực hiện theo một
thủ tục chung qui định trong bộ luật tố tụng dân sự.
Người viết đồng ý với quan điểm thứ hai. Tuy nhiên, theo pháp luật Việt
Nam thì "dân sự" trong thi hành án cần được hiểu một cách cụ thể. Đó là: “Bản án,
9
SVTH: Nguyễn Thị Diệu Ni
Đề tài: Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự
không được thi hành trên thực tế cho thấy sự thiếu nghiêm minh của pháp luật, dễ
gây ra sự mất đoàn kết, xung đột kéo dài trong nhân dân, tạo kẽ hở để các phần tử
phản động lợi dụng tuyên truyền lôi kéo nói xấu chế độ, kích động thù hận, gây chia
rẽ trong nội bộ nhân dân.
Thi hành án là thước đo hiệu quả hoạt động xét xử của Tòa án và hoạt
động tư pháp khác. Với ý nghĩa đó, thi hành án dân sự là một hoạt động không thể
thiếu được trong quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Thông
qua thi hành án, kết quả của công tác xét xử được củng cố, hiệu lực các bản án,
quyết định của Tòa án được đảm bảo. Mặt khác, thi hành án dân sự còn là giai đoạn
kiểm nghiệm qua thực tiễn những phán quyết của Tòa án, phản ánh, trung thực chất
lượng và hiệu quả của hoạt động xét xử. Vì nếu như bản án tuyên đúng với bản chất,
hiện thực khách quan, có lý, có tình thì trong quá trình thi hành án sẽ thuận lợi hơn
những trường hợp bản án, quyết định của Tòa án không đúng sự thật, không phù
hợp với thực tế khách quan. Thực tế cho thấy có nhiều vụ việc đương sự không tự
nguyện thi hành hoặc gửi đơn khiếu nại, tố cáo đi nhiều nơi không phải vì cơ quan
thi hành án làm sai mà vì không đồng tình với quyết định của Tòa án nên cố tình trì
hoãn việc thi hành án.
Thi hành án dân sự góp phần nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân. Đặc
thù của thi hành án dân sự là sự kết hợp chặt chẽ giữa vai trò chủ động, phát huy
trách nhiệm của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án và sự chỉ đạo của chính quyền
địa phương, sự phối hợp các cơ quan tổ chức có liên quan và sự đồng tình của quần
chúng, tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao ý thức trách nhiệm của cộng đồng. Trong
hoạt động thi hành án dân sự, thi hành án không chỉ là hoạt động nghiệp vụ riêng của
quyền tài sản”2. Như vậy, BLDS năm 1995 đã dựa vào tiêu chí tài sản là đối tượng
của quyền sở hữu phải trị giá bằng tiền và có thể được đưa vào giao lưu dân sự để
định nghĩa về tài sản. Trên tinh thần đó BLDS năm 2005 quy định: “Tài sản bao
gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”3. Đây là cách định nghĩa tài sản mang
tính cách liệt kê chứ không mang tính khái quát như các khái niệm pháp lý thông
thường. Theo quy định này thì tài sản được liệt kê một cách khép kín chỉ tồn tại một
trong bốn loại là: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. So với BLDS năm
1995, thì BLDS năm 2005 có nhiều điểm tiến bộ hơn khi định nghĩa về tài sản. Khái
niệm tài sản theo BLDS năm 2005 đã mở rộng hơn BLDS năm 1995 về những đối
tượng nào được coi là tài sản, theo đó, không chỉ những “vật có thực” mới được gọi
là tài sản mà cả những vật được hình thành trong tương lai cũng được gọi là tài sản.
1.2.2. Đặc điểm của tài sản
Tùy vào tài sản thuộc loại nào mà đặc điểm của những tài sản có những nét
riêng biệt của loại đó. Theo quy định tại Điều 163 BLDS năm 2005 thì tài sản tồn tại
một trong bốn dạng sau: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.
1.2.2.1. Tài sản là vật
Vật là bộ phận của thế giới vật chất, bao gồm cả động vật và thực vật. Vật
được coi là tài sản phải là vật hữu hình, cảm nhận được bởi các giác quan của con
người và chiếm giữ một phần nào trong không gian. Ngoài ra, vật được coi là tài sản
khi nó đáp ứng một nhu cầu nào đó về vật chất hoặc tinh thần của con người.
Theo quy định tại Điều 172 BLDS năm 1995 thì chỉ những vật có thực mới
được coi là tài sản, là đối tượng của quyền sở hữu. Tuy nhiên, BLDS năm 2005
không chỉ hạn chế vật có thực mới được coi là tài sản, là đối tượng của quyền sở
hữu mà đã mở rộng tài sản còn có thể là vật được hình thành trong tương lai. Trong
thực tế các giao dịch dân sự, ngoài đối tượng của các giao dịch là vật có thực mà
2
3
Điều 172 BLDS năm 1995
vật chia được. Những vật mà khi phân chia nó mất đi hoặc không giữ được tính chất
và tính năng ban đầu thì gọi là vật không chia được. Ví dụ nhà, tivi,…
Vật tiêu hao và vật không tiêu hao6. Về phương diện vật lý, mọi vật khi sử
dụng đều bị hao mòn. Chính vì vậy, việc phân chia vật thành vật tiêu hao và vật
không tiêu hao chỉ mang tính chất tương đối. Đối với những vật mà qua một lần sử
dụng thì mất đi hoặc không còn giữ nguyên được hình dáng, tính chất, tính năng sử
dụng ban đầu (vật có thể bị giảm về số lượng, chất lượng, trọng lượng,...) thì được
gọi là vật tiêu hao. Ví dụ như thực phẩm, xà phòng,... Đối với vật tiêu hao thì chủ sở
hữu có thể bán hoặc cho tài sản này. Tuy nhiên, vật tiêu hao không thể là đối tượng
của hợp đồng cho thuê hoặc hợp đồng mượn tài sản. Vật không tiêu hao là vật mà
khi qua nhiều lần sử dụng mà cơ bản vẫn giữ nguyên được tính chất, hình dáng và
tính năng sử dụng ban đầu. Ví dụ như nhà, xe máy, tủ lạnh,...
4
Điều 176 BLDS năm 2005
Điều 177BLDS năm 2005
6
Điều 178 BLDS năm 2005
5
GVHD: Trần Khắc Qui
12
SVTH: Nguyễn Thị Diệu Ni
Đề tài: Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự
quan ban hành như Chính phủ, ngân hàng, các tổ chức tín dụng, kho bạc, các công
ty cổ phần,... Giấy tờ có giá có thể có mệnh giá hoặc không có mệnh giá, có thể có
7
Điều 179 BLDS năm 2005
Điều 180 BLDS năm 2005
9
Khoản 8, Điều 6 Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010
8
GVHD: Trần Khắc Qui
13
SVTH: Nguyễn Thị Diệu Ni
Đề tài: Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự
thời gian sử dụng hoặc không có thời gian sử dụng và việc định đoạt đối với giấy tờ
có giá cũng không bị hạn chế.
1.2.2.4. Các quyền tài sản
Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể được chuyển giao
trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ10. Theo đó thì quyền tài sản trước
tiên phải được là xử sự được phép của chủ thể mang quyền. Quyền ở đây là quyền
năng dân sự chủ quan của chủ thể được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Quyền này trị
giá được bằng tiền hay nói cách khác là phải tương đương với một đại lượng vật
chất nhất định. Đây là những quyền gắn với tài sản mà khi thực hiện quyền đó thì
chủ sở hữu sẽ có được một tài sản. Như vậy một quyền dân sự được coi là quyền tài
14
SVTH: Nguyễn Thị Diệu Ni
Đề tài: Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự
gắn cố định với đất đều được khẳng định là bất động sản. Do đó, BLDS năm 2005
có sự thay đổi tiến bộ hơn so với quy định ở BLDS năm 1995. Cụ thể như sau:
“Bất động sản là các tài sản bao gồm:
- Đất đai;
- Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền
với nhà, công trình xây dựng đó;
- Các tài sản khác gắn liền với đất đai;
- Các tài sản khác do pháp luật quy định.”11
Cũng giống như cách định nghĩa tài sản, BLDS cũng đã sử dụng cách liệt
kê để định nghĩa về bất động sản. Theo đó đất đai và các tài sản gắn liền với đất đai
như nhà, công trình xây dựng, cây cối, tài nguyên,... sẽ được coi là bất động sản.
Ngoài ra, những tài sản do pháp luật chuyên ngành khác quy định cũng được coi là
bất động sản. Như theo Điều 6 luật kinh doanh bất động sản năm 2006 thì quyền sử
dụng đất cũng là bất động sản.
Đất đai được hiểu là một diện tích đất nhất định bao gồm cả chiều rộng,
chiều dài, chiều cao và chiều sâu. Đất đai bao gồm cả đất, đá, cát, sỏi, phù sa khi
chúng ta chưa khai thác tách rời khỏi đất. Đất đai không thể di dời từ địa giới hành
chính này sang địa giới hành chính khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác, vì vậy
đất đai luôn được coi là bất động sản.
Tài sản gắn liền với đất đai như nhà, công trình xây dựng và tài sản gắn liền
với nhà, công trình xây dựng đó. Những tài sản này phải liên hệ chặt chẽ với đất đai,
nhà, công trình xây dựng và không thể tách rời. Những vật khác như lều tạm, giàn
giáo, công trình ngắn ngày,... không thường xuyên gắn liền với đất, do đó chúng
Quy định về hoa lợi và lợi tức tại điều luật này vẫn giữ nguyên quy định tại
Điều 182 của BLDS năm 1995. Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại. Ví
dụ như: trứng do gia cầm đẻ ra; hoa màu có được khi trồng các loại cây lương thực,
thực phẩm; hoa quả có được khi trồng cây ăn trái,… Ngay sau khi được tách khỏi
vật, hoa lợi được trở thành vật độc lập, từ thời điểm đó, hoa lợi thuộc quyền sở hữu
của chủ sở hữu vật, trừ khi trong giao dịch dân sự các bên có quy định khác. Lợi tức
là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản. Thông thường lợi tức được tính
thành một số tiền nhất định.
Chỉ được gọi là hoa lợi, lợi tức khi những tài sản sinh ra từ tài sản gốc mà
không làm giảm súc chất liệu của tài sản gốc (ở mức có thể nhận thấy được).
Việc phân loại tài sản thành tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức có ý nghĩa pháp
lý trong một số trường hợp sau:
Một là có ý nghĩa trong việc xác định chủ sở hữu của tài sản. Về nguyên tắc
thì hoa lợi thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu tài sản, còn lợi tức sẽ thuộc về người
có quyền sử dụng hợp pháp tài sản đó. Do đó, khi thuê hay mượn tài sản thì hoa lợi
sẽ thuộc về chủ sở hữu tài sản còn lợi tức sẽ thuộc về người sử dụng tài sản đó.
Hai là để xác định trong một số trường hợp người chiếm hữu tài sản gốc
chỉ được hưởng hoa lợi sinh ra từ tài sản mà không được khai thác công dụng của tài
sản để thu lợi tức. Ví dụ như trường hợp chiếm hữu hợp pháp gia súc, gia cầm thất
lạc thì người chiếm hữu được hưởng một nửa số gia súc hoặc toàn bộ số gia cầm
sinh ra13; trường hợp cầm giữ tài sản trong hợp đồng song vụ thì bên cầm giữ tài sản
có quyền thu hoa lợi từ tài sản cầm giữ và được dùng để bù trừ nghĩa vụ14.
Tài sản có đăng ký quyền sở hữu, tài sản không có đăng ký quyền sở
hữu. Căn cứ vào giá trị của tài sản, vào vai trò và ý nghĩa của tài sản đối với chính
trị, kinh tế, an ninh quốc phòng và quản lý Nhà nước mà pháp luật có quy định về
việc có đăng ký quyền sở hữu đối với một số loại tài sản nhất định. Tài sản có đăng
ký quyền sở hữu là tài sản mà pháp luật bắt buộc phải đăng ký, nếu việc đăng ký
không được thực hiện thì sẽ không được công nhận quyền sở hữu đối với tài sản đó.
Tài sản có đăng ký quyền sở hữu hiện nay như nhà, tàu thuyền, ô tô,… tài sản sản
13
quốc dân, an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia mà Nhà nước cấm giao dịch như vũ
khí quân dụng, ma túy, động vật quý hiếm,…
Tài sản hạn chế lưu thông là tài sản khi dịch chuyển trong giao dịch dân sự
nhất thiết phải tuân thủ theo những quy định riêng của pháp luật. Trong đó một số
trường hợp phải có sự đồng ý, cho phép của cơ quan chức năng có thẩm quyền.
Tài sản tự do lưu thông là những tài sản mà không có quy định nào của
pháp luật cấm hoặc hạn chế lưu thông, dịch chuyển đối với các loại tài sản đó.
Trong giao dịch dân sự với các loại tài sản này, các chủ thể không cần phải xin
phép. Hầu hết các tài sản dùng trong sinh hoạt hằng ngày hiện nay đều là các tài sản
tự do lưu thông như xe máy, tivi, lương thực, thực phẩm,…
Việc xác định đúng loại tài sản này có ý nghĩa lớn trong việc xác định hiệu
lực pháp lý của giao dịch dân sự. Cụ thể, tài sản cấm lưu thông không thể trở thành
đối tượng của giao dịch dân sự. Vì vậy, nếu các bên vẫn xác lập các giao dịch này
thì giao dịch đó sẽ là giao dịch vô hiệu tuyệt đối do có nội dung vi phạm điều cấm
của pháp luật17. Còn đối với các loại tài sản hạn chế lưu thông thì khi xác lập các
giao dịch các bên phải tuân thủ chặt chẽ các điều kiện giao dịch, nếu pháp luật có
quy định phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các thủ tục đó.
15
Điều 439 BLDS năm 2005
Khoản 2, Điều 440 BLDS năm 2005
17
Điều 128 BLDS năm 2005
16
GVHD: Trần Khắc Qui
17
SVTH: Nguyễn Thị Diệu Ni
thời điểm xem xét không xác định được chủ sở hữu và cũng không có căn cứ để
chứng minh rằng chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản đó.
Tài sản hữu hình và tài sản vô hình là hai khái niệm được nhắc đến rất
nhiều trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn. Tuy nhiên, hai khái niệm
này vẫn chưa được đề cập chính thức trong BLDS năm 2005. Căn cứ để phân chia
hai loại tài sản này là dựa vào trạng thái tồn tại trên thực tế có tồn tại hay không. Tài
sản hữu hình được hiểu là những tài sản được tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể mà
con người có thể dùng các giác quan của mình nhận biết được hoặc có thể dùng đơn
18
Lê Đình Nghị, Giáo trình luật dân sự Việt Nam – Tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, năm 2009, trang 179
GVHD: Trần Khắc Qui
18
SVTH: Nguyễn Thị Diệu Ni