TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN TƯ PHÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
BẢO VỆ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC
PHẨM VĂN HỌC TRÊN INTERNET
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Cô: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
Bộ môn Tư Pháp
Đào Thị Thanh Tâm - 5075141
Lớp: Thương mại 2 (LK0764A2)
Khóa: 33 – Niên khóa: 2007-2011
Cần Thơ, tháng 4 năm 2011
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
….………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
Sinh viên thực hiện
Đào Thị Thanh Tâm
Luận văn: Internet và vấn đề bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Việt Nam hội nhập với thế giới từ nhiều năm và đã có những bước phát triển
vượt bậc về nền kinh tế cũng như nâng cao vị thế trên trường Quốc tế. Bên cạnh đó
Việt Nam đã gia nhập nhiều công ước, điều ước Quốc tế với tinh thần hợp tác, hữu
nghị và cùng phát triển.
Với tinh thần trên năm 2004, Việt Nam gia nhập Công ước Berne về bảo vệ
quyền tác giả, đến năm 2005 ban hành Bộ luật Dân Sự với những quy định về quyền
tác giả cụ thể hơn so với Bộ Luật Dân sự 1995. Mặc dù vậy, khi Luật Sở hữu trí tuệ ra
đời mới thật sự quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của tác giả, chủ sở hữu quyền
tác giả. Trong thời gian qua, các văn bản quy phạm quy định, hướng dẫn thi hành
Luật Sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng đã được ban hành và có
những thành tích đáng kể. Tuy nhiên, các mối quan hệ trong Luật Sở hữu trí tuệ cũng
như những về quyền tác giả đã có những chuyển biến nhất định, nhanh chóng đòi hỏi
những thay đổi của quy định pháp luật. Vấn đề bảo vệ quyền tác giả ngày càng trở
thành mối quan tâm hàng đẩu của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, đặc biệt trong
môi trường Internet toàn cầu hiện nay. Một môi trường mà cần chỉ một cú bấm chuột
đã có thể tiếp xúc và lưu trữ hàng ngàn tác phẩm một cách bất hợp pháp. Các tác
phẩm bị vi phạm thuộc mọi lĩnh vực như âm nhạc, điện ảnh, truyền hình, văn học…
Trong các lĩnh vực trên thì việc các tác phẩm văn học bị xâm phạm quyền tác
giả được ví như làn sóng ngầm luôn tồn tại bên cạnh các hành vi xâm phạm quyền tác
giả trong các lĩnh vực khác nhau. Bởi tác phẩm văn học được xem như hình thức lưu
giữ các giá trị tinh thần cũng như truyền thống dân tộc đồng thời luôn có một lượng
độc giả lớn mạnh. Và khi Internet trở nên toàn cầu hóa, người ta có thể tìm thấy mọi
Sở hữu trí tuệ là một phạm trù có phạm vi nghiên cứu rộng, bao gồm nhiều đối
tượng được Nhà nước bảo hộ. Trong phạm vi nghiên cứu, do hạn chế về hiểu biết và
thời gian nghiên cứu nên sinh viên thực hiện chỉ nghiên cứu về những quy định của
pháp luật quốc tế và trong nước liên quan quyền tác giả. Đồng thời phân tích những
quy định đó dựa trên đối tượng là tác phẩm văn học trên Internet. Từ đó đưa ra những
ý kiến đánh giá và những đề xuất theo quan điểm cá nhân.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình làm luận văn, người viết đã sử dụng các phương pháp tổng hợp
từ các tạp chí, sách báo cũng như những tài liệu nghiên cứu khác trên Internet… Đồng
thời áp dụng phương pháp phân tích để tiến hành phân tích các nguồn tài liệu trên.
Bên cạnh đó tiến hành so sánh các tài liệu, so sánh pháp luật giữa các nước cũng như
pháp luật giữa các lĩnh vực. Các biện pháp trên được áp dụng nhằm đánh giá khái
quát tình trạng bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet, đồng thời
đưa ra những biện pháp nhằm khắc phục, hạn chế những vi phạm trong bảo vệ quyền
tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet.
5. Bố cục đề tài
Gồm 3 phần:
Phần 1: Phần mở đầu
Phần 2: Phần nội dung
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
2
SVTH: Đào Thị Thanh Tâm - 5075141
Luận văn: Internet và vấn đề bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học
Chương 1: Nhận thức chung về quyền tác giả đối với tác phẩm văn học và
Internet
của mình. Với niềm tin những ai trộm nội dung quyền sách đó thì lời nguyền sẽ ứng
với người đó. Ví dụ: vào thế kỉ thứ XIII, tại Đức, trong cuốn Sachsenspiegel, tác giả
Eike von Repgow đã đặt một lời nguyền đối với những ai ăn cắp nội dung trong cuốn
sách của ông ấy, người đó sẽ bị bệnh hủi.1 Đồng thời tại Ai Cập cổ đại, nơi được xem
là cội nguồn của những cuốn sách cũng chưa có những khái niệm về quyền tác giả.
Những tác giả khi đưa tác phẩm ra ngoài chỉ ghi tên vị thần, hay vị Pharaon xem như
việc nguyền rủa đối với những ai ăn cắp nội dung cuốn sách đó. Tới Hy Lạp cổ đại và
La Mã cổ đại, lần đầu tiên khái niệm “xuất bản” xuất hiện trong đó thể hiện qua việc
tác giả của chính tác phẩm giám sát việc sao chép tác phẩm của mình ra nhiều bản
nhằm phục vụ được nhiều độc giả và đây được xem như một hình thức kiếm sống của
nhà văn. Vì vậy hành vi đạo văn mà không được sự giám sát của tác giả bị xem là làm
ô nhục danh dự và nếu nặng có thể bị đuổi ra khỏi cộng đồng, nhóm người đang sinh
sống nơi đó.
1
Minh Hương, Quỳnh Chi, Kiên Nhung, Phạm Chung, Quốc Bảo, Cuộc chiến bản quyền, Hồ sơ Sự kiện
chuyên san Tạp chí Cộng sản, số 129 ngày 28/8/2010, tr4
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
4
SVTH: Đào Thị Thanh Tâm - 5075141
Luận văn: Internet và vấn đề bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học
Đến năm 1436, Johannes Gutenbergh phát minh ra kỹ thuật in bằng chữ kim
loại khiến việc in ấn trở nên dễ dàng hơn. Vào năm 1440, máy in kim loại ra đời, việc
in ấn tác phẩm trở nên rộng rãi, nhưng hầu hết các tác giả cũng chưa được quyền
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
5
SVTH: Đào Thị Thanh Tâm - 5075141
Luận văn: Internet và vấn đề bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học
trường đại học và thư viện2. Từ đó cũng bắt đầu hình thành những quy định pháp luật
đầu tiên về quyền tác giả trong pháp luật của các nước phương Tây. Tại Mỹ năm 1795
đã áp dụng biện pháp như các tác phẩm đều được ghi vào danh mục của Hiệp hội các
nhà xuất bản, và phải ghi thêm ghi chú Copyright để được bảo vệ. Đến năm 1791,
1793, Pháp cũng đề ra đạo luật về sở hữu văn học nghệ thuật.3
Cơ sở quan trọng của bảo hộ quốc tế về quyền tác giả là Công ước Berne về
bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật. Tại thời điểm hình thành năm 1883, các quy
định cơ bản của Công ước tất yếu phải lệ thuộc vào các công nghệ nhân bản in thời
đó. Trên cơ sở tính đến các tiến bộ công nghệ trong lĩnh vực này, nhiều hội nghị sửa
đổi dẫn đến các bổ sung Công ước đã được tiến hành năm 1886, hoàn thiện tại Paris
năm 1896, chỉnh lý tại Berlin năm 1908, hoàn thiện tại Berne năm 1914, chỉnh lý tại
Rome năm 1928, tại Bỉ năm 1948, tại Stockholm năm 1967, tại Paris năm 1971, và bổ
sung năm 1979 tại Liên hiệp Berne. Có thể nói Công ước Berne, là tổ chức đầu tiên
của các nước Châu Âu, đồng hành với Công ước toàn cầu về quyền tác giả (UCC)
năm 1952 trên Tây bán cầu. Sau sự gia nhập của Hoa Kỳ vào Công ước Berne và sự
phê chuẩn Thỏa ước TRIPs, tạo thành một phần quan trọng của Công ước Berne,
Công ước toàn cầu Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí
tuệ (ECAP II) cung cấp về quyền tác giả trở nên tiếp tục có hiệu lực rộng rãi. Ảnh
hưởng của các công nghệ kỹ thuật số tới vấn đề bản quyền đã được ghi nhận trong
Hiệp định WIPO về quyền tác giả năm 19964.
Một vài quốc gia chỉ còn có một phạm vi tự do hạn hẹp trong việc định hình
thức, ngôn ngữ thể hiện và chất lượng của tác phẩm. Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005
bảo đảm thực hiện điều 3 của Hiệp định TRIPS và điều 3 của Công ước Berne. Theo
điều 13 của Luật Sở hữu trí tuệ công dân của nước thành viên Công ước Berne hoặc
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) sẽ được bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam.6.
Bên cạnh ban hành các văn bản pháp lý trên là các Nghị định 100/2006/NĐCP của Chính Phủ ngày 21 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền
liên quan đã hướng dẫn về quyền tác giả cũng như nêu ra những khái niệm cơ bản
nhằm đưa quyền tác giả tiếp cận đến người dân nói chung và giới tác giả nói riêng.
Luật sở hữu trí tuệ ra đời là bước ngoặt có vai trò quan trọng trong hệ thống
pháp lý nước ta. Góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo nền tảng cho Việt
Nam gia nhập WTO vào năm 2006. Luật Sở hữu trí tuệ là cơ sở pháp lý vững chắc
6
Trang Luật gia Phạm, Cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ, http://www.luatgiapham.com/tainguyen/7-so-huu-tri-tue/20-cam-ket-cua-viet-nam-trong-linh-vuc-so-huu-tri-tue.html
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
8
SVTH: Đào Thị Thanh Tâm - 5075141
Luận văn: Internet và vấn đề bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học
cho việc bảo hộ, bảo vệ những thành quả lao động sáng tạo của người dân nói chung
và của giới văn sĩ nói riêng. Đây coi như một cách thể hiện sự công nhận giá trị nhân
văn, giá trị kinh tế của Nhà nước một cách công bằng, hữu ích và kịp thời. Tuy nhiên,
tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng vẫn
còn nhiều bất cập, do những thay đổi của xã hội, sự phát triển vượt bậc của công nghệ
kỹ thuật số khiến cho những quy định trong luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả chưa
thật sự phù hợp. Đòi hỏi những quy định mang tính theo kịp sự phát triển của thế giới
9
SVTH: Đào Thị Thanh Tâm - 5075141
Luận văn: Internet và vấn đề bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học
1.2.1.2. Căn cứ phát sinh quyền tác giả:
Quyền tác giả phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo ra và được thể
hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng,
hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng kí hay chưa
đăng kí8
Có hiểu quyền tác giả phát sinh kể từ thời điểm những ý tưởng sáng tạo hình
thành trong tư duy bộ não con người được thể hiện dưới dạng hình thái vật chất nhất
định, không phụ thuộc vào bất kì thể thức nào, có thể được thể hiện trên giấy, trên gỗ,
trên tường, đá, băng, đĩa,…. Điều này chứng tỏ những ý tưởng chỉ hình thành trong
não mà chưa được thể hiện ra bằng vật chất nhất định sẽ không được nhà nước bảo
hộ. Quyền tác giả cũng không phụ thuộc vào việc công bố hay chưa công bố, bởi khi
ấy quyền nhân thân, quyền tài sản của tác giả đối với tác phẩm vẫn phát sinh kể từ
thời điểm sáng tạo ra tác phẩm và được thể hiện dưới dạng vật chất nhất định. Quyền
tác giả phát sinh không nhất thiết phải qua thủ tục đăng kí bảo hộ. Việc đăng kí bảo
hộ quyền tác giả không phải là căn cứ làm phát sinh quyền tác giả.
1.2.1.3. Nội dung quyền tác giả:
Nội dung quyền tác giả là tập hợp các quyền về nhân thân và tài sản của tác giả
tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả9
Quyền nhân thân là tập hợp các quyền nhằm bảo vệ các lợi ích về tinh thần của
tác giả. Những lợi ích đó được bảo đảm bằng việc được quyền đặt tên cho tác phẩm;
được quyền đứng tên thật hay bút danh trên tác phẩm, được nêu tên thật hoặc bút
danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; được quyền công bố hoặc cho phép người
khác công bố tác phẩm, ngoài ra còn được bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không
dụng, khai thác các giá trị kinh tế của tác phẩm. Khai tác những lợi ích kinh tế dựa
trên những quyền về sao chép tác phẩm; Hay quyền cho phép tạo tác phẩm phái sinh;
Hoặc được quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc và bản sao tác phẩm; Ngoài ra còn
được quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng; Hay cho thuê bản gốc hoặc bản sao
chương trình máy tính.
Các quyền tài sản trên do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực
hiện hoặc cho phép người khác thực hiện theo quy định của luật Sở hữu trí tuệ. Cá
nhân, tổ chức có thể sử dụng một, một số hay toàn bộ các quyền tài sản trên hoặc
muốn công bố tác phẩm phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật
chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả. Quyền tài sản là một bộ phận của quyền tác
giả nhằm bảo vệ lợi ích về mặt vật chất đối với tác giả. Một tác giả chỉ có thể sáng tạo
nghệ thuật, chỉ có thể tạo ra các tác phẩm có giá trị khi có tiền đề vững chắc về mặt
kinh tế. Tuy nhiên, quyền tài sản được trao cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả chỉ
có giới hạn thời gian, và quyền này có thể chuyển giao cho người khác một phần hoặc
toàn bộ.
Ngoài ra bên cạnh việc xét đến nội dung quyền tác giả ta còn cần phải xét đến
chủ thể và khách thể của quyền tác giả để hiểu hơn về quyền tác giả.
** Về mặt chủ thể: Chủ thề của quyền tác giả được giao cho hai đối tượng là tác giả
và chủ sở hữu quyền tác giả.
Tác giả
Mọi người đều biết việc tạo ra các tác phẩm văn học là cả một quá trình hoạt
động sáng tạo của cá nhân. Bởi vậy, tác giả các tác phẩm văn học phải là những con
người cụ thể và họ phải trực tiếp sử dụng khả năng sáng tạo của mình để tạo ra tác
phẩm. Theo điều 736 Bộ luật dân sự 2005 thì tác giả là người sáng tạo ra tác phẩm
văn học, nghệ thuật, khoa học.. Điều này cũng có nghĩa là pháp nhân hoặc các chủ thể
khác không thể là tác giả mà chỉ có thể là người nắm giữ các quyền của tác giả (chủ
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
11
Theo điều 36 luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009 thì chủ sở hữu
quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hay toàn bộ quyền tài sản của
quyền tác giả. Chủ sở hữu quyền tác giả có thể là tác giả, đồng tác giả hoặc là các tổ
chức giao nhiệm vụ hoặc kí kết hợp đồng với tác giả nhằm tạo ra tác phẩm với nội
dung nào đó. Chủ sở hữu quyền tác giả cũng có thể là người thừa kế, người được
chuyển giao quyền tác giả. Chủ sở hữu quyền tác giả là người trực tiếp hay không trực
tiếp sáng tạo ra tác phẩm đó.
10
Điều 736 Bộ luật Dân sự 2005, khoản 2
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
12
SVTH: Đào Thị Thanh Tâm - 5075141
Luận văn: Internet và vấn đề bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học
Đối với từng trường hợp thì chủ sở hữu quyền tác giả có những quyền về nhân
thân và tài sản nhất định.
* Chủ sở hữu quyền tác giả đồng thời là tác giả: Tác giả được thừa nhận đồng
thời là chủ sở hữu quyền tác giả trong trường hợp tác giả đã sử dụng thời gian, công
sức, tiền của, cơ sở vật chất để sáng tạo ra tác phẩm mà không thông qua một thỏa
thuận nào, hay kí hợp đồng với chủ thể khác nhằm tạo ra tác phẩm. Trường hợp này
thì chủ sở hữu quyền tác giả sẽ được hưởng toàn bộ quyền nhân thân và quyền tài sản
như tác giả11.
* Chủ sở hữu quyền tác giả là đồng tác giả: trường hợp nhiều người cùng bỏ ra
công sức, tiền của, cơ sở vật chất để tạo ra tác phẩm đồng thời sáng tạo tác phẩm
không thông qua hợp đồng, thỏa thuận thì được thừa nhận là những chủ sở hữu quyền
13
SVTH: Đào Thị Thanh Tâm - 5075141
Luận văn: Internet và vấn đề bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học
* Trường hợp chủ sở hữu quyền tác giả là người được chuyển giao quyền: Cá
nhân, tổ chức được các chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao một số, hoặc toàn bộ
quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm hay cho phép người khác công bố tác phẩm
thông qua thỏa thuận hợp đồng là chủ sở hữu các quyền được chuyển giao15.
* Nhà nước: Đối với tác phẩm khuyết danh, những tác phẩm mà trong thời
gian bảo hộ mà chủ sở hữu quyền tác giả hoặc tác giả chết, không còn người thừa kế,
người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không được quyền hưởng di sản hay tác phẩm
được chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao quyền sở hữu cho nhà nước thì nhà nước
là chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm đó16.
** Về mặt khách thể:
Đối tượng được bảo hộ bởi quyền tác giả chính là khách thể của quyền tác giả.
Trong trường hợp này khách thể của quyền tác giả chính là tác phẩm. Một tác phẩm
trở thành khách thể của quyền tác giả phải là tác phẩm gốc. Có nghĩa là tác phẩm
được hình thành trực tiếp từ thành quả lao động của tác giả, không phải là từ tác phẩm
sao chép từ tác phẩm đã có. Bởi những tác phẩm sao chép có thể bị xâm phạm về nội
dung, xu hướng trong tác phẩm… làm mất đi tính đặc trưng của tác giả trực tiếp sáng
tạo ra tác phẩm đó. Có thể nói nét riêng cũng như phong cách của từng tác giả được
thể hiện rõ ràng qua tác phẩm gốc của họ, chính vì vậy bảo hộ tác phẩm gốc chính là
bảo hộ nét riêng, phong cách sáng tạo riêng của tác giả.
Về nguyên tắc nhà nước bảo hộ tác phẩm không phân biệt nội dung hay hình
thức thể hiện cũng như ngôn ngữ thể hiện. Không có sự phân biệt về chất lượng, giá
trị sử dụng hay mục đích. Đây là điểm khác giữa bảo hộ quyền tác giả đối với tác
phẩm văn học với bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong sở hữu công nghiệp, bảo hộ đối
bởi không gian: Một tác phẩm có thể được bảo hộ ở nước này nhưng qua nước khác
do không đáp ứng được những yêu cầu mà pháp luật nước đó quy định nên không
được bảo hộ. Mặt khác quyền tác giả còn có thể bị giới hạn bởi phạm vi trong một
quốc gia. Có nghĩa là quyền tác giả chỉ có hiệu lực pháp luật trong quốc gia quy định
về quyền tác giả.
1.2.2. Nội dung quyền tác giả đối với tác phẩm văn học:
Để hiểu hơn về quyền của tác giả đối với tác phẩm văn học người viết đưa ra
những khái niệm cơ bản về tác phẩm văn học đồng thời phân loại các tác phẩm văn
học. Việc phân loại nhằm mục đích cho người đọc có cách nhìn tổng thể hơn về các
tác phẩm văn học trên Internet qua đó có thể hiểu hơn về nội dung những quyền của
tác giả đối với từng loại văn học trên Internet.
1.2.2.1. Khái niệm tác phẩm văn học:
Tác phẩm văn học bao gồm: tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, và các loại văn viết
khác bất kể nội dung là gì (hư cấu hay không hư cấu), độ dài, mục đích (giải trí, giáo
dục, thông tin, quảng cáo, truyền hình…), hình thức (viết tay, đánh máy, in, sách, tờ
rơi, báo, tạp chí), được xuất bản hay không xuất bản.17
Đặc trưng của tác phẩm văn học là cách thể hiện. Tác phẩm thuộc thể loại này
được thể hiện bằng chứ viết (viết tay hoặc đánh máy) hoặc ở dạng kí tự khác là kí tự
thay thế cho chữ viết: ví dụ như chữ nổi, kí tự tốc kí, các loại kí hiệu tương tự khác.
Tuy nhiên các loại kí hiệu khác này cũng phải có khả năng chuyển hóa thành chữ viết,
hoặc có thể hiểu và tiếp cận được, có thể sao chép được dưới các hình thức khác nhau.
1.2.2.2. Phân loại tác phẩm văn học:
Người viết phân loại theo cách thức hình thành tác phẩm và hiện trạng đối với
tác phẩm khi đưa lên Internet. Theo cách người viết phân loại thì hiện nay có hai dòng
17
Cẩm nang Sở hữu trí tuệ: chính sách, pháp luật và áp dụng, Tổ chức WIPO, 2001, tr 43
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
được bảo hộ suốt đời tác giả và năm mươi năm sau khi tác giả chết nếu trường hợp
đồng tác giả thì quyền này được bảo hộ tới năm mươi năm sau khi tác giả cuối cùng
chết19. Riêng quyền đặt tên cho tác phẩm, quyền đứng tên hay bút danh, được nêu tên
thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng, quyền được bảo bảo toàn tác
phẩm không bị cắt xén, sửa chữa tác phẩm… 20 thì được bảo hộ vô thời hạn.
18
Thể thao và Văn hóa, Chính độc giả khai sinh ra Văn học mạng, Đông Kinh
http://thethaovanhoa.vn/173N20090717041231563T133/chinh-doc-gia-khai-sinh-ra-tac-pham-van-hocmang.htm
19
Điêu 27 khoản 2 điểm b Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sđ bs 2009
20
Điều 27 khoản 1 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sđ bs 2009
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
16
SVTH: Đào Thị Thanh Tâm - 5075141
Luận văn: Internet và vấn đề bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học
Đối với tác giả tác phẩm văn học truyền thống được đưa lên Internet thì vấn đề
bảo vệ những tác phẩm văn học có thể dễ dàng xác định quyền cũng như dễ dàng xác
định chủ thể quyền tác giả. Chỉ cần tên một tác phẩm hay tên một tác giả của tác
phẩm được đưa lên Internet người đọc cũng như những người có quyền lợi liên quan
có thể xác định ngay tên tác giả và nhà xuất bản tác phẩm đó và liên hệ khi có hành vi
xâm phạm bản quyền xãy ra. Đối với tác phẩm văn học mạng để bảo vệ quyền nhân
thân của họ trở nên khó hơn do vấn đề những tác giả này thường nổi trên mạng–môi
trường ảo và họ thường không cung cấp thông tin chính xác. Ngoài ra những tác phẩm
SVTH: Đào Thị Thanh Tâm - 5075141
Luận văn: Internet và vấn đề bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học
1.3. Internet và bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet
1.3.1. Khái quát chung về Internet:
1.3.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển Internet:
* Trên thế giới:
Năm 1962, J.C.R Licklider cho ra đời ý tưởng đầu tiên về mạng kết nối các
máy tính với nhau. Tuy nhiên, phải đến năm 1969, mạng này mới được đưa vào hoạt
động và là tiền thân của Internet. Có thể nói tiền thân của Internet ngày nay là mạng
ARPANET. Cơ quan quản lý dự án nghiên cứu phát triển ARPA thuộc bộ quốc
phòng Mỹ liên kết 4 địa điểm đầu tiên vào tháng 7 năm 1969 bao gồm: Viện nghiên
cứu Stanford, Đại học California, Los Angeles, Đại học Utah và Đại học California,
Santa Barbara. Đó chính là mạng liên khu vực (Wide Area Network - WAN) đầu tiên
được xây dựng22. Đến năm 1982, bộ giao thức TCP/IP (Transmission Control
Protocol) được thành lập, đây được coi như một chuẩn mực đối với ngành quân sự
Mỹ và tát cả máy tính nối với ARPANET đều phải sử dụng chuẩn mới này. Giao thức
này giúp cho các máy có thể dễ dàng nối kết thông tin truyền thông với nhau và cũng
chính là giao thức chuẩn trên Internet. Năm 1983, ARPANET sử dụng bộ giao thức
TCP/IP, sau đó tổ chức Khoa học Quốc gia Mỹ ( National Scinece Founddation –
NSF) tài trợ xây dựng NSFNET thay thế cho ARPANET.
Thời kì bùng nổ của Internet là vào năm 1986 khi NSFNET liên kết hơn 60
(sáu mươi) trường đại học ở Mỹ và ba trường đại học ở Châu Âu. Điểm đặc biệt của
mạng NSFNET là cho phép mọi người cùng lúc sử dụng. Năm 1990, với tư cách là
một dự án, ARPANET dừng hoạt động nhưng mạng do NSF và ARPANET tạo ra đã
được sử dụng vào mục đích dân dụng, đó chính là tiền thân của mạng Internet ngày
nay. Một số hãng lớn bắt đầu tổ chức kinh doanh trên mạng. Đến lúc này đối tượng sử
dụng Internet chủ yếu là những nhà nghiên cứu và dịch vụ phổ biến nhất là E-mail
5/3/1997. Nhưng phải đến 19/11/1997, cánh cổng mở ra với thế giới mới chính thức
khai trương, sau tám tháng chuẩn bị. Cùng với việc mở cửa, Ban điều phối quốc gia
về Internet Việt Nam cũng được thành lập năm 1997 nhằm giúp Thủ tướng trong việc
chỉ đạo hoạt động phối hợp giữa các cơ quan hữu quan. Với Nghị định số
21/1997/NĐ-CP ra đời tạo lập cơ sở hành lang pháp lý tạm thời cho các hoạt động
Internet Việt Nam ở thời điểm hiện tại. Sau ba năm phát triển, mạng lưới hạ tầng
mạng đã kết nối đến 61/61 tỉnh thành trên toàn quốc, người dân đều có thể truy nhập
Internet qua mạng điện thoại công cộng tại địa phương. Trong thời kỳ này, các dịch
vụ cung cấp cho người tiêu dùng chủ yếu là dịch vụ kết nối Internet.
Cùng với sự phát triển không ngừng của Internet, Nghị định số 21/1997/NĐCP đã không còn phù hợp với yêu cầu phát triển mới, Nghị định 55/2001/NĐCP về
quản lý, cung cấp và khai thác sử dụng Internet đã được ban hành thay thế cho Nghị
định 21/1997/NĐ-CP. Đến năm 2000, Việt Nam có một nhà cung cấp dịch vụ truy
cập mạng, 5 nhà cung cấp dịch vụ Internet, 14 nhà cung cấp nội dung thông tin, 9
mạng dịch vụ Internet dùng riêng. Ba năm sau đó, cả nước có trên 85.000 người sử
dụng (tương đương 1 người dùng/1.000 dân) với khoảng 700.000 máy tính cá nhân (1
máy/100 dân) và cứ 10 PC thì có một máy kết nối Internet. Có các báo điện tử như
Báo Nhân Dân (cả phiên bản tiếng Việt và tiếng Anh), tạp chí Quê Hương, Vietnam
News, Thời báo kinh tế VN. Bắt đầu vào tháng 5/2003, dịch vụ truy nhập Internet tốc
độ cao ADSL được cung cấp và luôn trong tình trạng cung không đủ cầu. Cho đến
tháng 5/2005, hạ tầng kết nối Internet Việt Nam với quốc tế đã phát triển đa hướng.
Băng thông quốc tế đạt bình quân 0,95Kbps/thuê bao. Hướng đi quốc tế lên đến mười
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
19
SVTH: Đào Thị Thanh Tâm - 5075141
Luận văn: Internet và vấn đề bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học
hai hướng qua các tám vùng quốc gia có lưu lượng trao đổi Internet lớn gồm: Mỹ,
http://www.vnpt.com.vn/News/Tin_Tuc/ViewNews/tabid/85/newsid/13338/seo/Chang-duong-13-nam-phattrien-Internet-Viet-Nam/Default.aspx
25
Điều 3 khoản 1, Nghị định 97/2008/NĐ-CP quy định về quản lí, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông
tin điện tử trên Internet
24
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
20
SVTH: Đào Thị Thanh Tâm - 5075141
Luận văn: Internet và vấn đề bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học
quản lí. Không ai hay một thực thể cố định cũng như trung tâm mạng nào có quyền
điểu khiển. Mỗi mạng liên kết với nhau tạo ra mạng toàn cầu.
Về bản chất, Internet là công nghệ thông tin liên lạc mới, là một phương tiện
cần thiết như điện thoại hay tivi, nhưng ở một mức độ bao quát hơn nhiều. Chẳng hạn,
điện thoại chỉ cho phép bạn trao đổi thông tin qua âm thanh, giọng nói (bỏ qua công
nghệ 3G hiện nay). Với tivi thì thông tin bạn nhận được sẽ trực quan hơn. Còn
Internet lại hơi khác. Nó đưa bạn vào một thế giới có tầm nhìn rộng hơn và bạn có thể
làm mọi thứ: viết thư, đọc báo, xem bản tin, giải trí, tra cứu và thậm chí còn có thể
bàn công việc làm ăn hay trực tiếp mua bán.
Internet từ khi mới xuất hiện cho đến nay đã nhanh chóng trở thành công cụ
hữu ích trong việc trao đổi thông tin và liên lạc. Hằng ngày có hàng trăm thậm chí
hàng ngàn người gia nhập vào hệ thống mạng thông tin này. Các thông tin trao đổi
thông qua Internet cũng ngày càng nhiều và đa dạng: từ những thông tin đơn giản
hình thành trên những bài báo, trang điện tử, đến xem truyền hình trực tuyến, thậm
chí bạn có thể đọc được một quyền sách hay sáng tác và trao đổi với độc giả một cách
nhanh chóng và ít tốn kém nhất.