LUẬN văn LUẬT tư PHÁP bảo vệ môi TRƯỜNG tại KHU CÔNG NGHIỆP PHÁP LUẬT và THỰC TIỄN - Pdf 48

Luận văn tốt nghiệp: Bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp - Pháp luật và thực tiễn

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2007 – 2011
Đề tài:

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI KHU CÔNG NGHIỆPPHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN

Giáo viên hướng dẫn:
ThS. Kim Oanh Na

Sinh viên thực hiện:
Lê Hoàng Vẹn
MSSV: 5075236
Lớp: Luật Tư pháp 3 khóa 33

Cần Thơ
Tháng 4, 2011

GVHD: ThS. Kim Oanh Na

1

SVTH: Lê Hoàng Vẹn


Luận văn tốt nghiệp: Bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp - Pháp luật và thực tiễn

người viết chỉ tập trung vào nghiên cứu tình hình, thực trạng và những ảnh hưởng đến
môi trường từ các KCN. Đặc biệt là những quy định của pháp luật về bảo vệ môi
trường nước, không khí, vấn đề về rác thải và trách nhiệm của chủ đầu tư từ giai đoạn
chuẩn bị đầu tư xây dựng đến giai đoạn hoạt động của KCN, nhằm tìm ra những tồn

1

/>
GVHD: ThS. Kim Oanh Na

2

SVTH: Lê Hoàng Vẹn


Luận văn tốt nghiệp: Bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp - Pháp luật và thực tiễn

tại, vướng mắc trong quá trình áp dụng các quy định vào thực tế cũng như những
nguyên nhân dẫn đến hiện trạng môi trường như hiện nay. Từ đó đưa ra những phương
hướng hoàn thiện pháp luật và các biện pháp bảo vệ môi trường tại KCN.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên con đường phấn đấu để trở thành một nước công nghiệp, nước ta đã đẩy
mạnh phát triển trên mọi lĩnh vực, trong đó phải nói đến sự phát triển mạnh mẽ của các
KCN. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ đó thì hậu quả kéo theo đó là sự ô
nhiễm môi trường hiện đang rất nghiêm trọng và đe dọa đến sự phát triển bền vững
cũng như sức khỏe của người dân. Trong đó, các quy định của pháp luật là một công
cụ phục vụ đắc lực cho vấn đề này hiện cũng vẫn còn thiếu và vướng phải nhiều tồn tại
gây khó khăn cho công tác quản lí và áp dụng vào thực tiễn. Chính vì lẽ đó, người viết
nhận thấy cần phải đi sâu nghiên cứu về thực trạng môi trường, các quy định của pháp
luật về bảo vệ môi trường KCN, để tìm ra những phương hướng hoàn thiện pháp luật,

Chương này người viết chủ yếu tập trung giới thiệu về tình hình các KCN cũng
như là hiện trạng môi trường tại đây. Qua đó giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tình hình ô
nhiễm và những ảnh hưởng của nó đối với môi trường xung quanh. Đặc biệt là sự quan
tâm của Đảng, Nhà nước đối với vấn đề này, cụ thể là qua các Chính sách và văn bản
Pháp luật về bảo vệ môi trường đã được ban hành.
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm khu công nghiệp
Trên tiến trình đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp, Đảng và Nhà nước
đã đặt ra mục tiêu phải phát triển đồng bộ tất cả các ngành kinh tế. Tuy nhiên, trong đó
lĩnh vực sản xuất công nghiệp lại phát triển vượt bậc hơn hẳn các lĩnh vực khác, bằng
chứng là các ngành công nghiệp được hình thành khắp nơi. Do đó, để thuận tiện cho
việc quản lí cũng như bảo vệ môi trường nên Nhà nước đã có chủ trương thành lập các
KCN tập trung. Vậy KCN được hiểu như thế nào? Như các khái niệm khác, khái niệm
KCN cũng có nhiều cách hiểu và diễn đạt như:
KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất các sản phẩm công
nghiệp và thực hiện các dịch vụ phục vụ cho sản xuất công nghiệp. KCN có ranh giới
đất đai với khu dân cư, và cũng là nơi phát thải nhiều chất thải độc hại nhất cho môi
trường và cho cộng đồng. Có thể nói KCN là nơi tập trung các thiết bị công nghệ cao,
nhà quản lý có trình độ khoa học tiên tiến, và công nhân lành nghề2.
Hay KCN còn gọi là khu kỹ nghệ là khu vực dành cho phát triển công nghiệp
theo một quy hoạch cụ thể nào đó nhằm đảm bảo được sự hài hòa và cân bằng tương
đối giữa các mục tiêu kinh tế – xã hội – môi trường. KCN thường được Chính phủ cấp
phép đầu tư với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và pháp lý riêng3.
Về mặt pháp lý thì khái niệm KCN được ấn định trong hai văn bản đó là: Nghị
định 36/1997/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 1997 về ban hành quy chế khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng
3 năm 2008 quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế. Cụ thể như
sau: “Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp KCN chuyên sản xuất hàng
công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý
2

Quốc như: Lương Tử Dung, Vũ Trung Giang cho rằng: “Môi trường là hoàn cảnh sống
của sinh vật, kể cả con người, mà sinh vật và con người đó không thể tách riêng ra
khỏi điều kiện sống của nó”. Còn theo chương trình môi trường của UNEP định nghĩa
môi trường “Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế học,
tác động lên từng cá thể hay cả cộng đồng”4.
Còn theo Từ điển tiếng việt thì “Môi trường là toàn bộ nói chung những điều
kiện tự nhiên và xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong
mối quan hệ con người hay sinh vật ấy”5.
“Môi trường” là nơi chốn trong các nơi chốn, nhưng có thể là một nơi chốn
đáng chú ý, thể hiện các màu sắc xã hội của một thời kỳ hay một xã hội6.
“Môi trường” được hiểu là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do
con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của
mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu
cầu của con người7.
Ngoài ra, chúng ta có thể tìm thấy một số định nghĩa khác về môi trường ở
4

Nguyễn Kim Hồng, Giáo dục môi trường, nhà xuất bản giáo dục, năm 2001.

5
6
7

Từ điển tiếng việt, nhà xất bản Đà Nẵng, Hà nội – Đà Nẵng 2004, tr. 618.
Môi trường và tài nguyên Việt Nam, NXBKH&KT Hà Nội 1994.
Tuyên ngôn 1981 của UNECO.

GVHD: ThS. Kim Oanh Na

5

tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trong đó, diện tích sử dụng cho phát triển công
nghiệp có thể cho thuê theo quy hoạch đạt gần 40.000 ha, chiếm khoảng 65% diện tích
đất quy hoạch các KCN. Trong số 223 KCN hiện nay của cả nước, có 171 KCN đã đi
vào hoạt động, 52 KCN đang trong quá trình xây dựng hạ tầng kỹ thuật, chủ yếu là các
KCN mới thành lập trong những năm gần đây. Tính chung cho toàn bộ các KCN cả
nước thì tỷ lệ lấp đầy chỉ đạt 46% với 17.107 ha đất công nghiệp đã cho doanh
nghiệp thuê.
Tuy nhiên, quá trình phát triển KCN cũng nảy sinh một số vấn đề như sự gia
tăng về số lượng không tỷ lệ thuận với tỷ lệ lấp đầy KCN. Trong 3 năm gần đây, tỷ lệ
lấp đầy KCN giảm trung bình khoảng 4%/năm. Các KCN do Thủ tướng Chính phủ ra
quyết định thành lập có cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, thuận tiện nhưng tốc độ lấp
GVHD: ThS. Kim Oanh Na

6

SVTH: Lê Hoàng Vẹn


Luận văn tốt nghiệp: Bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp - Pháp luật và thực tiễn

đầy chậm, không thu hút được các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Còn các KCN do Uỷ ban
nhân dân quyết định thành lập và hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thì tốc độ lấp
đầy nhanh nhưng không thể thành lập nhiều do ngân sách địa phương hạn hẹp.
Về sự phân bố thì mặc dù đã được điều chỉnh theo hướng tạo điều kiện cho một
số địa bàn đặc biệt khó khăn ở Trung du miền núi phía bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ
nhằm phát triển công nghiệp để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, song các KCN vẫn tập
trung ở 23 tỉnh, thành phố thuộc 4 vùng KTTĐ là KTTĐ Bắc Bộ, KTTĐ miền Trung,
KTTĐ phía Nam và KTTĐ Đồng Bằng Sông Cửu Long. Đến cuối tháng 12/2008, với
167 KCN, tổng diện tích đất tự nhiên đạt 46.825 ha, Các KCN thuộc 4 vùng KTTĐ
chiếm tới 74,9% tổng số KCN và 81,8% tổng diện tích đất tự nhiên các KCN cả nước.



Luận văn tốt nghiệp: Bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp - Pháp luật và thực tiễn

Định hướng đến năm 2020, quản lý tốt và có quy hoạch sử dụng hợp lý diện
tích đất dự trữ cho xây dựng KCN. Hoàn thiện về cơ bản mạng lưới KCN trên toàn
lãnh thổ với tổng diện tích các KCN đạt khoảng 80.000 ha vào năm 2020. Quản lý,
chuyển đổi cơ cấu đầu tư phát triển các KCN đã được thành lập theo hướng đồng bộ
hóa.8
Tóm lại, việc hình thành các KCN đã tạo động lực lớn cho phát triển công
nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các địa phương, tạo công ăn việc
làm cho người lao động. KCN còn góp phần thúc đẩy sự hình thành khu đô thị
mới, các ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ. Tuy nhiên, đi đôi với sự phát
triển đó cần phải quan tâm đến vấn đề môi trường vì đây là một vấn đề rất quan
trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của đất nước nói chung và
kinh tế công nghiệp nói riêng và đặc biệt là sức khỏe con người.
1.2.2. Hiện trạng môi trường khu công nghiệp9
Với đặc thù là nơi tập trung các cơ sở công nghiệp thuộc các ngành nghề, lĩnh
vực khác nhau, nếu công tác bảo vệ môi trường không được đầu tư đúng mức thì chính
các KCN trở thành nguồn thải ra môi trường một lượng lớn các chất thải gây ô nhiễm
môi trường. Và hiện thực trong giai đoạn phát triển hiện nay, sự phát triển của KCN
đã làm cho môi trường xung quanh trở nên ô nhiễm nghiêm trọng.
- Ô nhiễm nước mặt do nước thải của các KCN
Cùng với nước thải sinh hoạt, nước thải từ các KCN đã góp phần làm cho tình
trạng ô nhiễm tại các sông, hồ, kênh, rạch, trở nên trầm trọng hơn. Những nơi tiếp
nhận nước thải của các KCN đã bị ô nhiễm nặng nề, nhiều nơi nguồn nước không thể
sử dụng được. Tình trạng ô nhiễm không chỉ dừng lại ở hạ lưu của các con sông mà
còn lan tới cả phần thượng lưu theo sự phát triển của các KCN. Kết quả quan trắc chất
lượng nước thải cả ba lưu vực sông Đồng Nai, Nhuệ - Đáy và Cầu đều cho thấy bên
cạnh nguyên nhân do tiếp nhận nước thải sinh hoạt từ các đô thị trong lưu vực, những

nặng, không đạt chất lượng mặt nước dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt. lượng NH3
(amoniac), chất rắn lơ lửng, ô nhiễm hữu cơ (đặc biệt là ô nhiễm dầu và vi sinh) tăng
cao tại hầu hết các rạch, cống và các điểm xả. Có khu vực, hàm lượng nồng độ NH3
trong nước vượt gấp 30 lần tiêu chuẩn cho phép (như cửa sông Thị Tính); hàm lượng
chì trong nước vượt tiêu chuẩn quy định nhiều lần; chất rắn lơ lửng vượt tiêu chuẩn từ
3 - 9 lần... tác nhân chủ yếu của tình trạng ô nhiễm này chính là do dọc lưu vực sông
Đồng Nai, các KCN, khu chế xuất đang hoạt động nhưng không có hệ thống xử lý
nước thải tập trung, đa số đều xả trực tiếp vào nguồn nước, gây tác động xấu đến chất
lượng nước của các nguồn tiếp nhận. Bình quân mỗi ngày, lưu vực sông phải tiếp nhận
khoảng 48.000m3 nước thải từ các cơ sở sản xuất này.
Tại lưu vực sông Cầu nguồn nước đã bị ô nhiễm nặng. Ô nhiễm cao nhất là
đoạn sông Cầu chảy qua địa phận thành phố Thái Nguyên, đặc biệt là tại các điểm thải
của nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, khu gang thép Thái Nguyên...chất lượng nước đã
bị suy giảm nặng do đều không có hệ thống xử lý nước thải.
Tại lưu vực sông Nhuệ - Đáy nước của trục sông chính đã bị ô nhiễm ở nhiều
mức độ khác nhau. Một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước mặt tại
đây là do nước thải từ các KCN và các khu sản xuất không qua xử lý xả thải thẳng ra
môi trường hòa với nước thải sinh hoạt.
- Ô nhiễm không khí do khí thải KCN
Hiện nay, nhiều cơ sở sản xuất trong các KCN đã lắp đặt hệ thống xử lý ô
nhiễm khí trước khi xả thải ra môi trường, mặt do diện tích xây dựng nhà xưởng tương
đối rộng, nằm trong KCN, phần nhiều tách biệt với khu dân cư nên tình trạng khiếu
kiện về gây ô nhiễm môi trường do khí thải tại các KCN chưa bức xúc như đối với vấn
đề nước thải và chất thải rắn.
Các khí thải ô nhiễm phát sinh từ các nhà máy, xí nghiệp chủ yếu do hai nguồn:
quá trình đốt nhiên liệu tạo năng lượng cho hoạt động sản xuất (nguồn điểm) và sự rò
GVHD: ThS. Kim Oanh Na

9


ra như hơi axit, hơi kiềm... nhìn chung những khí này nằm trong ngưỡng cho phép.
Mặc dù vậy cũng cần phải lưu ý đến việc kiểm soát các hơi khí độc trong khu vực
KCN cũng như môi trường xung quanh.
- Chất thải rắn tại các KCN
Hoạt động sản xuất tại các KCN đã phát sinh một lượng không nhỏ chất thải
rắn và chất thải nguy hại. Thành phần, khối lượng chất thải rắn phát sinh tại mỗi KCN
tùy thuộc vào loại hình công nghiệp đầu tư, quy mô đầu tư và công suất của các cơ sở
sản xuất công nghiệp trong KCN. Thành phần chất thải rắn không chỉ thay đổi theo
loại hình sản xuất mà còn thay đổi theo giai đoạn phát triển của KCN. Trong giai đoạn
xây dựng KCN chất thải rắn chủ yếu là phế thải xây dựng. Trong giai đoạn KCN đi
GVHD: ThS. Kim Oanh Na

10

SVTH: Lê Hoàng Vẹn


Luận văn tốt nghiệp: Bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp - Pháp luật và thực tiễn

vào hoạt động phế thải xây dựng phát sinh không nhiều và vẫn được thu gom lẫn với
chất thải công nghiệp.
Tổng lượng chất thải rắn trung bình của cả nước đã tăng từ 25.000 tấn/ngày
(năm 1999) lên khoảng 30.000 tấn/ ngày (năm 2005). Trong đó chất thải rắn từ hoạt
động công nghiệp cũng có xu hướng gia tăng, phần lớn tập trung tại các KCN ở vùng
KTTĐ Bắc bộ và vùng KTTĐ phía Nam. Trong những năm gần đây cùng với sự mở
rộng của các KCN, lượng chất thải rắn từ các KCN đã tăng đáng kể, trong đó, lượng
chất thải nguy hại gia tăng với mức khá cao. Theo số liệu tính toán, chất thải rắn phát
sinh từ các KCN phía Nam chiếm tỷ trọng lớn nhất so với các vùng khác trong toàn
quốc, lên tới gần 3000 tấn /ngày. Lượng chất thải nguy hại phát sinh ở vùng KTTĐ
phía Nam nhiều gấp 3 lần lượng chất thải nguy hại phát sinh ở vùng KTTĐ Bắc Bộ và


Luận văn tốt nghiệp: Bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp - Pháp luật và thực tiễn

chất như dầu mỡ, kim loại nặng, các loại hóa chất trong nước sẽ tác động đến động
thực vật thủy sinh và đi vào chuỗi thức ăn trong hệ thống sinh tồn của các loài sinh
vật, cuối cùng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
Như ở khu vực miền Bắc, các lưu vực sông Nhuệ - Đáy tập trung 19 KCN do
Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và hàng loạt các KCN địa phương. Lượng
nước thải từ các KCN này chiếm khoảng 35% lượng nước thải công nghiệp đổ vào
sông Nhuệ - Đáy. Đây là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm cho nguồn
tiếp nhận, làm cho hệ sinh thái cũng như sản lượng nuôi trồng thủy sản (đặc biệt là
nuôi cá bè trên sông) đã bị giảm sút rất nhiều. Một số nơi nước sông không thể tưới
tiêu cho sản xuất nông nghiệp.
Khu vực miền Trung thì KCN Quảng Phú, một KCN tương đối lớn của Quảng
Ngãi, được chính thức hoạt động từ đầu năm 2000 và đến nay đã thu hút trên 24 dự án
sản xuất lâm sản, thủy sản, phân bón…từ khi đi vào hoạt động đến nay KCN này chưa
có hệ thống xử lý nước thải tập trung, toàn bộ nước thải của các nhà máy trong KCN
đều xả trực tiếp ra sông Bầu Lăng. Trước đây người dân dùng nước sông cho sinh hoạt
và sản xuất nhưng bây giờ nguồn nước không thể sử dụng. Ngoài ra, các sông khác
cũng tương tự và nhiều lần cá trên sông bị chết hàng loạt và nguồn nước ở đây ô
nhiễm đến mức không thể tưới tiêu cho gần 200 ha ruộng lúa nơi đây.
Khu vực miền Nam thì lưu vực sông Đồng Nai là khu vực tập trung nhiều nhất
các KCN của cả nước. Các hoạt động sản xuất từ các KCN này đã thải vào môi trường
nước một lượng lớn nước thải với nồng độ chất ô nhiễm cao, gây ra hiện tượng các
đoạn sông chết. Đặc biệt, trên sông Thị Vải là một điển hình về ô nhiễm công nghiệp,
tác động trực tiếp đến hệ sinh thái trong nước sông, gây những tổn hại đáng kể tới hoạt
động sản xuất nông nghiệp và thủy sản. Điển hình là hậu quả do hoạt động xả nước
thải trái pháp luật kéo dài của Công ty cổ phần hữu hạn Vedan Việt Nam. Trong khu
vực này các loài tôm, cá, thủy sản hầu như không thể tồn tại và phát triển. Hệ sinh thái
ở khu vực này chỉ tồn tại một số loài động thực vật phù du. Theo ước tính ban đầu

gần KCN, bãi chôn lấp chất thải. Đây cũng là nguyên nhân gây ra các bệnh như: đau
mắt, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da… gây ảnh hưởng đến sức khỏe người dân.
Bên cạnh những tổn hại về sức khỏe thì người lao động và những người dân
sống gần các KCN còn phải tổn thất rất lớn về kinh tế cho khám chữa bệnh và các thiệt
hại về thu nhập do bị bệnh. Và các doanh nghiệp hàng năm còn phải chi một khoản
đáng kể cho phần trợ cấp bệnh nghề nghiệp. Làm phần nào ảnh hưởng đến sự phát
triển chung của nền kinh tế.
1.4. Sơ lược các chính sách và văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường khu công
nghiệp
Trong hóa trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiệm vụ bảo vệ môi
trường luôn được Đảng vả Nhà nước coi trọng. Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25 tháng 6
năm 1998, tiếp đến là Nghị quyết 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ
Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước, đã đưa ra những định hướng rất quan trọng, trong đó nhấn mạnh
các đô thị các KCN phải thực hiện tốt các phương án xử lý nước thải, ưu tiên xử lý
chất độc hại.
Quan điểm phát triển đất nước của Đảng ta cũng đã được khẳng định trong
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001- 2010 được thông qua tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng là “phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững,
tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi
10
Nam.

Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, Báo cáo môi trường quốc gia 2009: Môi trường khu công nghiệp Việt

GVHD: ThS. Kim Oanh Na

13

SVTH: Lê Hoàng Vẹn

Nghị định 21/2008/NĐ-CP về sửa đổi bô sung một số điều của Nghị định
80/2006/NĐ-CP và tiếp đến là Nghị định 29/2008/NĐ-CP về KCN, khu chế xuất, khu
và kinh tế đã quy định về BQL các KCN, khu chế xuất và khu kinh tế có nhiệm vụ và
quyền tổ chức thực hiện thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM đối với dự án đầu tư
thuộc thẩm quyền quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong KCN, khu kinh tế.
Thực tiễn đang đặt ra rất nhiều vấn đề cần điều chỉnh, cụ thể hơn trong các quy
định quản lý môi trường KCN. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư
08/2009/TT-BTNMT ngày 15 tháng 7 năm 2009 quy định quản lý và bảo vệ môi
trường Khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Ngoài ra
GVHD: ThS. Kim Oanh Na

14

SVTH: Lê Hoàng Vẹn


Luận văn tốt nghiệp: Bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp - Pháp luật và thực tiễn

còn một số văn bản khác như: Nghị định 117/2009/NĐ-CP quy định về xử lý vi
phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Nghị định 34/2005/NĐ-CP
ngày 17 tháng 3 năm 2005 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực tài nguyên nước; Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ về
quản lý chất thải rắn; Nghị định 174/2007/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 2007 của
Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn; Nghị định 88/2007/NĐCP ngày 28 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ về thoát nước đô thị và khu công
nghiệp; Nghị định 67 /2003/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ về
phí bảo vệ môi trường đối với nước thải; Nghị định 04 /2007/NĐ-CP ngày 08
tháng 01 năm 2007 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67
/2003/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ.
Tóm lại, trong chương này người viết đã giới thiệu khái quát được về việc
hình thành, phát triển cũng như xu hướng trong tương lai của các KCN. Đặc biệt,

và chỉ được đặc biệt quan tâm trong thời gian gần đây nhưng số lượng văn bản điều
chỉnh về lĩnh vực này nước ta đã có rất nhiều. Còn trong lĩnh vực công nghiệp do yêu
cầu quản lý môi trường trong điều kiện kinh tế xã hội phát triển nóng nên việc ban
hành quy chế pháp lý điều chỉnh vấn đề bảo vệ môi truờng còn hạn chế, chủ yếu là các
văn bản chỉ điều chỉnh riêng lẻ theo từng khía cạnh, chưa có văn bản điều chỉnh một
cách thống nhất vấn đề này.
Năm 2009, cùng với sự phát triển một cách ồ ạt của các KCN và đi kèm theo nó
là tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng to lớn đến sự
phát triển bền vững của nền kinh tế nói chung và lĩnh vực công nghiệp nói riêng cũng
như sức khỏe người dân. Trước tình hình đó, ngày 15 tháng 7 năm 2009 Bộ Tài
nguyên và Môi trường đã ra Thông tư 08/2009/TT-BTNMT về quản lý và bảo vệ môi
trường khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp và cụm công nghiệp. Sự ra
đời của Thông tư 08 đã góp phần rất lớn trong việc đưa công tác bảo vệ môi trường tại
các KCN được hiệu quả hơn. Và Thông tư này cũng được xem là một trong những văn
bản pháp lý chính điều chỉnh chi tiết về vấn đề bảo vệ môi trường KCN.
2.1. Quy định về bảo vệ môi trường trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư xây dựng khu
công nghiệp
2.1.1. Bảo vệ môi trường trong việc lập quy hoạch xây dựng khu công nghiệp
Theo quy định thì quy hoạch xây dựng KCN thuộc đối tượng phải lập báo cáo
đánh giá môi trường chiến lược (Điều 14 Luật bảo vệ môi trường 2005). Theo đây, thì
đánh giá môi trường chiến lược là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường
của dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển trước khi phê duyệt nhằm bảo
đảm phát triển bền vững (khoản 19 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2005). Ở đây, chủ
đầu tư sẽ lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược với đầy đủ nội dung, như: “Khái
GVHD: ThS. Kim Oanh Na

16

SVTH: Lê Hoàng Vẹn


đến môi trường do các loại chất thải công nghiệp. Để khắc phục những hậu quả tiêu
cực đó thì vấn đề môi trường cần được quan tâm hơn và cần phải được đề cập ngay từ
giai đoạn quy hoạch xây dựng KCN.
Theo quy định thì khi quy hoạch xây dựng phải: “Tuân thủ quy hoạch phát triển
tổng thể đã được phê duyệt; Quy hoạch, bố trí các khu chức năng, loại hình hoạt động
phải gắn với bảo vệ môi trường” (điểm a, b khoản 1 Điều 36 Luật bảo vệ môi trường
2005). Và căn cứ chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; quy hoạch sử
11

Điều 16 Luật bảo vệ môi trường 2005.

GVHD: ThS. Kim Oanh Na

17

SVTH: Lê Hoàng Vẹn


Luận văn tốt nghiệp: Bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp - Pháp luật và thực tiễn

dụng đất của cả nước và của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Bộ Kế hoạch
và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương có liên quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy
hoạch tổng thể phát triển KCN. Và quy hoạch tổng thể phát triển KCN đã được phê
duyệt là căn cứ để xem xét việc thành lập KCN, xây dựng quy hoạch, kế hoạch đầu tư
phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội phục vụ sự phát triển của
KCN.
Bên cạnh đó, quy hoạch xây dựng KCN phải phù hợp với quy hoạch phát triển
kinh tế - xã hội của vùng, quy hoạch sử dụng đất của các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương, hạn chế sử dụng đất canh tác nông nghiệp, không xâm phạm các khu bảo



Luận văn tốt nghiệp: Bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp - Pháp luật và thực tiễn

quả, nếu thật sự như vậy thì nước ta sẽ rơi vào tình trạng cái cũ mất đi nhưng cái mới
chưa hình thành, từ đó sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí đất, ảnh hưởng đến nền kinh tế
của đất nước. Đối với các khu bảo tồn thiên nhiên, các vườn quốc gia, nếu chúng ta
không tuân theo quy hoạch mà xâm phạm chúng thì có thể sẽ phá vở các hệ sinh thái
vốn rất quý giá mà chúng ta đã và đang ra sức giữ gìn.
Về vấn đề đất được phủ xanh trong KCN theo quy hoạch xây dựng phải bắt
buộc đảm bảo chiếm tối thiểu 15% tổng diện tích của KCN. Khi đảm bảo được diện
tích phủ xanh như trên mới có thể tạo được sự trong lành cũng như hạn chế phần nào ô
nhiễm môi trường trong KCN. Vì theo một số nghiên cứu cho thấy cây xanh có những
chức năng rất tốt đối với môi trường đặc biệt là môi trường KCN như là: điều chỉnh
nhiệt độ, làm giảm nhiệt độ không khí từ 3,3 độ c đến 3,9 độ c, khi diện tích cây xanh
đạt 20% đến 50% diện tích KCN; hiệu quả rất tốt trong che chắn gió; hạn chế tiếng ồn
và ô nhiễm không khí; giảm bức xạ mặt trời và phản chiếu của mặt trời; tăng vẽ mỹ
quan kiến trúc KCN12.
Đối với quy hoạch xây dựng KCN phát sinh nhiều nguồn khí thải và tiếng ồn
phải được bố trí ở cuối hướng gió và được cách ly với khu đô thị và các khu chức năng
yên tĩnh khác bằng các dải cây xanh có chiều rộng theo quy định. Các dự án phát sinh
nhiều nước thải phải được bố trí gần nhau và ở cuối nguồn nước của khu kinh tế để
nhằm hạn chế những ảnh hưởng của các chất thải mà các KCN này thải ra đối với môi
trường xung quanh.
Thực hiện tốt quy hoạch xây dựng là một trong những yếu tố giúp cho các KCN
được phát triển bền vững trong tương lai. Tuy nhiên, trong những năm qua chúng ta
mới chú trọng chủ yếu vào việc đẩy nhanh phát triển công nghiệp, chưa chú ý đúng
mức đến phát triển công nghiệp đồng thời gắn với bảo vệ môi trường đặc biệt là trong
quy hoạch xây dựng. Nhiều nơi chỉ biết chạy đua thu hút đầu tư nhằm hi vọng hưởng
lợi từ các dự án này mà không quan tâm đến việc lập quy hoạch xây dựng cụ thể cũng

tiện trong xây dựng, sửa chữa, vận hành, tiết kiệm sử dụng đất và phải tuân theo Quy
chuẩn xây dựng Việt Nam, đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường; phải bố trí địa điểm
tạm lưu giữ và trung chuyển chất thải rắn trong KCN; phải xác định rõ cơ sở tiếp nhận,
xử lý chất thải rắn thông thường và chất thải nguy hại của KCN; phải tách riêng hoàn
toàn hệ thống thoát nước thải với hệ thống thoát nước mưa. Mạng lưới thu gom nước
thải công nghiệp phải có vị trí, cốt hố ga phù hợp để đấu nối với điểm xả nước thải của
các doanh nghiệp trong KCN; KCN phải có nhà máy xử lý nước thải tập trung. Nhà
máy xử lý nước thải tập trung có thể chia thành nhiều đơn nguyên nhưng phải bảo đảm
tổng công suất đủ để xử lý toàn bộ lượng nước thải phát sinh đạt quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về môi trường khi các khu này được lấp đầy. Các nhà máy xử lý nước thải tập
trung phải thiết kế lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, liên tục đối với các thông số:
PH, DO, COD, TSS và một số thông số đặc trưng khác trong nước thải của KCN theo
yêu cầu nêu trong Quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường13.
Qua đây cho thấy, hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật KCN phải được thiết kế
đồng bộ, đồng thời, có thể hiểu là các hệ thống trên được thiết kế cùng một tốc độ,
cùng một thời gian, tạo ra một sự phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp với nhau để nhằm
thuận tiện trong xây dựng, sửa chữa, vận hành, tiết kiệm sử dụng đất. Và trong thiết kế
còn phải tuân thủ theo quy chuẩn về xây dựng của Việt Nam (Quy chuẩn xây dựng là
các quy định bắt buộc áp dụng trong hoạt động xây dựng do cơ quan quản lý Nhà nước
có thẩm quyền về xây dựng ban hành. Đó là các yêu cầu kỹ thuật tối thiểu bắt buộc
phải tuân thủ đối với mọi hoạt động xây dựng và các giải pháp, các tiêu chuẩn xây

13 Điều 6, Thông tư 08/2009/TT-BTNMT ngày 15 tháng 7 năm 2009 quy định về quản lý và bảo vệ môi trường
khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp và cụm công nghiệp.

GVHD: ThS. Kim Oanh Na

20

SVTH: Lê Hoàng Vẹn

các doanh nghiệp lấp đầy KCN. Các nhà máy xử lý nước thải tập trung phải thiết kế
lắp đặt hệ thống theo dõi tự động, liên tục đối với các thông số: PH (độ axit hay độ
chua trong nước), DO (oxy hòa tan), COD (là lượng oxy cần để oxy hóa toàn bộ các
chất hóa học trong nước), TSS (tổng chất rắn lơ lửng) và một số thông số đặc trưng
khác trong nước thải của KCN theo yêu cầu nêu trong quyết định phê duyệt báo cáo
ĐTM.
Thiết kế hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật KCN là một tiền đề giúp cho sự phát
triển bền vững của các KCN sau này. Tuy nhiên, việc tuân thủ thực hiện của chủ doanh
14

/>
GVHD: ThS. Kim Oanh Na

21

SVTH: Lê Hoàng Vẹn


Luận văn tốt nghiệp: Bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp - Pháp luật và thực tiễn

nghiệp vẫn còn hạn chế, nhiều KCN đã bỏ qua việc thiết kế cơ sở hạ tầng kỹ thuật bao
gồm cả hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung, xử lý rác thải, chất thải nguy
hại, có thiết kế thì thiết kế không đồng bộ, manh mún, chấp vá vẫn đến dẫn đến tình
trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng như hiện nay.
2.1.3. Trách nhiệm của chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu
công nghiệp
Trong giai đoạn này, trách nhiệm chính của chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh
kết cấu hạ tầng KCN là phải lập báo cáo ĐTM. Vậy ĐTM là gì? Đó là việc phân tích,
dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp
bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó15. Cụ thể trong dự án xây dựng kết cấu hạ

SVTH: Lê Hoàng Vẹn


Luận văn tốt nghiệp: Bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp - Pháp luật và thực tiễn

bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của
Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ
môi trường”.
Qua đây cho thấy, đây là một quy định có nhiều điểm tiến bộ, vì lập báo cáo
ĐTM là giải pháp bảo vệ môi trường mà chủ đầu tư tự đánh giá và đăng ký với cơ
quan chức năng, trước khi được cấp giấy phép đầu tư. Khi có ĐTM chủ đầu tư sẽ
phòng tránh những khiếu nại (nếu có). Ngoài ra, với hình thức quản lý, kiểm soát chặt
chẽ, báo cáo ĐTM sẽ là công cụ đắc lực cho việc quản lý môi trường và là sự ràng
buộc chặt chẽ doanh nghiệp về việc chấp hành Luật Bảo vệ môi trường phục vụ mục
tiêu phát triển bền vững của quốc gia.
Tuy nhiên, hiện nay báo cáo ĐTM chưa được cơ quan chức năng và doanh
nghiệp thực hiện đúng mục đích. Theo Điều 19 Luật Bảo vệ môi trường 2005, chủ dự
án có trách nhiệm lập báo cáo ĐTM trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Và báo cáo ĐTM phải được lập đồng thời với báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án.
Nhưng hiện có nhiều dự án quy trình này đang bị đảo ngược. Ví dụ như KCN Đình Vũ
hiện 100% số diện tích được lấp đầy thì ĐTM mới đang trong giai đoạn hoàn thiện.
Với cách làm như vậy, báo cáo ĐTM sẽ không thể giữ đúng vai trò của mình17.
Và báo cáo ĐTM được thực hiện nhằm phát hiện sớm và làm sáng tỏ các tác
động môi trường của dự án để cơ quan chức năng xem xét và cân nhắc trước khi ra
quyết định cấp phép. Nhưng hiện nay, tình trạng cơ sở sản xuất đi vào hoạt động,
nhưng chưa có báo ĐTM còn khá nhiều. Như trên địa bàn Hải Phòng vừa qua, trong số
13 cơ sở được thành tra có tới 4 cơ sở không có báo cáo ĐTM ngay từ khi được cấp
phép đầu tư, hoặc khi nâng công suất sản xuất nhưng không lập báo cáo ĐTM theo
quy định.
2.2. Quy định về bảo vệ môi trường trong giai đoạn triển khai thi công xây dựng

đoạn giải phóng mặt bằng: “Tổ chức, cá nhân thực hiện giải phóng mặt bằng và chuẩn
bị đất xây dựng có trách nhiệm thu gom và xử lý tất cả các chất thải rắn phát sinh theo
đúng quy định của pháp luật về quản lý chất thải rắn”. Theo quy định của pháp luật ở
đây có thể hiểu là theo Luật bảo vệ môi trường 200518 và Nghị định 59/2007/NĐ-CP
ngày 09 tháng 4 năm 2007 về quản lý chất thải rắn.
Với nội dung chủ yếu là phải thực hiện việc thu gom và phân loại chất thải tại
nguồn để phục vụ các mục đích tái chế, tái sử dụng, xử lý hoặc thải bỏ. Lưu giữ chất
thải đúng quy định trước khi xử lý, trong đó yêu cầu trước tiên đặt ra là phải tận dụng
ở mức độ cao nhất các chất thải có thể tái chế, tái sử dụng. Chất thải rắn phải được vận
chuyển theo nhóm đã được phân loại tại nguồn, trong thiết bị chuyên dụng phù hợp,
đảm bảo không rơi vãi, phát tán mùi trong quá trình vận chuyển. Ngoài ra, các cơ sở
tái chế, tiêu hủy, chôn lấp chất thải rắn phải đáp ứng các yêu cầu: Phù hợp với quy
hoạch về thu gom, tái chế, tiêu hủy, chôn lấp chất thải rắn đã được phê duyệt. Không
được đặt gần khu dân cư, các nguồn nước mặt, nơi có thể gây ô nhiễm nguồn nước
dưới đất và được thiết kế, xây dựng, vận hành đảm bảo xử lý triệt để, tiết kiệm, đạt
hiệu quả kinh tế tổng hợp, không gây ô nhiễm môi trường.
Bên cạnh đó, tất cả những tác động tới môi trường liên quan tới việc thi công
xây dựng KCN đều phải được dự báo đánh giá và phân tích. Trên cơ sở đó đề ra được
những biện pháp khả thi để loại trừ hoặc giảm thiểu những tác động xấu tới môi
trường có thể xảy ra. Toàn bộ nội dung này được xem như là sự cam kết của chủ dự án
trước cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường. Theo luật định, chủ dự án chỉ
được khởi công xây dựng sau khi báo cáo ĐTM được cấp quyết định phê chuẩn.
Trên thực tế, đa số tại các KCN đều chưa thật sự quan tâm đến việc bảo vệ môi
18 Điều 71,73,78,79 Luật bảo vệ môi trường 2005.

GVHD: ThS. Kim Oanh Na

24

SVTH: Lê Hoàng Vẹn

Chương trình quan trắc hiện trạng môi trường bao gồm các hoạt động sau đây:
Định kỳ lấy mẫu phân tích và dự báo diễn biến chất lượng đất, nước, không khí; Theo
dõi diễn biến số lượng, thành phần, trạng thái các nguồn tài nguyên thiên nhiên; Theo
dõi diễn biến chất lượng, số lượng, thành phần, trạng thái các hệ sinh thái, loài sinh
vật và nguồn gen.
Chương trình quan trắc tác động môi trường bao gồm các hoạt động sau đây:
Theo dõi số lượng, thực trạng, diễn biến các nguồn tác động xấu lên môi trường; Theo
19 Khoản 17, Điều 3, Luật bảo vệ môi trường 2005.
20 Điều 95, Luật bảo vệ môi trương 2005.

GVHD: ThS. Kim Oanh Na

25

SVTH: Lê Hoàng Vẹn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status