TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN TƯ PHÁP
˜&™
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ
THEO QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN :
Thạc sĩ NGUYỄN CHÂU QUÝ
SINH VIÊN THỰCHIỆN :
VÕ THỊ CHÚC LY
MSSV : 5992696
Cần Thơ -
1
M ỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu
Chương 1 : Lý luận chung về pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá
Mục 1: Lịch sử hình thành và phát triển của chế độ bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá
1. Lịch sử hình thành và phát triển của chế độ bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá trên thế giới
1. Tình hình chung
2. Các hình thức vi phạm cụ thể
Mục 4: Các cơ quan có thẩm quyền thực thi bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá
1. Cơ quan quản lý SHCN
2. Cơ quan Hải quan
3. Thanh tra
4. Quản lý thị trường
5. Cảnh sát kinh tế
6. Toà án nhân dân
Chương 3 : Một số ý kiến đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá
Mục 1 : Về phía cơ quan nhà nước :
Mục 2 : Về phía các doanh nghiệp :
Lời kết
Danh mục tài liệu tham khảo
2
LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay việc quan tâm của xã hội cũng như của các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp
đến việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp và thực thi pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp
(bao gồm sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi
xuất xứ hàng hoá,…) ngày một tăng lên. Đặc biệt lĩnh vực nhãn hiệu hàng hoá thu hút được
sự quan tâm rất lớn của các nhà doanh nghiệp, có thể nói việc xây dựng và phát triển nhãn
hiệu hàng hoá là tạo ra một hình tượng về doanh nghiệp, về sản phẩm của doanh nghiệp trong
tâm trí của người tiêu dùng. Sản phẩm có chất lượng kết hợp với một nhãn hiệu uy tín sẽ giúp
cho sản phẩm chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ, sản phẩm tiêu thụ nhanh, thu được lợi nhuận cao,
nâng cao uy tín của doanh nghiệp.
Trong những năm qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có nhiều biện pháp tích
cực để nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của các tổ chức, cá nhân
lập và thực thi bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá, thực tiễn bảo hộ quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hoá
cùng những khó khăn vướng mắc trong các công tác đó để từ đó góp một số ý kiến trong việc
tổ chức, thực thi pháp luật của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về bảo hộ nhãn hiệu
hàng hoá.
3
Hiện nay những công trình nghiên cứu về đề tài này đang được nhiều giới, nhiều ngành,
các nhà nghiên cứu luật học trong và ngoài nước thực hiện khá nhiều. Nhưng đây thực sự là
một vấn đề khá mới ở Việt Nam, bên cạnh đó vấn đề thực thi và biện pháp xử lý các hành vi
xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp về nhãn hiệu hàng hoá. Do đó cần có sự cập nhật và
nghiên cứu một cách nghiêm túc.
Thực hiện đề tài, người viết dựa trên cơ sở nghiên cứu các qui định của pháp luật hiện
hành về chế độ bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá kết hợp với việc tìm hiểu thực tiễn thực thi các qui
định trên, đồng thời tham khảo một số công trình nghiên cứu về vấn đề này; áp dụng linh hoạt
những phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích giữa lý luận và thực tiễn từ đó đánh giá và
đưa ra một số ý kiến đóng góp vào vấn đề hoàn thiện pháp luật về xác lập và thực thi bảo hộ
nhãn hiệu hàng hoá.
Do có sự hạn chế về năng lực, trình độ cũng như về không gian và thời gian, do đó
người viết không thể tránh khỏi những sai sót, hạn chế về phương pháp trình bày, phạm vi
nghiên cứu chưa sâu,…do đó người viết hy vọng nhận được sự đóng góp quý báu của thầy cô,
của các cán bộ chuyên môn trong lĩnh vực này để luận văn có thể hoàn thiện hơn, phong phú
hơn về nội dung.
Bố cục của luận văn chia làm ba chương, cụ thể :
Chương 1 : Lý luận chung về chế độ bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá
Chương 2 : Chế độ bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá theo qui định của pháp luật hiện hành
Chương 3 : Một số ý kiến đóng góp hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu
hàng hoá
Học
liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
các nhà
sản xuất
khác.
Đến thế kỷ thứ XI, thương mại phát triển nhanh chóng, ở các nước Tây Âu, tầng lớp
thương nhân xuất hiện và thuật ngữ “thương hiệu” được sử dụng phổ biến trong hoạt động
thương mại2. Sự thành công của cuộc cách mạng tư sản Anh (9/1642) đã mở đầu cho thời kỳ
phát triển của nền sản xuất hàng hoá trên nền đại công nghiệp. Hàng hoá được sản xuất ra
ngày càng phong phú và đa dạng về mẫu mã, chủng loại. Vì mục tiêu lợi nhuận và cạnh tranh
chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ sản phẩm, trên thị trường đã xuất hiện những hành vi cạnh tranh
không lành mạnh như bắt chước, sao chép nhãn hiệu của người khác đã và đang được sử dụng
phổ biến và có uy tín. Những vụ tố tụng thông thường đối với việc bắt chước nhãn hiệu bắt
đầu ở Anh vào khoảng năm 17503. Do chưa có một văn bản cụ thể nào qui định các biện
pháp, cách thức xử lý vi phạm trong lĩnh vực này mà vấn đề mà Toà án lúc đó cần phải phán
quyết đó là : quyền đối với nhãn hiệu bị tranh chấp hay bị vi phạm đó thuộc về ai ?. Trong các
trường hợp này, nguyên tắc thường được áp dụng là quyền thuộc về người đầu tiên sử dụng
nhãn hiệu hàng hoá. Để xác định ai là người sử dụng đầu tiên lại là một vấn đề khá rắc rối và
khó khăn. Do đó, sau một thời gian rút kinh nghiệm từ thực tiễn xét xử, các Toà án đã lập sổ
ghi nhận nhãn hiệu hàng hoá. Lúc đầu các sổ đó chỉ dùng để theo dõi các nhãn hiệu bị tranh
chấp đã xác định rõ ai chủ sở hữu với mục đích sẽ dùng nó làm chứng cứ pháp lý rõ ràng nhất
trong trường hợp chính nhãn hiệu đó lại bị xâm phạm. Nhưng về sau, những quyển sổ đó cũng
1
Phan Thị Chinh : Hệ thống bảo hộ sở hữu công nghiệp và hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp, Hội thảo đại
diện sở hữu công nghiệp trong thực thi quyền sở hữu công nghiệp , TPHCM, 1998
2
Đại học tổng hợp Hà Nội : Giáo trình lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới, Hà Nội,1993, tr113
3
Phan Thị Chinh : Hệ thống bảo hộ sở hữu công nghiệp và hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp, Hội thảo đại
nghiệp nói riêng. Sự khác nhau trong việc bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp của các
quốc gia có thể gây không ít khó khăn cho việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá mang tính quốc tế.
Vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ban đầu chỉ hạn hẹp trong phạm vi từng quốc gia
nhằm để giải quyết những vấn đề phát sinh trong lĩnh vực này và từng bước điều chỉnh thị
trường trong nước. Dần dần, quan hệ hợp tác giữa các quốc gia ngày càng mở rộng và do tính
chất dễ hoà nhập của nền kinh tế hàng hoá, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp không
thể chỉ dừng lại ở phạm vi quốc gia. Do đó, các quốc gia nhất là các quốc gia phát triển đã bắt
tay ngay vào soạn thảo các điều khoản cam kết ràng buộc lẫn nhau trong việc bảo hộ quyền
của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp và trong lĩnh
vực sở hữu trí tuệ nói chung.
Hiện nay trên thế giới đã có các điều ước quốc tế đã được ký kết, tiêu biểu trong lĩnh
vực bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá có các điều ước sau:
* Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày 20/3/1883
Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (sau gọi tắt là Công ước Paris)
được ký kết vào ngày 20/3/1883 tại Paris (đã được sửa đổi, bổ sung7 lần). Mục đích của Công
ước nhằm thiết lập một giới hạn về quyền hạn và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong
lĩnh vực bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên
gọi xuất xứ hàng hoá và cạnh tranh không lành mạnh.
Trong lĩnh vực bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá, Công ước Paris có một số qui định cơ bản
sau:
4
Pierre Cuonsin_Strasbuorg University: Hội thảo pháp luật về sở hữu trí tuệ, Hà Nội, 12/1997
6
Công ước Paris không qui định các điều kiện nộp đơn và thủ tục đăng ký nhãn hiệu
hàng hoá chung mà dành việc này cho các quốc gia thành viên. Công ước Paris qui định các
nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc đối xử quốc gia, xác định quyền ưu tiên cho đơn yêu cầu
nghiên
cứu
yêu cầu
này có
thể bịliệu
từ chối
trong
một số
trường
nhất
định,học
chẳngtập
hạn như
hiệu yêu
cầu được bảo hộ đó xâm phạm nhãn hiệu đã đăng ký của bên thứ ba; nhãn hiệu không có khả
năng phân biệt; nhãn hiệu trái với đạo đức hoặc trật tự công cộng của quốc gia tiếp nhận đơn;
nhãn hiệu chứa biểu tượng các quốc gia và các dấu hiệu chính thức mà không được phép.
Ngoài ra, Công ước còn qui định mỗi quốc gia thành viên phải từ chối đăng ký hoặc
cấm sử dụng các nhãn hiệu là bản sao chép, mô phỏng và dịch nghĩa có khả năng gây nhầm
lẫn với nhãn hiệu được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng. Thời hạn yêu cầu huỷ bỏ giấy đăng
ký nhãn hiệu đó không được ít hơn năm năm kể từ ngày nhãn hiệu vi phạm được đăng ký.
Tuy nhiên, nếu việc đăng ký hoặc sử dụng nhãn hiệu bị coi là xâm phạm đó với ý định xấu thì
chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ sẽ không bị hạn chế về thời hạn yêu cầu huỷ bỏ
đăng ký hoặc ngăn cấm hành vi vi phạm đó.
* Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá ngày 14/4/1891
Nhằm thiết lập một hệ thống nộp đơn quốc tế về nhãn hiệu hàng hoá, Thoả ước
Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá đã được ký kết ngày 14/4/1891 tại Madrid.
Thoả ước này ra đời nhằm giải quyết tình trạng khác nhau giữa các qui định của các quốc gia
về thủ tục đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá. Thoả ước được sửa đổi nhiều lần cho phù hợp
với tình hình phát triển và càng đi đến sự hài hoà giữa pháp luật các quốc gia thành viên mà
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã đưa ra các nguyên tắc đối với thương mại quốc tế
nhằm tâm
mục đích
mở liệu
rộng và
tự do
thương
mại @
trên Tài
nguyên
tắc có
đi có
lại và
có lợi. Hệ
Trung
Học
ĐH
Cần
Thơ
liệu
học
tập
vàcùng
nghiên
cứu
thống đó bao gồm cả các nguyên tắc về sở hữu trí tuệ.
Các mục tiêu tổng quát của các qui tắc về sở hữu trí tuệ trong Hiệp định nhằm giảm sự
lệch lạc và trở ngại trong quan hệ thương mại quốc tế giữa các quốc gia về vấn đề sở hữu trí
tuệ; thúc đẩy sự bảo hộ đầy đủ và có hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ; đảm bảo các biện pháp và
thủ tục thực thi quyền sở hữu trí tuệ không trở thành rào cản đối với các hoạt động thương
của mỗi quốc gia có những yêu cầu khá đa dạng và ít có điểm tương đồng đối với việc đăng
ký các loại nhãn hiệu này, vì vậy để tạo sự hài hoà về pháp luật của các quốc gia về lĩnh vực
này là vấn đề khá khó khăn.
Hiệp ước nêu rõ các danh mục thông tin mà cơ quan đăng ký nhãn hiệu được phép yêu
cầu người nộp đơn phải nộp đối với đơn yêu cầu đăng ký nhãn hiệu (theo điều 3, Hiệp ước),
đó là những thông tin về tên, địa chỉ của người nộp đơn và người đại diện; yêu cầu hưởng
quyền ưu tiên, mẫu nhãn hiệu,...). Ngoài những thông tin theo qui định đó, cơ quan có thẩm
quyền không được yêu cầu người nộp đơn phải cung cấp bất kỳ thông tin nào khác.
1.2. Lịch sử phát triển của pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá tại Việt Nam:
Là một quốc gia xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu và lâu đời lại có một
thời gian khá dài bị đô hộ bởi các thế lực phong kiến, tư sản và các thế lực thù địch khác,
pháp luật về sở hữu công nghiệp ở Việt Nam xuất hiện khá muộn, với lịch sử phát triển
khoảngtâm
70 năm.
Ngay
từ thời
nước@
ViệtTài
Namliệu
dân chủ
hoà,
dù vừa trải
Trung
Học
liệu
ĐHChính
CầnphủThơ
họccộng
tập
vàmặc
tố tích cực.
Khoảng thời gian 10 năm( 1976 - 1986), Nhà nước với cơ chế quản lý quan liêu bao
cấp đã không những không tạo được động lực thúc đẩy kinh tế-xã hội của đất nước phát triển
mà còn kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế vốn xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp lạc
hậu. Với mong muốn xây dựng một đất nước giàu mạnh, tránh nguy cơ bị tụt hậu xa về kinh
tế, tháng 12 năm 1986, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng đã ra chủ trương mạnh
dạn chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ quan liêu bao cấp sang nền hàng hoá nhiều thành phần có sự
quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Nền kinh tế Việt Nam bắt đầu bước vào thời
kỳ đổi mới: công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, từng bước chủ động hội nhập vào nền
kinh tế thế giới.
Trong những năm tiếp theo cho đến ngày Bộ luật dân sự Việt Nam được ban
hành vào năm 1995 (sau gọi tắt là BLDS 1995), các cơ quan có thẩm quyền cũng ban hành
thêm nhiều văn bản qui định hoặc có liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp,
tiêu biểu Nhà nước đã ban hành Điều lệ Giải pháp hữu ích (1988), Pháp lệnh bảo hộ quyền sở
hữu công nghiệp (năm 1989), Thông tư số 03/NCPL ngày 22/7/1989 của TANDTC hướng
dẫn xét xử các tranh chấp về SHCN. Lần đầu tiên khái niệm “sở hữu công nghiệp” được
chính thức sử dụng trong văn bản Nhà nước Việt Nam. Xét về khía cạnh bảo hộ NHHH, trong
khoảng thời gian từ có qui định của cấp Chính Phủ đầu tiên đến khi ban hành BLDS, hệ thống
bảo hộ NHHH được vận hành chủ yếu trên trên cơ sở Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp. Nội dung tóm tắt của Pháp lệnh:
Trung tâm
ĐHthừa
Cần
Thơ
họchữu
tậpích,vàkiểu
nghiên
cứu
- NhàHọc
nước liệu
BLDS 1995 đã công nhận quyền sở hữu công nghiệp là quyền dân sự như các quyền
sở hữu tài sản khác. Năm đối tượng sở hữu công nghiệp được BLDS bảo hộ là sáng chế, giải
pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp nhãn hiệu hàng hoá và tên gọi xuất xứ nhãn hiệu hàng
hoá. Tuy nhiên Bộ luật còn qui định một số đối tượng khác do pháp luật qui định nhưng
không nêu rõ đối tượng đó.
BLDS qui định xác lập quyền sở hữu công nghiệp theo văn bằng bảo hộ, quyền nộp
đơn cấp văn bằng bảo hộ, quyền ưu tiên, thời hạn bảo hộ, huỷ bỏ văn bằng bảo hộ, xác định
chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp; các hành vi bị coi là hành vi xâm phạm quyền
sở hữu công nghiệp; bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp,...
Đối với các chủ thể nước ngoài, BLDS khẳng định nguyên tắc quyền đối với các đối
tượng sở hữu công nghiệp của họ nếu được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp văn
bằng bảo hộ thì được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam
ký kết hoặc tham gia.
Sau khi ban hành BLDS 1995, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành một số văn bản
dưới luật để cụ thể hoá và hướng dẫn thi hành BLDS, cụ thể:
* Nghị định 63/1996/NĐ-CP ngày 24/10/1996 của Chính phủ qui định chi tiết về sở
hữu công nghiệp.
* Thông tư 3055/TT- SHCN ngày 31/10/1996 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi
trường hướng dẫn thi hành các qui định về thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp và một
số thủ tục khác trong Nghị định 63/CP
* Qui định số 308/ĐK của Cục Sở hữu công nghiệp ngày 11/6/1997 về hình thức và
nội dung các loại đơn về sở hữu công nghiệp.
Trung tâm
Học
ĐH Cần Thơ
@ Tài liệu
tập
vàmộtnghiên
cứu
- Theo pháp luật hình sự: người vi phạm quyền sở hữu công nghiệp về NHHH có thể
bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả (các điều 156, điều 157,
điều 168), về tội vi phạm các qui định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
(điều 170) được qui định trong Bộ luật hình sự năm 1999.
- Theo pháp luật dân sự: Căn cứ theo các qui định của BLDS năm 1995, Pháp lệnh thủ
tục giải quyết các vụ án dân sự ngày 29/11/1989, chủ nhãn hiệu bị xâm phạm có quyền khởi
kiện tại Toà dân sự yêu cầu người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và bồi thường thiệt hại.
Việc ban hành BLDS và các văn bản cụ thể hoá, hướng dẫn thi hành BLDS và các văn
bản khác có liên quan đánh dấu bước phát triển khá mạnh mẽ của quá trình hoàn thiện pháp
luật nước ta về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung,về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
nói riêng, tạo cơ sở pháp lý ngày càng hoàn chỉnh và đầy đủ cho việc xác lập và bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước. “Đến nay, hệ thống bảo hộ
sở hữu trí tuệ của nước ta gần như đã đạt được mục tiêu về tính ‘đầy đủ’. Hệ thống văn bản
pháp luật với các quy phạm cụ thể về cơ bản đã tương hợp với tập quán quốc tế, tạo cơ sở
pháp lý cần thiết để bảo hộ hầu hết các đối tượng sở hữu trí tuệ”6.
Bên cạnh việc pháp luật ngày càng hoàn thiện, những năm gần đây, việc quan tâm của
xã hội, của các cơ quan Nhà nước, các doanh nghiệp đối với các đối tượng sở hữu công
nghiệp nói chung và về nhãn hiệu hàng hoá nói riêng ngày càng nhiều hơn. Việc đăng ký xác
lập quyền đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của
Việt Nam ngày càng gia tăng. Theo số liệu của Cục Sở hữu công nghiệp7: số đơn đăng ký
sáng chế và NHHH cũng như số bằng sáng chế, giấy chứng nhận đăng ký NHHH đã cấp hàng
năm tăng lên liên tục. Nếu như năm 1995 có 56 bằng sáng chế được cấp thì năm 2001 là 783
bằng. Số đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp hàng năm là trên 1000 đến 1600 và số bằng độc
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
quyền kiểu dáng công nghiệp hàng năm chiếm khoảng vài trăm đến 1000 bằng. Đặc biệt, lĩnh
vực NHHH thu hút được sự quan tâm của rất lớn của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Trong 7 năm, từ 1995 đến 2001, Cục Sở hữu công nghiệp đã cấp trên 27.400 giấy chứng nhận
đăng ký NHHH. Riêng đối với các nhãn hiệu hàng hoá nước ngoài, ngoài số đơn đăng ký nộp
Thập niên 90 đã đánh dấu một bước ngoặt trong nhận thức về nhãn hiệu. Trong nhiều
thập niên trước đó, tài sản của doanh nghiệp được xác định bao gồm các tài sản như trụ sở,
đất đai, nhà xưởng và các tài sản hữu hình khác. Chỉ trong thời gian gần đây chúng ta mới có
sự thừa nhận một giá trị tài sản khác cũng khá quan trọng, đó là giá trị của nhãn hiệu hàng
hoá. Giá trị này có thể nói là đối tượng tiềm năng của những dòng chảy tài chính khổng lồ. Sự
nhận biết nhãn hiệu, hình ảnh sự tín nhiệm và uy tín của doanh nghiệp, tất cả những điều này
được doanh nghiệp dày công xây dựng trong nhiều năm là những đảm bảo tốt nhất cho việc
thu lợi nhuận sau này. Vì thế đã biện hộ cho việc một số công ty mua lại nhãn hiệu của công
ty khác với giá rất cao là một điều hợp lý. Nhãn hiệu là một tài sản, nhãn hiệu càng nổi tiếng
thì tài sản ấy càng lớn, đến mức hàng ngàn hàng triệu lần món hàng mà nó đặt tên10. Tuy
nhiên, giá trị đó của tài sản nhãn hiệu không hề được chứng minh một cách cụ thể thông qua
số liệu được ghi nhận trên bảng cân đối kế toán, sổ sách doanh nghiệp.
Khi tung sản phẩm ra thị trường, thậm chí trước khi sản phẩm ra đời, doanh nghiệp
chọn cho hàng hoá, dịch vụ đó một nhãn hiệu hay được xem là đặt cho chúng một cái tên.
Ngoài mục đích nhằm phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp với những sản phẩm cùng loại
của các doanh nghiệp khác, doanh nghiệp đó còn giao cho nhãn hiệu một trọng trách khá quan
trọng, đó là thu hút đại đa số khách hàng tiêu thụ sản phẩm mang nhãn hiệu đó của doanh
nghiệp và nâng cao uy tín, khả năng cạnh tranh cũng như những lợi ích khác mà doanh nghiệp
có thể đạt được. Phân tích về đặc trưng của nhãn hiệu, ta thấy NHHH có vai trò khá quan
trọng đối với doanh nghiệp và người tiêu dùng, cụ thể:
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.1. Đối với người tiêu dùng (sau gọi là khách hàng):
Có thể nói, NHHH có vai trò là cầu nối giữa hàng hoá, dịch vụ với khách hàng. Để
thực hiện nhiệm vụ và vai trò của mình, sau một thời gian xuất hiện trên thị trường, nhãn hiệu
phải đảm bảo có các yếu tố sau: Sự biết đến nhãn hiệu; Chất lượng thấy được của hàng hoá
mang nhãn hiệu; Những liên kết của sản phẩm với nhãn hiệu; Các yếu tố khác.
- Sự biết đến nhãn hiệu: Một nhãn hiệu được nhìn thấy một cách rõ ràng, lời quảng
cáo có ý nghĩa sẽ giúp cho khách hàng nhận biết được sản phẩm ưa thích một cách nhanh
chóng. Bên cạnh đó, một nhãn hiệu được nhiều người biết đến sẽ trở nên cần thiết khi khách
món hàng mới cùng với sự hỗ trợ đắc lực của quảng cáo sẽ tạo nên một ấn tượng ban đầu
trong đầu người tiêu dùng về hình ảnh nhãn hiệu, đây là một yếu tố thúc đẩy tiêu thụ sản
phẩm; nó tạo ra một hiện tượng tâm lý trong khách hàng do phản xạ liên kết một sản phẩm
với nhãn hiệu sản phẩm đó. Lúc đó người tiêu dùng sẽ có sự phân biệt và lựa chọn giữa hàng
hoá mà họ đã sử dụng và hàng hoá mới với những lời mời chào khá hấp dẫn và lôi cuốn hoặc
đúng thị hiếu tiêu dùng của đại đa số người tiêu dùng hiện nay. Nếu vẫn lựa chọn nhãn hiệu
đã dùng thì nhãn hiệu đã tạo cho khách hàng sự trung thành đối với nhãn hiệu đó. Liên kết
nhãn hiệu là bất cứ cái gì nối trí nhớ của khách hàng đến với nhãn hiệu một cách trực tiếp hay
gián tiếp. Có thể đưa ra một ví dụ, khi nói đến bột giặt tẩy thì ta sẽ nghĩ ngay đến OMO, nói
đến nước ngọt có gas thì người ta nghĩ ngay đến Coca Cola, . . .
Tóm lại, khi khách hàng
có được sự biết đến nhãn hiệu, thấy được chất lượng của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu,
có mối liên kết về nhãn hiệu đó khi có ý định mua hàng, NHHH có vai trò giúp khách hàng
hiểu và xử lý thông tin về sản phẩm, tin tưởng vào quyết định mua hàng hoá mang nhãn hiệu
đó của mình và thoả mãn khi dùng hàng hoá mang nhãn hiệu đó. Dần dần nếu việc sử dụng
hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu hàng hoá đó thường xuyên, nhãn hiệu hàng hoá sẽ tạo ra sự
Trung
tâm đối
Học
liệuhiệu
ĐHtrong
Cần
@tiêu
Tàidùng.
liệuNếuhọc
tậpsản
vàphẩm
nghiên
cứu
trung thành
Sự trung thành đối với nhãn hiệu của khách hàng sẽ giúp cho việc tiêu thụ, sử dụng
hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp tăng lên nhờ một phần việc khách hàng giúp cho doanh
nghiệp quảng bá, lôi kéo khách hàng khác sử dụng sản phẩm mà họ đang tin dùng. Nhất là ở
các khu vực doanh nghiệp có ít cơ hội để quảng bá sản phẩm lên các phương tiện thông tin đại
chúng thì vấn đề quảng bá bằng truyền miệng tỏ ra có hiệu quả khá cao. Bởi lẽ, khách hàng
mới sẽ có được sự tự tin khi sử dụng thử và quyết định lựa chọn sản phẩm mang NHHH được
quảng cáo vì có được sự đảm bảo, một từ sản phẩm mang NHHH với các chức năng đã phân
tích trên, một từ số đông khách hàng sử dụng sản phẩm mang NHHH có hiện nay.
Nhãn hiệu uy tín sẽ giúp cho doanh nghiệp: tăng giá bán, tăng khả năng mở rộng nhãn
hiệu trên thị trường trong và ngoài nước, tăng lợi thế cạnh tranh,…Một nhãn hiệu nổi tiếng,
có uy tín, hình ảnh của chất lượng vượt trội chứng minh cho việc chênh lệch giá giữa các
hàng hoá, dịch vụ là một điều hợp lý. Khi được nhiều người ưa thích và sử dụng rộng rãi hàng
hoá, dịch vụ mang NHHH đó, doanh nghiệp có thể mở thêm các đại lý, hàng hoá mang nhãn
hiệu được yêu thích có thể chiếm một khoảng không gian rộng rãi hơn trong kệ hàng,...
Nhãn hiệu là công cụ bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp: Sau khi đã đăng ký với Nhà
nước, Doanh nghiệp có quyền sử dụng, quảng bá và khai thác mọi lợi ích từ nhãn hiệu của
mình như sang nhượng, cho thuê, hùn vốn, cấp quyền sử dụng và được pháp luật bảo vệ
chống lại mọi sự xâm phạm như sao chép, bắt chước, sử dụng trái phép nhãn hiệu. Các hãng,
các công ty, các nhà sản xuất trong và ngoài nước có ý định làm ăn nghiêm túc, lâu dài đều
cách đăng ký nhãn hiệu hàng hoá và kiểu dáng công nghiệp để được bảo đảm rằng sản phẩm
của họ khi xuất hiện trên thị trường sẽ không một ai được bắt chước theo kiểu dáng hoặc
mang nhãn hiệu của họ cho sản phẩm khác cùng loại. Hoạt động này được các hãng, công ty
nước ngoài tiến hành nhiều hơn các tổ chức, cá nhân trong nước.
Trung tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nhãn hiệu hàng hoá là tài sản có giá trị đối với doanh nghiệp. Nhãn hiệu được coi là
một nguồn lực kinh tế vô hình. Tuy nhiên ở mức độ nào đó người ta đã định được giá trị hữu
hình của nó. Hãng Nokia trong năm 2002 đã đưa ra một con số giá trị nhãn hiệu: 30 tỷ đô la
còn nhãn hiệu nước giải khát hàng đầu thế giới Coca Cola mang về cho hãng này 69,6 tỷ đô
la,11…
2. Đặc điểm:
Căn cứ vào định nghĩa về NHHH, ta thấy chúng có những đặc điểm sau:
2.1 NHHH là những dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ cùng loại của
các cơ sở sản xuất, kinh doanh:
NHHH trước hết là những dấu hiệu được sử dụng nhằm phân biệt sản phẩm hàng hoá,
dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, giúp người mua nhận diện hàng hoá,
dịch vụ cần tìm trong số các hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh
khác. Những dấu hiệu này được sử dụng với mục đích chỉ rõ sự khác biệt về nguồn gốc xuất
xứ hàng hoá, dịch vụ đó, nguồn cung cấp hàng hoá, dịch vụ cùng với những đặc điểm, chất
lượng có thể. Ví dụ, cùng là một sản phẩm dầu gội đầu trị gàu nhưng sản phẩm mang nhãn
hiệu “CLEAR”
là của
côngĐH
ty Unilever-Việt
phẩm
“DEBON”
là do
công ty mỹ
Trung
tâm Học
liệu
Cần ThơNam
@ còn
Tàisảnliệu
học
tập và
nghiên
cứu
phẩm LG_Vina sản xuất.
NHHH có tính độc lập nhất định so với hàng hoá, dịch vụ mà nó đặt tên. Điều này thể
ngữ mà chủ nhãn hiệu đã sử dụng là từ ngữ đã được sử dụng rộng rãi. Ví dụ: SONY, BAY,
VEO, A&B. . . Tuy nhiên, đó phải là những từ ngữ phát âm được, dễ đọc và dễ nhớ. Việc phát
âm được không bắt buộc đối với toàn bộ nhãn hiệu mà nó có thể được hiểu là có thể phát âm
được theo từng ký tự. Những tên khó phát âm, khó nhớ, nhiều ký tự sẽ không phát huy được
hoặc sẽ làm suy giảm tuyên truyền, nhất là truyền miệng. Sau khi có thông tin về sản phẩm,
có thể bạn cũng muốn thưởng thức một loại nước ngọt có gas mới được tung ra thị trường với
tên là KIZT nhưng có lẽ bạn cũng hơi ngần ngại vì cũng sợ bị nhầm lẫn với cô gái trong
quảng cáo rằng bạn muốn “kiss”,…
NHHH là từ ngữ, nếu sử dụng tên riêng, biệt hiệu, tên địa danh thì việc sử dụng đó
không được trùng với tên riêng, tên địa danh, tên của tổ chức khác trừ trường hợp có sự đồng
ý của cơ quan, tổ chức, người có quyền. Trong trường hợp sử dụng tên riêng của mình hoặc
của người thứ ba để làm NHHH thì việc sử dụng đó sẽ được pháp luật về họ tên và pháp luật
về nhãn hiệu điều chỉnh. Theo qui định của pháp luật Việt Nam12, họ tên của một người là
quyền lợi về nhân thân của họ, được pháp luật bảo vệ, không thể chuyển nhượng được và
Trung
tâm bịHọc
liệubởiĐH
Thơ
@được
Tàisửliệu
tập hiệu,
và nghiên
cứu
cũng không
tiêu diệt
thờiCần
hiệu. Khi
họ tên
dụnghọc
làm nhãn
phẩm đó và có quyền sử dụng, khai thác chúng mà không cần có sự đồng ý của người được
thuê ( tác giả)14.
Nhãn hiệu hình ảnh có mối quan hệ chặt chẽ với nhãn hiệu từ ngữ. Theo đó, chủ sở
hữu nhãn hiệu hình ảnh có thể khiếu nại một người khác sử dụng từ định nghĩa của nhãn hiệu
mình làm nhãn hiệu cho họ và ngược lại, chủ nhãn hiệu từ ngữ cũng có quyền tương tự. Bởi
vì việc sử dụng như vậy có thể làm người tiêu dùng nhầm lẫn hai nhãn hiệu này. Điển hình
như trường hợp biểu tượng “Trâu Vàng” và logo “chim hạc”, biểu tượng linh vật của
SeaGame 22, là nhãn hiệu độc quyền khai thác của công ty cổ phần phát triển bóng đá Việt
Nam (VFD). Hiện nay biểu tượng Trâu Vàng đang bị một số cơ sở sản xuất kinh doanh, chủ
yếu ở Hà Nội sử dụng làm nhãn hiệu như “Karaoke Trâu Vàng” kèm theo hình ảnh trâu vàng
cầm micro hát15. Trong trường hợp này Công ty cổ phần phát triển bóng đá Việt Nam có thể
kiện các cơ sở sản xuất, kinh doanh đó do họ vi phạm điều 805, BLDS 1995.
* Nhãn hiệu kết hợp cả từ ngữ và hình ảnh: được tạo nên từ việc sử dụng và sắp
xếp hài hoà cả hai dấu hiệu từ ngữ và hình ảnh, đây là loại nhãn hiệu được sử dụng phổ biến
nhất do ưu điểm tạo khả năng phân biệt cao của chúng. Việc vận dụng hợp lý các dấu hiệu từ
ngữ và hình ảnh, tạo nên một tổng thể thống nhất đảm bảo cả hai yếu tố dễ nhìn và dễ đọc sẽ
có tác dụng giúp người tiêu dùng từ nhận ra chúng một cách nhanh chóng và tạo được sự quen
thuộc nếu được nhìn thấy, nghe thấy nhiều lần.
2.3 NHHH có tính đặc trưng phân biệt với các nhãn hiệu khác của các sản phẩm
cùng loại.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Tính đặc trưng có thể phân biệt của nhãn hiệu đối với các NHHH khác có thể có hay
không có phụ thuộc vào hai đặc điểm vừa phân tích ở phần trên. Để được bảo hộ, NHHH đó
phải đảm bảo các dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu không được trùng hoặc không tương tự tới
mức gây nhầm lẫn với các nhãn hiệu của các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự đồng thời phải
chỉ rõ ra được nguồn gốc xuất xứ của hàng hoá, dịch vụ, nguồn cung cấp hàng hoá dịch vụ mà
nó đặt tên.
Ở Việt Nam, những dấu hiệu chung không có khả năng phân biệt hoặc dấu hiệu dễ gây
ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu cho một chủ thể nào đó.
* Căn cứ vào sự trùng nhau hoặc tương tự nhau giữa các nhãn hiệu do cùng một chủ
thể đăng ký sử dụng, ta có nhãn hiệu liên kết và nhãn hiệu cá biệt. NHHH liên kết là các nhãn
hiệu hàng hoá tương tự nhau do cùng một chủ thể đăng ký để dùng cho các các sản phẩm,
dịch vụ cùng loại, tương tự với nhau hoặc có liên quan tới nhau, và các NHHH trùng nhau do
cùng một chủ thể đăng ký để dùng cho các sản phẩm, dịch vụ tương tự với nhau hoặc có liên
quan tới nhau17. Ví dụ: nhãn hiệu ESSANCE là nhãn hiệu liên kết được sử dụng cho các loại
mỹ phẩm chăm sóc da như: sữa rửa mặt, dung dịch làm mềm và mát da, kem dưỡng da, phấn
trang điểm; các nhãn hiệu Sunsilk bồ kết, Sunsilk Aloe Vera, Sunsilk Hoa Cúc, Sunsilk Nhân
Trung
tâm Học
CầnDầu
Thơ
@Thủ
TàiÔ liệu
và nghiên
Sâm, Sunsilk
Thảo liệu
Dược ĐH
và Sunsilk
Xả Hà
là cáchọc
nhãn tập
hiệu hàng
hoá tương cứu
tự
nhau do hãng Unilever-Việt Nam đăng ký dùng cho các sản phẩm dầu gội và dầu xả. Nhãn
hiệu cá biệt là nhãn hiệu được sử dụng cho hàng hoá, dịch vụ cụ thể. Mỗi loại có một nhãn
hiệu riêng, do đó một cơ sở sản xuất, kinh doanh nhiều loại hàng hoá, dịch vụ khác nhau có
thể có nhiều nhãn hiệu cá biệt. Ví dụ: Clear, Omo, P/S, Sunlight,...là các nhãn hiệu cá biệt của
NHHH đó được sử dụng, về uy tín, danh tiếng của NH,...) thì vấn đề đăng ký NHHH nổi tiếng
hay không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chủ NH được công nhận là nổi tiếng đó.
Mục 2: Bảo hộ NHHH theo qui định của pháp luật Việt Nam hiện hành:
1. Căn cứ phát sinh vấn đề bảo hộ. Chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu NHHH:
1.1 Căn cứ phát sinh vấn đề bảo hộ:
Khác với quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp trong đó có đối tượng là NHHH
không chỉ phát sinh bằng sự kiện tạo ra đối tượng sở hữu công nghiệp trên thực tế mà (quyền
đó) còn phải được xác lập trên cơ sở văn bằng bảo hộ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
cấp theo các qui định đối với từng đối tượng sở hữu công nghiệp tương ứng. Như vậy để được
pháp luật bảo hộ quyền đối với nhãn hiệu, chủ thể có quyền theo luật định phải tuân theo trình
tự thủ tục hành chính là gởi Đơn yêu cầu bảo hộ, yêu cầu công nhận NHHH nổi tiếng và được
ghi nhận hay chấp nhận bằng hình thức cấp Văn bằng bảo hộ hay Quyết định công nhận, chấp
nhận bảo hộ NHHH đó từ phía cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Thời điểm xác lập quyền sở
hữu đối với NHHH được tính từ ngày cấp đến hết thời hạn ghi trong giấy chứng nhận đăng ký
nhãn hiệu hay Quyết định chấp nhận bảo hộ nhãn hiệu đăng ký quốc tế và công nhận NHHH
nổi tiếng. Ta có khái niệm:
Trung tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Văn bằng bảo hộ NHHH là Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày
cấp đến hết 10 năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ và có thể được gia hạn liên tiếp nhiều lần,
mỗi lần 10 năm (điểm đ,khoản2, điều 9, NĐ 63/CP).
Quyết định chấp nhận bảo hộ nhãn hiệu đăng ký quốc tế, Quyết định công nhận nhãn
hiệu nổi tiếng do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành là cơ sở xác nhận NHHH tương
ứng được Nhà nước bảo hộ và xác định phạm vi bảo hộ các đối tượng đó (điểm 3, khoản 6,
điều 1, NĐ 06/CP).
2.2. Chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu bảo hộ:
Theo điều 789, BLDS 1995 và điều 14, Nghị định 63/CP qui định: quyền nộp đơn yêu
cầu cấp Văn bằng bảo hộ NHHH thuộc về cá nhân, pháp nhân, người được những người có
quyền nộp đơn chuyển giao quyền, các chủ thể khác tiến hành hoạt động sản xuất, hoạt động
bản: thông báo chấp nhận đơn hợp lệ, các thiếu sót (nếu có) và thời hạn (2 tháng) cho người
nộp đơn sửa chữa, bổ sung các thiếu sót đó; hay thông báo từ chối chấp nhận đơn và nêu rõ lý
do từ chối. Trong thời hạn xét nghiệm hình thức, người nộp đơn có thể chủ động sửa đổi, bổ
sung các tài liệu trong đơn nhưng không được mở rộng phạm vi bảo hộ và không được làm
thay đổi
bản chất
đối tượng
trong
đơn. @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trung
tâm
Họccủaliệu
ĐH nêu
Cần
Thơ
Trong thời hạn 9 tháng kể từ ngày thông báo chấp nhận đơn hợp lệ, Cục SHCN sẽ tiến
hành xét nghiệm nội dung đơn. Trong thời gian này người nộp đơn vẫn có thể chủ động hoặc
theo yêu cầu của Cục SHCN sửa đổi, bổ sung các tài liệu trong đơn và phải nộp lệ phí theo
qui định20. Kết thúc thời hạn theo qui định, Cục SHCN ra văn bản thông báo đồng ý cấp GCN
đăng ký nhãn hiệu hay từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu với lý do kèm theo.
Nếu nhãn hiệu đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn bảo hộ và người nộp đơn đã đóng đủ lệ
phí theo qui định thì Cục SHCN ra Quyết định cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng
hoá và tiến hành công bố trên Công báo Sở hữu công nghiệp.
Đối với đối tượng là NHHH nổi tiếng: Hiện nay pháp luật Việt Nam chưa có văn
bản qui định cụ thể trình tự, thủ tục xác lập quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá nối tiếng. Tuy
nhiên, căn cứ vào khoản 8 và khoản 11 điều 1 Nghị định 06/CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị định 63/CP, ta có thể suy luận rằng trình tự, thủ tục tiến hành công nhận nhãn hiệu
hàng hoá nổi tiếng rất đơn giản mà không theo trình tự thủ tục như đối với đơn đăng ký
NHHH và các đối tượng sở hữu công nghiệp khác. Pháp luật qui định Đơn yêu cầu cấp Văn
19
3.1. Quyền độc quyền sử dụng nhãn hiệu:
Độc quyền sử dụng NHHH có nghĩa là chủ NHHH có toàn quyền sử dụng NHHH của
mình trong hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với các qui định của pháp luật. Việc sử
dụng này bao gồm hành vi gắn nhãn hiệu trực tiếp lên hàng hoá hoặc các hình thức khác như
dán, đính,
lên hàng
hoặcCần
bao bìThơ
chứa đựng
hàngliệu
hoá; tiếp
và quảng
bá nhãn hiệu
Trung
tâmcàiHọc
liệuhoáĐH
@ Tài
họcthịtập
và nghiên
cứu
trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên các giấy tờ giao dịch, trên các áp phích quảng
cáo,...
Mặt khác, quyền độc quyền sử dụng nhãn hiệu còn thể hiện ở quyền của chủ nhãn hiệu
không cho phép bất kỳ cá nhân, tổ chức nào khác tiến hành các hoạt động có liên quan đến
việc sử dụng NHHH của mình đã được bảo hộ vào mục đích thương mại như: sản xuất, đưa
vào lưu thông, quảng bá nhằm giới thiệu sản phẩm, bán sản phẩm cùng loại mang nhãn hiệu
có dấu hiệu trùng hoặc tương tự nhãn hiệu mà chủ nhãn hiệu đã đăng ký.
Theo qui định của pháp luật Việt Nam, nếu NHHH được công nhận là NHHH nổi
tiếng thì quyền độc quyền sử dụng nhãn hiệu của chủ nhãn hiệu nổi tiếng đó còn được mở
rộng hơn. Quyền này thể hiện qua việc chủ nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng còn có quyền không
Hợp đồng li-xăng có thể có nhiều hình thức: nó có thể chỉ giới hạn trong một phạm vi
không gian, thời gian hay giới hạn trong một số mặt hàng nhất định; li-xăng có thể là li-xăng
độc quyền hay li-xăng không độc quyền. Li-xăng độc quyền (theo điều 821,BLDS) là li-xăng
theo đó bên được chuyển giao có toàn quyền sử dụng nhãn hiệu trong giới hạn đã qui định
trong hợp đồng, còn bên chuyển giao cam kết không độc lập khai thác đối tượng đó và không
được chuyển
giao li-xăng
tự cho Thơ
người thứ
Đâyliệu
là hình
thứctập
sử dụng
biến nhất
Trung
tâm Học
liệu tương
ĐH Cần
@ba.
Tài
học
và phổ
nghiên
cứu
do tính chất độc quyền phân phối sản phẩm, thực hiện dịch vụ trong một phạm vi nhất định
của bên được chuyển giao. Li-xăng không độc quyền (theo điều 822, BLDS) là li-xăng theo
đó bên được chuyển giao được quyền sử dụng nhãn hiệu theo những điều kiện được ghi trong
hợp đồng li-xăng, bên chuyển giao vẫn có quyền sử dụng đồng thời có quyền chuyển giao
nhãn hiệu đó cho bên thứ ba cũng với những điều kiện tương tự.
Về hình thức, hợp đồng li-xăng nhãn hiệu phải được lập thành văn bản và phải được
chuyển giao nhãn hiệu liên kết chỉ được thực hiện đồng thời với tất cả các nhãn hiệu liên kết.
Ngoài ra, việc chuyển giao quyền sở hữu nhãn hiệu còn được thực hiện thông qua hợp
đồng tặng, cho, thừa kế nhãn hiệu.
3.3. Quyền của chủ nhãn hiệu yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bảo vệ
mình khi có tranh chấp:
Trong trường hợp quyền sở hữu nhãn hiệu bị xâm phạm, chủ sở hữu nhãn hiệu có
quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm phải chấm
dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại (điều 796, BLDS). Theo như qui định trên thì
chính chủ sở hữu nhãn hiệu đã đăng ký mới có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền xử lý hành vi xâm phạm nhãn hiệu theo thủ tục hành chính hay khởi kiện tại Tòa.
Nhưng trên thực tế, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người sử dụng hợp pháp
nhãn hiệu thì ta có thể suy đoán hợp lý rằng quyền yêu cầu trên cũng có thể do người sử dụng
hợp pháp nhãn hiệu bị xâm phạm tiến hành thay vì phải chờ đợi việc làm này của chủ sở hữu
nhãn hiệu đó.
3.4. Hiệu
của Văn
hộ, Quyết
địnhliệu
cônghọc
nhận tập
NHHH
tiếng. Vấn
Trung tâm
Họclựcliệu
ĐHbằng
CầnbảoThơ
@ Tài
vànổi
nghiên
cứu
sửa đổi.
c. Đình chỉ, huỷ bỏ Văn bằng bảo hộ:
Văn bằng bảo hộ có thể bị đình chỉ hay bị huỷ bỏ nếu có đơn yêu cầu tương ứng của
người thứ ba và thuộc trong các trường hợp qui định tại điều 28, điều 29, Nghị định 63/CP.
4. Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu NHHH và biện pháp xử lý:
4.1. Các hành vi xâm phạm:
Căn cứ theo qui định của pháp luật Việt Nam hiện hành, cụ thể là tại khoản 3 điều 34
Nghị định 63/CP, ta có thể phân loại hành vi xâm phạm NHHH thành các nhóm sau:
- Nhóm hành vi sử dụng NHHH được bảo hộ tại Việt Nam của người khác cho sản
phẩm do mình sản xuất, nhập khẩu, bán hoặc chào hàng các sản phẩm hàng hoá mang nhãn
hiệu được bảo hộ tại Việt Nam trên thị trường Việt Nam.
- Nhóm hành vi sử dụng NHHH tương tự tới mức gây nhầm lẫn với NHHH của người
Trung
tâmbảo
Học
liệu
Thơ
họctrêntập
cứu
khác được
hộ tại
ViệtĐH
NamCần
cho sản
phẩm@
do Tài
mình liệu
sản xuất,
cácvà