LUẬN văn LUẬT tư PHÁP bồi THUỜNG THIỆT hại đối với tài sản QUYỀN sở hữu TRÍ TUỆ lý LUẬN và THỰC TIỄN - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHOÁ 2007- 2011
ĐỀ TÀI:

BỒI THUỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI
TÀI SẢN- QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ.
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Giảng viên hướng dẫn:
Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
Bộ môn: Tư Pháp

Cần Thơ, Tháng 11/2010

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Mộng Chi
MSSV: 5075012
Lớp: Tư Pháp 1- K33


Bồi thường thiệt hại đối với tài sản- quyền sở hữu trí tuệ. Lý luận và thực tiễn.

NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền.

SVTH: Nguyễn Mộng Chi


Bồi thường thiệt hại đối với tài sản- quyền sở hữu trí tuệ. Lý luận và thực tiễn.

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................
........................................................................................................................................

SHCN: Sở hữu công nghiệp;
SHTT: Sở hữu trí tuệ;
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao;
TRIPS: Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ.
TTLN: Thông tư liên ngành;
TTLT: Thông tư liên tịch;
UBTP: Ủy ban thẩm phán;
VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền.

SVTH: Nguyễn Mộng Chi


Bồi thường thiệt hại đối với tài sản- quyền sở hữu trí tuệ. Lý luận và thực tiễn.

MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................. 1
2. Mục tiêu nghiên cứu .........................................................................................1
3. Phạm vi nghiên cứu .......................................................................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................2
5. Kết cấu đề tài .................................................................................................... 2

CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI THEO LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM VÀ LUẬT SỞ HỮU TRÍ
TUỆ.
1.1. Lịch sử hình thành chế định bồi thường thiệt hại....................................... 3
1.1.1. Trong luật La Mã …............................................................................... 3

2.2. Căn cứ xác định mức bồi thường do xâm phạm quyền sở hữu trí
tuệ............................................................................................................................... 40
2.2.1. Mức bồi thường đối với thiệt hại vật chất................................................43
2.2.2. Mức bồi thường đối với thiệt hại tinh thần..............................................47
2.2.3. Thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư................................................48
2.3. Pháp luật về trách nhiệm bồi thuờng thiệt hại đối với tài sản là quyền sở
hữu trí tuệ ở một số quốc gia.....................................................................................51
2.3.1. Hoa Kỳ.....................................................................................................51
2.3.2. Nhật bản...................................................................................................53
2.3.3. Tây Ban Nha............................................................................................53

CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN ÁP DỤNG CHẾ ĐỊNH BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI ĐỐI VỚI TÀI SẢN- QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ. NGUYÊN NHÂN,
GIẢI PHÁP VÀ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT.
3.1. Thực trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và thực tiễn áp dụng chế định
bồi thường thiệt hại đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ...................................56
3.1.1. Thực trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.............................................56
3.1.2. Thực tiễn áp dụng chế định BTTH để giải quyết tranh chấp đối với tài
sản - quyền sở hữu trí tuệ.............................................................................................63
3.2. Nguyên nhân và giải pháp.............................................................................68
3.2.1. Nguyên nhân............................................................................................68
3.2.2. Giải pháp..................................................................................................72
3.3. Ý kiến đề xuất.................................................................................................74
3.3.1. Hoàn thiện pháp luật và thực hiện các phương pháp về xác định giá trị tài
sản- quyền sở hữu trí tuệ..............................................................................................75
3.3.2. Hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại đối với tài sản- quyền
sở hữu trí tuệ................................................................................................................76
KẾT LUẬN.................................................................................................................79

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền.

đắn là rất cần thiết. Đó cũng chính là lý do người viết chọn đề tài.
2. Mục tiêu nghiên cứu.
Bồi thường thiệt hại đối với tài sản- quyền sở hữu trí tuệ khi có hành vi xâm
phạm xảy ra được xem như một nghĩa vụ. Một chủ thể khi thực hiện hành vi xâm
phạm gây thiệt hại thì có nghĩa vụ bồi thường cũng như chủ thể gánh chịu thiệt hại
thì có quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại. Đây là quyền chính đáng được pháp
luật thừa nhận và bảo vệ. Vấn đề đặt ra là khi nào phát sinh trách nhiệm bồi thường
thiệt hại, ai gánh chịu trách nhiệm bồi thường, ai sẽ được bồi thường, làm cách nào
để xác định được giá trị của tài sản quyền bị xâm phạm để yêu cầu bồi thường cũng

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền.

1

SVTH: Nguyễn Mộng Chi


Bồi thường thiệt hại đối với tài sản- quyền sở hữu trí tuệ. Lý luận và thực tiễn.
như những thiệt hại nào là thiệt hại được bồi thường và mức bồi thường là bao
nhêu? Đó chính là những gì mà người viết quan tâm khi nghiên cứu đề tài này.
3. Phạm vi nghiên cứu.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với tài sản quyền sở hữu trí tuệ bao gồm
bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và thiệt hại ngoài và hợp đồng. Trong đề tài
này, tác giả chỉ tập trung phân tích về phần bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối
với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ khi bị xâm phạm, vì trên thực tế trong giai đoạn
hiện nay thực trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ xảy ra rất phổ biến. Đồng thời,
trong quá trình nghiên cứu người viết cũng chỉ xoay quanh hai đối tượng là quyền
tác giả và quyền sở hữu công nghiệp là chủ yếu còn đối tượng giống cây trồng
người viết chỉ khái quát những gì chung nhất.
4. Phương pháp nghiên cứu.

phát triển với nhiều giai đoạn thể hiện bản chất khác nhau.
Giai đoạn thứ nhất, trong thời kỳ cổ đại, khi chính quyền còn chưa được tổ chức
một cách vững chắc thì các cá nhân, mỗi khi bị xâm phạm vào quyền và lợi ích của
mình được tự ý trả thù để trừng trị đối phương, hoặc bắt người có hành vi xâm phạm
làm nô lệ. Đây được gọi là chế độ tư nhân phục thù.
Giai đoạn thứ hai, người gây tổn hại có thể nộp một số tiền chuộc hay thục kim
cho nạn nhân. Chế độ này còn gọi là chế độ thục kim và nó trải qua hai giai đoạn
phát triển: Thứ nhất, khi chưa có sự can thiệp của pháp luật, các bên tự ý thỏa thuận
với nhau về tiền chuộc, đó là lỗi tự nguyện. Thứ hai, nhờ sự can thiệp của chính
quyền, các bên tranh chấp buộc phải giải quyết tranh chấp bằng cách trả cho nhau số
tiền chuộc lỗi theo ngạch giá do pháp luật quy định, đó là chế độ thục kim bắt buộc.
Tiền thục kim này có thể xem như vừa là một hình phạt, vừa có tính chất bồi thường
thiệt hại. Vào thời kỳ Luật 12 bảng, Cổ luật La Mã mới bắt đầu chuyển từ chế độ tự
ý thục kim sang thục kim bắt buộc. Ở thời kỳ này Luật 12 bảng đã ghi nhận quyền
khiếu nại bồi thường của người bị hại và xác lập trách nhiệm bồi thường thiệt hại
của những người vi phạm gây thiệt hại.
Giai đoạn thứ ba, chứng kiến sự phân biệt hai loại trách nhiệm dân sự và hình sự.
Chính quyền trước hết can thiệp trừng phạt những tội phạm chỉ liên quan đến trật tự
xã hội, không liên hệ đến cá nhân. Đây là sự can thiệp rất cần thiết. Sự can thiệp của
chính quyền dần dần được nới rộng đến các hành vi phạm pháp liên quan đến quyền
và lợi ích của các cá nhân như hành vi trộm cắp. Về phương diện hình sự cá nhân
mất hết quyền phục thù chỉ còn quyền xin bồi thường thệt hại về dân sự.
Tuy trong một số trường hợp, Luật La Mã đã tiến tới phân biệt hai trách nhiệm
hình sự và dân sự, nhưng nhà làm luật chưa quy định hẳn một nguyên tắc trách
nhiệm tổng quát, bắt buộc người gây thiệt hại phải bồi thường bất luận trong trường
hợp nào.

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền.

3

Pháp luật dân sự và pháp luật hình sự cũng chưa tách biệt nhau đó cũng chính là
đặc điểm của pháp luật thời Nguyễn. Vì những đặc điểm của pháp luật trong các
thời kỳ này. Cho nên, khi nghiên cứu pháp luật thời Lê (Quốc triều hình luật) và
pháp luật thời nhà Nguyễn (Hoàng Việt luật lệ), chúng ta nhận thấy các chế định về
trách nhiệm dân sự được quy định sơ sài và tản mạn. Các quy định này không phân
biệt rõ trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự2.

1

Bộ Tư Pháp- Viên nghiên cứu khoa hoc pháp lý Một số vấn đề về Pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV
đến thời Pháp thuộc, Nxb. Chính trị Quốc gia, 2008, tr. 7.
2
Bộ Tư Pháp- Viên nghiên cứu khoa hoc pháp lý Một số vấn đề về Pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV
đến thời Pháp thuộc, Nxb. Chính trị Quốc gia, 2008, tr. 170.

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền.

4

SVTH: Nguyễn Mộng Chi


Bồi thường thiệt hại đối với tài sản- quyền sở hữu trí tuệ. Lý luận và thực tiễn.
Trong cả hai bộ luật đều không đưa ra một khái niệm cụ thể nào về trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng và trong hợp đồng mà chỉ có thể suy đoán từ những điều
luật. Chẳng hạn, trong trường hợp đánh người gây thương tích quy định tại Điều 466
Quốc triều hình luật thì ngoài hình phạt kẻ đánh người còn phải bồi thường thiệt hại
bằng tiền cho nạn nhân theo giá ngạch “... sưng, phù thì phải đền tiền thương tích ba
tiền; chảy máu thì một quan; gãy một ngón tay, một răng thì đền mười quan; đâm
chém bị thương thì đền mười lăm quan; đọa thai chưa thành hình đền ba mươi quan,

Bộ Tư Pháp- Viên nghiên cứu khoa hoc pháp lý Một số vấn đề về Pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV
đến thời Pháp thuộc,Nxb. Chính trị Quốc gia, 2008, tr. 181.

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền.

5

SVTH: Nguyễn Mộng Chi


Bồi thường thiệt hại đối với tài sản- quyền sở hữu trí tuệ. Lý luận và thực tiễn.
phẩm tòng tứ phẩm 5.000 quan; ngũ phẩm tòng ngũ phẩm 2.000 quan; lục phẩm
tòng lục phẩm 1.000 quan; thất phẩm tòng thất phẩm 500 quan; bát phẩm đến cửu
phẩm 300 quan, thứ nhân trở xuống 150 quan” hay ở Điều 391 Hoàng Việt luật lệ
quy định: Các tài sản ở kinh thành, hay tỉnh, các nơi công sảnh, thương khố, phòng
xá hư hại, cần sửa chữa thì các quan cai quản phải xin sửa sang. Nếu không sửa sang
làm hư hại đến tài sản đó thì bị phạt và phải bồi thường những vật bị hư hại.
Như vậy trong luật cổ Việt Nam chưa có sự phân biệt rõ rệt giữa trách nhiệm
dân sự và trách nhiệm hình sự. Tuy chỉ được coi là yếu tố cấu thành trong trách
nhiệm hình sự và chưa được coi là là một chế định riêng biệt về trách nhiệm dân sự
(tức là chỉ bắt người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại mà không trừng phạt về
hình sự) song hai bộ luật Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ cũng đã ý thức
được vai trò của bồi thường thiệt hại cũng vì thế mà trách nhiệm bồi thường thiệt hại
đã dần dần có xu hướng tách khỏi trách nhiệm hình sự. Mặc dù các quy định nêu
trên chỉ áp dụng trong một phạm vi giới hạn. Song điều này chứng tỏ khái niệm
trách nhiệm dân sự tuy chưa được quy định cụ thể nhưng không phải là xa lạ trong
luật cổ Việt Nam. Có thể nói những ý niệm này đã manh nha và cùng với sự phát
triển của hệ thống pháp luật dần dần được định thành với tư cách là một chế định
trách nhiệm
1.1.2.2. Thời Pháp thuộc đến trước Cách Mạng tháng Tám 1945.

những thiệt hại thực tế, tính được thành tiền6.
Còn đối với thiệt hại về tinh thần: Pháp luật bảo hộ quyền của người dân trong
việc khai sinh, khai tử, kết hôn. Luật cũng quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
về tinh thần trong trường hợp từ hôn. Chẳng hạn, Điều 71 Dân luật Bắc kỳ và
Hoàng Việt trung kỳ hộ luật quy định: Bên nào bỏ lời hứa về việc giả thú mà không
có duyên cớ chính đáng vì lỗi của bên ấy, thì phải chịu trách nhiệm bồi thường sự
tổn hại.
Nền tản cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về sau, đặc biệt là
trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì có thể nói những thành tựu của pháp luật thời
Lê, Nguyễn và thời Pháp thuộc có vi trò rất to lớn. Pháp luật ở mỗi thời kỳ đều có
những thành tựu và giá trị nhất định nhưng cũng không tránh khỏi những hạn chế.
Trong pháp luật thời Lê, Nguyễn hay Pháp thuộc cũng không ngoại lệ vì không ai
dự liệu được hết các quan hệ xã hội mới sẽ phát sinh. Chính những điểm còn hạn
chế đó tạo điều kiện để những quy định mới hợp lý hơn được pháp luật quy định
làm nên sự tiến bộ trong quá trình lập pháp và những quy định của pháp luật Việt
Nam trong các giai đoạn về sau đã phần nào nói lên điều đó.
1.1.2.3. Từ sau Cách Mạng tháng Tám 1945 đến nay.
Thời kỳ Pháp thuộc hai Bộ luật Dân sự Bắc kỳ và Hoàng Việt Trung kỳ là
công cụ để bọn thực dân cai trị xã hội, nhưng sau ngày Cách mạng tháng tám thành
công do nhiệm vụ cấp thiết nên Hiến pháp năm 1946 cùng các văn kiện của Đảng
cũng chưa đề cập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung cũng như trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bởi sau Cách mạng Tháng Tám đất nước
lao vào cuộc chiến chống cả đế quốc và thực dân. Mãi đến Hiến pháp năm 1959
khái niệm bồi thường thiệt hại được manh nha khi pháp luật quy định trách nhiệm
bồi thường thiệt hại của nhà nước (Điều 20 Hiến pháp 1959). Tuy vậy đây cũng có
thể xem như một bước tiến trong quá trình xây dựng chế định bồi thường thiệt hại
nói chung cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong khi đất
nước đang trong giai đoạn đấu tranh quyết liệt.
Năm 1972, thông tư hướng dẫn về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Thông
tư số 173/UBTP ngày 23/02/1972) được Tòa án tối cao ban hành khi đó việc giải

tiên ở Việt Nam mới ra đời nhưng khi đó các văn bản pháp luật về bảo hộ không
quy định chung về bảo hộ quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp như trong
Luật sở hữu trí tuệ hiện nay mà đó là các văn bản riêng lẻ.
Chẳng hạn như: Nghị định 31/CP ngày 31 tháng 1 năm 1981 của Hội đồng
Chính phủ ban hành Điều lệ về sáng chế cải tiến kỷ thuật hợp lý hóa sản xuất và
sáng chế, Pháp lệnh về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày 28 tháng 1 năm 1989
hay Nghị định số 142- HĐBT ngày 14 tháng 11 năm 1986 của Hội đồng bộ trưởng
quy định về quyền tác giả, Pháp lệnh về bảo hộ quyền tác giả ngày 02 tháng 12 năm
1994. Đối với quyền sở hữu công nghiệp các quy định về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại đối với người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp cũng như cơ
sở xác định thiệt hại có thể nói lần đầu tiên được manh nha ở các quy định tại Thông
tư số 03/NCLP ngày 22 tháng 7 năm 1989 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn
xét xử một số tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp.
Đến năm 1992 khi Hiến pháp lần thứ tư được ban hành, thì những giá trị tinh
thần của con người được trú trọng, quan tâm hơn. Ví dụ, Điều 71 Hiến pháp 1992.
“Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính
mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm...Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục
hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”. Hay tại Điều 72 Hiến pháp

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền.

8

SVTH: Nguyễn Mộng Chi


Bồi thường thiệt hại đối với tài sản- quyền sở hữu trí tuệ. Lý luận và thực tiễn.
1992 cũng có quy định “...Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật
có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự...”. Đặc biệt là
khi có người xâm phạm đến quyền lợi của mình người bị thiệt hại có quyền được

dân sự 2005. Hai bộ luật được đưa vào áp dụng trong thực tế với các văn bản hướng

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền.

9

SVTH: Nguyễn Mộng Chi


Bồi thường thiệt hại đối với tài sản- quyền sở hữu trí tuệ. Lý luận và thực tiễn.
dẫn thi hành (Nghị quyết 01/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành bộ luật dân sự
1995 và Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành Bộ luật dân sự 2005).
Cho đến khi các quy định về quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp được
quy định chung trong một luật riêng (Luật sở hữu trí tuệ năm 2005) các biện pháp
chế tài trong lĩnh vực này cũng được quy định cụ thể hơn (Điều 202 quy định về các
biện pháp dân sự xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ). Đặc biệt Luật sở
hữu trí tuệ đã có các quy định về nguyên tắc xác định thiệt hại (Điều 204), căn cứ
xác định mức bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền SHTT (Điều 205)
cũng như những quy định khá cụ thể trong các văn bản Nghị định 105/2006/NĐ-CP
ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật sở hữu trí tuệ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà
nước về sở hữu trí tuệ, Thông tư liên tịch 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTCBVHTT&DL-BKH&CN-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật
trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân góp
phần làm cho các quy định về trách nhiệm BTTH cũng như vấn đề bảo hộ đối với
tài sản trí tuệ trở nên đầy đủ hơn trước.
Tuy Bộ luật dân sự 2005 chưa có thể dự định được tất cả những quan hệ pháp
luật cần điều chỉnh trong quá trình xây dựng bộ luật này nhưng cho đến nay có thể
nói bộ luật dân sự 2005 là bộ luật có những quy định khá đầy đủ các chế định về
trách nhiệm dân sự cũng như trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.
Nói tóm lại, với những quy định về bồi thường thiệt hại trong dân sự nói

bồi thường,…
Sống trong xã hội mỗi người phải tôn trọng các quy tắc chung của xã hội, không
thể xâm phạm đến lợi ích của người khác chỉ vì quyền lợi của riêng mình. Khi một
người có hành vi vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây ra tổn hại cho người khác
thì phải gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất mà mình đã gây ra
và đó được hiểu là bồi thường thiệt hại hay nói cách khác bồi thường thiệt hại là
hình thức trách nhiệm dân sự nhằm ràng buộc bên có hành vi gây thiệt hại phải bù
đắp, đền bù những tổn thất về vật chất, tinh thần cho bên bị vi phạm7.
Đặc điểm.
Ngoài những đặc điểm của trách nhiệm pháp lý nói chung được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật, được bảo
đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước,… thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn
có những đặc điểm riêng của loại trách nhiệm này:
Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại là loại trách nhiệm dân sự và chịu sự
điều chỉnh của pháp luật dân sự. Một người sẻ phải gánh chịu trách nhiệm BTTH
khi có hành vi gây ra thiệt hại cho một chủ thể khác và bồi thường thiệt hại là một
quan hệ tài sản do Luật dân sự điều chỉnh, được quy định ở Điều 307 và Chương
XXI của BLDS 2005 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành bộ luật dân sự này.
Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ đặt ra khi thỏa mãn các điều kiện
phát sinh loại trách nhiệm này cụ thể là: có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi phạm
nghĩa vụ dân sự (gồm có nghĩa vụ trong hợp đồng và ngoài hợp đồng), có lỗi của
chủ thể gây thiệt hại và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt
hại xảy ra. Có thể nói đây là điều kiện chung nhất nhưng trong một số trường hợp
nhất định trách nhiệm BTTH cũng có thể phát sinh khi không có đủ các điều kiện

7

Nguyễn Ngọc Điện, 1200 thuật ngữ pháp lý Việt Nam, Nxb. TP Hồ Chí Minh, 1999, tr. 8.

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền.

thiệt hại và chủ thể được hưởng bồi thường. Trường hợp hai bên không tồn tại một
hợp đồng thì khi có thiệt hại xảy ra đó sẽ là những thiệt hại phát sinh ngoài hợp
đồng và lúc đó trách nhiệm bồi thường thiệt hại đặt ra là loại trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng. Những trường hợp có nguyên nhân làm cho hợp đồng không tồn tại
như: hợp đồng vô hiệu, hủy bỏ hợp đồng,...thì trách nhiệm bồi thường là trách
nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.
Các chủ thể trong quan hệ hợp đồng không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng hợp đồng tức là họ có hành vi vi phạm hợp đồng khi đó sẽ làm phát sinh trách
nhiệm BTTH theo hợp đồng. Cũng không phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
theo hợp đồng cả trong trường hợp dù hai bên có quan hệ hợp đồng nhưng thiệt hại
gây ra không phải do vi phạm hợp đồng. Ví dụ, giữa A và công ty vận chuyển hành

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền.

12

SVTH: Nguyễn Mộng Chi


Bồi thường thiệt hại đối với tài sản- quyền sở hữu trí tuệ. Lý luận và thực tiễn.
khách B có giao kết một hợp đồng vận chuyển nhưng trong quá trình vận chuyển
công ty B đã gây ra thiệt hại đến sức khỏe và tính mạng cho A khi đó trách nhiệm
BTTH phát sinh là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng vì tính mạng,
sức khỏe được pháp luật bảo vệ trừ trường hợp có thỏa thuận.
Trong quan hệ hợp đồng chủ thể gây thiệt hại và chủ thể bị thiệt hại là các bên
trong hợp đồng. Hành vi gây thiệt hại làm ảnh hưởng đến lợi ích của một bên trong
hợp đồng. Do đó, trong trường hợp một chủ thể thứ ba nào đó có lỗi gây thiệt hại
cho một trong các bên của hợp đồng hoặc ngược lại thì khi đó cũng chỉ làm phát
sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng mà thôi.
Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng chỉ phát sinh khi có


SVTH: Nguyễn Mộng Chi


Bồi thường thiệt hại đối với tài sản- quyền sở hữu trí tuệ. Lý luận và thực tiễn.
thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 611
BLDS.
Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khoẻ, danh dự,
nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm
phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn
phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị
hiểu nhầm... và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải
chịu.
Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải
là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ
chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin... vì bị hiểu nhầm và cần
phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu9.
Với việc phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thành hai
loại thiệt hại này có ý nghĩa khi xác định mức bồi thường cũng như nghĩa vụ chứng
minh trong quá trình giải quyết tranh chấp. Trong trường hợp BTTH tài sản là vật
chất, theo nguyên tắc bên bị thiệt hại phải chứng minh được thiệt hại của mình và
khi đó mức bồi thường sẽ bằng với mức thiệt hại. Nhưng nếu trong trường hợp
trách nhiệm BTTH là tinh thần thì thế nào?. Ta cần thấy rõ một điều việc chứng
minh và tính toán thiệt hại về tinh thần là rất khó khăn. Vì vậy cho nên pháp luật cần
quy định cách thức tính toán và mức bồi thường về loại trách nhiệm này để cơ quan
có thẩm quyền áp dụng giải quyết tranh chấp khi có hành vi xâm phạm gây ra những
thiệt hại về tinh thần.
Những điểm giống và khác nhau giữa bồi thường thiệt hại trong hợp
đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
- Giống nhau.

là các thiệt hại về vật chất (một khoản bồi thường cụ thể hay xác định theo thiệt hại
thực tế) ít khi đó là các thiệt hại tinh thần trừ khi hai bên có sự thỏa thuận từ ban
đầu.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thể áp dụng với các chủ thể
khác ngoài chủ thể gây thiệt hại như đối với cha, mẹ của người chưa thành niên,
người giám hộ đối với người được giám hộ, pháp nhân đối với pháp nhân,...Nhưng
chủ thể trong trách nhiệm BTTH theo hợp đồng sẽ là các chủ thể tham gia quan hệ
hợp đồng chỉ trừ một số trường hợp có sự đồng ý trong thỏa thuận của các bên.
Nhìn chung, việc phân biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại thành trách nhiệm
bôi thường thiệt hại theo hợp đồng và ngoài hợp đồng có ý nghĩa quan trọng trong
việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự. Nguyên đơn sẽ phải chứng minh
thiệt hại là do bên gây thiệt hại vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng còn trong BTTH
ngoài hợp đồng bên bị thiệt hại phải chứng minh được hành vi gây thiệt hại là hành
vi trái pháp luật bên cạnh việc chứng minh thiệt hại của mình.
1.2.2. Theo quy định trong Luật sở hữu trí tuệ.
Tài sản trí tuệ và sở hữu trí tuệ là gì? Tài sản trí tuệ là tài sản được thừa nhận từ
những thành quả do trí tuệ con người tạo ra thông qua hoạt động sáng tạo và việc sở
hữu các tài sản trí tuệ được gọi là SHTT hay nói cách khác tài sản trí tuệ là sản
phẩm do trí tuệ con người tạo ra thông qua hoạt động sáng tạo, bao gồm các tác
phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật (tiểu thuyết thơ ca, các tác phẩm điêu khắc, hội
họa...) và các thành quả sáng tạo khoa học kỹ thuật (sáng chế, giải pháp hữu ích,
kiểu dáng công nghiệp....) và SHTT là khái niệm dùng để chỉ quyền của chủ thể đối
với tài sản trí tuệ tương ứng. Sở hữu trí tuệ được chia thành hai lĩnh vực chủ yếu bao
gồm sở hữu công nghiệp và bản quyền.

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền.

15

SVTH: Nguyễn Mộng Chi

1.3. Mối quan hệ giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Luật dân sự và
trong Luật sở hữu trí tuệ.
1.3.1. Giống nhau.
Cũng xuất phát là những quan hệ pháp luật dân sự nên các quy định về bồi
thường thiệt hại đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ có những điểm giống với các
quy định về bồi thường thiệt hại trong dân sự nói chung cũng như bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng nói riêng .

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền.

16

SVTH: Nguyễn Mộng Chi


Bồi thường thiệt hại đối với tài sản- quyền sở hữu trí tuệ. Lý luận và thực tiễn.
Tài sản trí tuệ cũng là loại tài sản trong quan hệ dân sự vì vậy khi có hành vi
xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ngoài việc áp dụng các quy định về bồi thường thiệt
hại trong luật sở hữu trí tuệ 2005 thì các cơ quan có thẩm quyền cũng có thể áp dụng
các quy định về bồi thường thiệt hại trong dân sự để giải quyết trong trường hợp
Luật sở hữu trí tuệ chưa quy định hoặc các quy định trong luật sở hữu trí tuệ mâu
thuẫn với quy định của luật chung.
Tương tự như các quy định trong luật dân sự khi xác định thiệt hại trong giải
quyết tranh chấp với các yêu cầu về bồi thường thiệt hại, Luật sở hữu trí tuệ cũng
quy định thiệt hại trong trường hợp có hành vi xâm phạm đối với tài sản là quyền sở
hữu trí tuệ cũng bao gồm các thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.
Ví dụ, Ông A có hành vi sử dụng nhãn hiệu trùng với nhãn hiệu đã được bảo hộ
của ông B gây ra thiệt hại. B kiện và yêu cầu được bồi thường về những tổn thất mà
A đã gây ra cho mình. Khi xác định thiệt hại mà B đã gánh chịu theo Điều 204 Luật
SHTT xác định thiệt hại của ông bao gồm những thiệt hại về vật chất đó là các tổn

Khi một tài sản bị xâm phạm nếu đó là một tài sản hữu hình trong dân sự việc
xác định thiệt hại bị mất, bị hư hỏng cũng như lợi ích gắn việc sử dụng tài sản đó là
khá dễ dàng. Nhưng sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều trong trường hợp tài sản bị
xâm phạm là tài sản trí tuệ một loại tài sản vô hình.
Ví dụ, nếu hành vi xâm phạm làm hư hỏng một chiếc ô tô- là phương tiện kiếm
sống của một cá nhân, thì việc xác định thiệt hại, trong đó bao gồm cả những lợi ích
gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản là tương đối rõ ràng trên cơ sở thu nhập
bình quân thu được của người lái xe đó trong một ngày, một tuần hay một tháng.
Nhưng nếu đó là hành vi xâm phạm sáng chế với mục đích để chế tạo một sản phẩm
độc đáo, thì việc xác định thiệt hại không chỉ thuần túy như vậy. Thiệt hại chủ yếu
không thể được xác định trên cơ sở lợi ích gắn liền với việc sử dụng tài sản mà còn
bao gồm nhiều yếu tố khác, như phạm vi xâm phạm, nội dung và mức độ xâm phạm,
kèm theo những thiệt hại thực tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua
việc xác định thị phần của hàng hóa cùng loại của nhà sản xuất trên thị trường
trong thời gian có hành vi xâm phạm10.
Mặt khác, quyền nhân thân trong sở hữu trí tuệ cũng có những quy định khác
với quyền nhân thân trong dân sự. Vì vậy, khi các quyền nhân thân của các chủ thể
có quyền đối với tài sản là quyền SHTT bị xâm phạm thì phương pháp, cách thức
xác định thiệt hại hay mức bồi thường cũng khác đi.
Ví dụ, có một chủ thể bị người khác xâm phạm quyền nhân thân của mình, cụ
thể là họ bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín thì việc xác định mức độ tổn thất
về tinh thần phải căn cứ vào hình thức xâm phạm (bằng lời nói hay đăng trên báo
viết hay báo hình….), hành vi xâm phạm, mức độ lan truyền thông tin xúc phạm…
còn trong trường hợp hành vi xâm phạm quyền SHTT gây thiệt hại về tinh thần bao
gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác
về tinh thần gây ra cho tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người
biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây
trồng thì vấn đề chứng minh thiệt hại, xác định mức độ tổn thất cũng như mức độ
bồi thường hợp lý thì trở nên khó khăn hơn rất nhiều vì các quyền nhân thân của tác
giả được pháp luật bảo hộ theo các tiêu chuẩn riêng.

với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ.
1.4.1. Về mặt kinh tế.
Trong công cuộc đổi mới đất nước cùng với sự kiện trọng đại có ý nghĩa chính
trị to lớn là đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã
xác định: công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập là mục tiêu quan trọng của Việt
Nam. Nền kinh tế trong những năm qua đã có nhiều biến đổi, khởi sắc và không
ngừng tăng trưởng. Kinh tế tri thức ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình
phát triển lực lượng sản xuất. Trong dự thảo chiến lược phát triển mười năm 20012010 và kế hoạch năm năm 2001- 2005 được trình bày tại đại hội đại biểu lần thứ IX
cũng khẳng định: “Vấn đề Sở hữu trí tuệ là một thứ sở hữu không hoàn toàn giống
như sở hữu trong kinh tế, nhưng cũng là cơ sở để phát triển thị trường khoa học và
công nghệ, một thị trường cạnh tranh lành mạnh mà chúng ta đang thiếu”11. Một
trong những yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ
chính là việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, quyền sở hữu trí tuệ một cách có
hiệu quả trên thực tế.
Trước những thay đổi đó việc bảo hộ đối với sở hữu trí tuệ đã trở thành mối
quan tâm của chủ sở hữu quyền ở nhiều quốc gia. Việc xây dựng hệ thống pháp luật
11

Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Nxb.
Chính trị Quốc gia,2001, Tr 211.

GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền.

19

SVTH: Nguyễn Mộng Chi



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status