luận văn kinh tế luật Các quy định cơ bản của Luật Thương mại quốc tế liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ - Pdf 27

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA LUẬT
  

TIỂU LUẬN
MÔN: LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Đề tài:

CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Họ và tên học viên: ĐINH THỊ QUÝ
Líp: LUẬT K
2
Khoá: 02
Hà Nội, - 2006
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Luật thương mại quốc tế là ngành luật điều chỉnh các quan hệ xã hội
trong lĩnh vực kinh tế, thương mại hoặc kinh doanh tại các quốc gia khác
nhau trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Luật thương mại quốc tế quy định
nhiều vấn đề khác nhau trong lĩnh vực kinh tế, thương mại và kinh doanh như
các quy định về thương mại hàng hoá, các quy định về thương mại dịch vô,
các quy định về đầu tư quốc tế và các quy định liên quan đến quyền sở hữu trí
tuệ…
Các quy định về thương mại quốc tế liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ
là một trong những nội dung cơ bản nhất trong Luật Thương mại quốc tế. Các
quy định này thể hiện sự mong muốn giảm bớt những bóp méo và những trở
ngại trong hoạt động thương mại quốc tế và lưu ý tới nhu cầu phải thúc đẩy
việc bảo hội một cách có hiệu quả và thích hợp các quyền sở hữu trí tuệ và
đảm bảo rằng các biện pháp và thủ tục thực thi các quyền sở hữu trí tuệ không
trở thành các trở ngại cho hoạt động thương mại hợp pháp.

NỘI DUNG
1. Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ
Các ý tưởng và tri thức đang chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong hệ
thống thương mại. Giá trị của các loại dược phẩm mới và các sản phẩm công
nghệ cao khác nằm ở nỗ lực phát minh, cải tiến, tìm tòi, chế tạo và thử
nghiệm cho phép sản xuất chóng. Phim ảnh, băng đĩa nhạc, sách báo, phần
mềm tin học và các dịch vô trên mạng được mua bán nhờ vào khối lượng
thông tin và tính sáng tạo đã được đưa vào các sản phẩm này, chứ không phải
là nhờ các chất liệu nhựa, giấy hay kim loại được sử dông để sản xuất ra
chúng. Nhiều sản phẩm trước kia còn được xếp vào loại hàng hoá có hàm
lượng công nghệ thấp thì nay lại có giá trị cao nhờ vào những phát minh và
thiết kế: ví dụ như quần áo mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc các giống cây trồng
khác.
Các nhà phát minh sáng chế có thể có quyền không cho người khác sử
dông các sáng chế, bản vẽ, mẫu mã hay bất cứ sáng tạo nào khác của mình.
Họ có thể dùng quyền đó để thương lượng khoản thù lao mà họ được hưởng
trong trường hợp người thứ ba muốn sử dông các phát minh, sáng chế của họ.
Các quyền này được gọi là "Quyền sở hữu trí tuệ". Chúng có nhiều hình thức:
bản quyền, chẳng hạn đối với các Ên phẩm sách báo, phim và tranh ảnh: Bằng
sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá hoặc thương phẩm đối với thương hiệu và lôgô
sản phẩm… Chính phủ và Quốc hội các nước đã trao quyền này cho các nhà
phát minh sáng chế để khuyến khích họ đưa ra nhiều ý tưởng phục vụ lợi Ých
của toàn xã hội.
Điều 2 Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có định nghĩa "Quyền
sở hữu trí tuệ" bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan, nhãn hiệu hàng
hoá, sáng chế, thiết kế bố trí (topography) mạng tích hợp, tín hiệu vệ tinh
mang chương trình đã được mã hóa, thông tin bí mật (bí mật thương mại),
3
kiểu dáng công nghiệp và quyền đối với giống thực vật.
Điều 1.2 của Hiệp định TRIPS định nghĩa thuật ngữ (sở hữu trí tuệ) có

thông tin bí mật. Hiệp định đề cập 5 nội dung chính các nguyên tắc cơ bản
của hệ thống thương mại và các hiệp định quốc tế khác về sở hữu trí tuệ được
áp dụng; mức độ bảo vệ thích hợp đối với quyền sở hữu trí tuệ, bảo đảm cho
các quyền này được tôn trọng mét cách thoả đáng trên lãnh thổ của nước
thành viên; giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ giữa các thành viên WTO;
áp dụng các thoả thuận đặc biệt trong thời gain chuyển đổi cũng như các thoả
thuận trong các hiệp định GATT và GATS, hiệp định TRIPS dùa trên một số
nguyên tắc cơ bản. Hiệp định TRIPS nhấn mạnh tới nguyên tắc không phân
biệt đối xử: đối xử quốc gia (bình đẳng đối xử giữa người trong nước và
người nước ngoài) và đối xử tối huệ quốc gia cũng là một nội dung cốt lõi của
các hiệp định khác về sở hữu trí tuệ được đăng ký kết ngoài khuôn khổ
WTO.
Hiệp định TRIPS còn đưa ra một nguyên tắc quan trọng khác đó là bảo
hộ sở hữu trí tuệ phải góp phần cải tiến kỹ thuật và chuyển giao công nghệ.
Bảo hộ sở hữu trí tuệ phải đem lại lợi Ých cho người sản xuất còng như người
tiêu dùng, góp phần tăng sự no Êm về kinh tế và xã hội.
Điều 1 Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ cũng quy định: để bảo
hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ một cách đầy đủ và có hiệu quả, mỗi bên
tối thiểu phải thực hiện chương này và các quy định có nội dung kinh tế của:
- Công ước Geneva về bảo hộ người sản xuất bản ghi âm chống sự sao
chép trái phép năm 1971 (công ước Geneva).
- Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và công nghệ năm 1971
(công ước Berne).
- Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp, năm 1967 (công ước
5
Paris).
- Công ước quốc tế về bảo hộ giống thực vật mới, năm 1978 (công ước
UPOV (1978), hoặc công ước quốc tế về bảo hộ giống thực vật mới, năm
1991 (công ước UPOV (1991).
- Công ước về phân phối tín hiệu mang chương trình tryền qua vệ tinh

3.2. Về nhãn hiệu hàng hoá và dịch vụ (Trademarks)
Luật thương mại quốc tế định rõ các nhãn hiệu hàng hoá và dịch vô cần
được bảo hộ trong mức độ cần thiết các quyền tối thiểu, chủ sở hữu các nhãn
hiệu dịch vô phải được bảo hộ như chủ sở hữu các nhãn hiệu hàng hoá. Các
nhãn hiệu nổi tiếng ở các nước phải còn được bảo hộ theo các quy chế bổ
sung.
3.3. Về chỉ dẫn địa lý (Geographical Indications)
Tên mét khu vực địa lý, một địa điểm đôi khi được sử dông để nhận
dạng mét sản phẩm. "chỉ dẫn địa lý" này không những chỉ ra nơi sản phẩm
được sản xuất mà đặc biệt còn chỉ ra các đặc tính của sản phẩm có được từ
nguồn gốc của nơi sản xuất ra nã.
Các tên "Champagne", "Scotch", "Tequila" và "Roquefort" là những ví
dụ mà ai cũng biết. Những nhà sản xuất rượu vang và rượu mạnh đặc biệt coi
trọng việc sử dông địa danh để nhận dạng các sản phẩm này. Chỉ dẫn địa lý
được một số điều khoản đặc biệt của Hiệp định TRIPS điều chỉnh. Tuy vậy,
đây cũng là một vấn đề quan trọng đối với các loại hàng hoá khác.
Việc sử dông tên một khu vực địa lý, một địa điểm khi sản phẩm được
sản xuất ở nơi khác hoặc không có được những tính năng vốn có của sản
phẩm sẽ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và dẫn tới cạnh tranh không lành
mạnh. Hiệp định TRIPS quy định nghĩa vụ các nước thành viên phải ngăn
cấm việc sử dông bừa bãi các địa danh gắn lên sản phẩm.
7
Đối với rượu vang và rượu mạnh, các hiệp định quy định mức độ bảo hộ cao
hơn, tức là ngay cả khi không có nguy cơ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.
Luật Thương mại quốc tế cho phép một số ngoại lệ, đặc biệt khi địa danh
đã được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu hàng hoá hoặc thương hiệu hoặc khi nó
đã trở thành tên chung. Ví dụ: "Chaddar" ngày nay được dùng để chỉ một loại
phomát đặc biệt không nhất thiết phải được sản xuất ở vùng Cheddar thuộc
nước Anh. Tuy nhiên, nước nào muốn nêu ngoại lệ vì những lý do này đều
phải tiến hành đàm phán với những nước cũng muốn bảo hộ chỉ dẫn địa lý đó.

một số trường hợp, người vi phạm có thể bị buộc phải chứng minh trước toà
án về việc họ không sử dông quy trình đã được cấp văn bằng sáng chế.
Cho tới gần đây, đối với việc bảo hộ các dược phẩm đã được cấp văn
bằng sáng chế là vấn phức tạp nhất là chữa trị căn bệnh HIV/AIDS. Vấn đề là
ở chỗ làm thế nào để vừa không cản trở các nước nghèo tiếp cận các loại
thuốc chữa bệnh, vừa duy trì được vai trò của văn bằng sáng chế là khuyến
khích hoạt động nghiên cứu và phát triển trong ngành dược phẩm. Một số quy
định mềm dẻo, như khả năng nhượng lại "giấy phép bắt buộc", đã được đưa
vào Hiệp định TRIPS/WTO. Tuy nhiên, một số chính phủ đang đặt ra câu hỏi
cần phải diễn giải các quy định này như thế nào, và làm thế nào để đảm bảo
quyền sử dông các quy định này. Phần lớn vấn đề này đã được giải quyết khi
các Bộ trưởng các nước thành viên WTO họp và thông qua một tuyên bố đặc
biệt tại Hội nghị Doha vào tháng 11/2001. Các bộ trưởng nhất trí rằng Hiệp
định TRIPS sẽ không ngăn cản và không được ngăn cản các nước thành viên
áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khoẻ cộng đồng. Họ nhấn mạnh rằng các
nước có thể sử dông các quy định mềm dẻo trong Hiệp định TRIPS và nhất trí
tiếp tục miễn cho các nước kém phát triển phải bảo vệ các dược phẩm đã
được cấp văn bằng sáng chế cho tới năm 2016. Đối với vấn đề còn tồn đọng,
9
các bộ trưởng cũng giao cho Hội đồng TRIPS phải quyết làm sao để các quy
định trở nên mềm dẻo hơn nữa nhằm giúp các nước không có khả năng tù sản
xuất dược phẩm có thể nhập khẩu thuộc được sản xuất theo "giấy phép bắt
buộc".
3.6. Về sơ đồ bố trí mạch tích hợp (Integrated circits layout designs -
Topographies)
Việc bảo hộ sơ đồ bố trí mạch tích hợp được thực hiện trên cơ sở Hiệp
định Washington về sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực mạch tích hợp. Tuy đã được
thông qua năm 1989 nhưng Hiệp định này vẫn chưa có hiệu lực. Hiệp định
TRIPS/WTO bổ sung thêm một số điều khoản, chẳng hạn như mạch tích hợp
phải được bảo hộ Ýt nhất là 10 năm.

trừng trị thích đáng. Các thủ tục áp dụng phải hợp pháp, công bằng và không
quá phức tạp và không phải tốn kém một cách không cần thiết. Các thủ tục
này không được đề ra thời hạn quá dài hoặc gây chậm trễ một cách vô lý.
Những người có liên quan phải được phép yêu cầu toà án xem xét lại quyết
định hành chính cho dù đó là bản quyết định cuối cùng hoặc xét xử phóc thẩm
một bản án của toà án cấp dưới.
Hiệp định TRIPS/WTO có các quy định mô tả chi tiết các công cụ bảo
đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là các quy định liên quan tới việc
thu thập chứng từ, các biện pháp tạm thời, các biện pháp tư nhân của toà án,
các khoản bồi thường thiệt hại và các biện pháp xử phạt khác. Hiệp định quy
định, trong một số điều kiện nhất định, toà án có quyền ra lệnh đưa ra khái hệ
thống phân phối hoặc tiêu thụ các loại hàng giả, hàng nhái. Các hành vi cố ý
làm giả, nhái nhãn mác hoặc thương hiệu trong kinh doanh, gây phương hại
tới quyền tác giả, phải bị coi là hành vi phạm tội hình sự. Chính phủ các nước
phải làm sao để người nắm giữ quyền sở hữu trí tụê được các cơ quan hải
quan hỗ trợ nhằm ngăn không cho hàng giả hoặc hàng nhái được nhập khẩu
11
vào lãnh thổ quốc gia.
12
KẾT LUẬN
Quyền sở hữu trí tuệ là một vấn đề quan trọng và phức tạp trong thương
mại quốc tế, nó liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau mang tính chất nhạy
cảm như: quyền tác giả, nhãn hiệu hàng hoá… Do đó, việc tìm hiểu và nghiên
cứu về các quy định cơ bản của Luật thương mại quốc tế liên quan đến quyền
sở hữu trí tuệ là hết sức cần thiết. Nó không những giúp chúng ta hiểu được
bản chất, nội dung, ý nghĩa của quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại quốc tế
mà nó còn giúp chúng ta hiểu được sự giao lưu, quan hệ trong thương mại
quốc tế về cán vấn đề của quyền sở hữu trí tuệ.
Đề tài: "Các quy định cơ bản của Luật thương mại quốc tế liên quan đến
quyền sở hữu trí tuệ" được tác giả chọn làm nội dung nghiên cứu trong quá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status