Kho¸ luËn tèt nghiÖp NguyÔn V¨n ThÕ
Môc lôc
Líp LuËt t¹i chøc K30 - Gia L©m
1
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Văn Thế
Lời cảm ơn
Năm năm qua đợc sự quan tâm, dìu dắt của các Thầy cô giáo trong khoa
Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, tôi đã học hỏi và tiếp thu đợc những kiến thức bổ
ích và quý giá. Bản khoá luận tốt nghiệp này chứa đựng những thành quả mà tôi đã
học tập và rèn luyện trong 5 năm học.
Tôi xin ghi nhận công lao to lớn của các Thầy cô giáo, cán bộ giảng viên
nhà trờng. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Giáo viên hớng dẫn
Tiến sĩ Doãn Hồng Nhung ngời đã trực tiếp chỉ bảo, hớng dẫn một cách tận tình
trong suốt thời gian thực hiện khoá luận.
Do khả năng và thời gian có hạn, chắc chắn Khoá luận của tôi không tránh
khỏi những thiếu sót. Kính mong có đợc sự góp ý của các Thầy cô giáo, các
chuyên gia luật và các bạn bè đồng nghiệp để khoá luận này hoàn thiện hơn. Trong
quá trình nghiên cứu làm khoá luận tôi đã học hỏi đợc nhiều điều bổ ích và hy
vọng rằng với kiến thức mà mình lĩnh hội đợc trong quá trình học tập cũng nh
những kiến thức có đợc trong thời gian thực tập sẽ là hành trang để phục vụ sự
nghiệp xây dựng đất nớc.
Hà Nội, tháng 3 năm 2009
Ngời thực hiện
SV: Nguyễn Văn Thế
Lớp Luật tại chức K30 - Gia Lâm
2
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Văn Thế
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo văn kiện Đại hội Đại biểu toàn Quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản
đang tồn tại nhiều bất cập trong quá trình Nhà nớc quản lý đất đai.
Chính vì vậy, tôi chọn đề tài: Pháp luật và chính sách bồi th ờng thiệt hại
đối với nông dân khi Nhà nớc thu hồi đất nông nghiệp tại Quận Long Biên, Hà
Nội làm đề tài nghiên cứu cho khoá luận tốt nghiệp cử nhân luật của mình.
Đề tài đợc thực hiện dựa trên phân tích Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp
tại Quận Long Biên, thành phố Hà Nội , hậu quả thu hồi đất nông nghiệp ( Bồi th-
ờng sau thu hồi, giải quyết việc làm, các vấn đề xã hội khác đa ra một số kiến nghị
cũng nh các giải pháp cho các vấn đề còn tồn tại.
2. Mục đích nghiên cứu của khóa luận.
Nghiên cứu đề tài này, tôi muốn hớng tới mục đích tìm hiểu sâu hơn về vấn
đề thu hồi đất nông nghiệp , góp phần xây dựng một cách nhìn đúng đắn hơn nữa
về phát triển nông nghiệp trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
3. Phạm vi nghiên cứu.
Hiện nay theo quy định của pháp luật cũng nh trong thực tiễn, việc thu hồi
đất có thể diễn ra với nhiều loại đất khác nhau và nhiều lí do khác nhau. Tuy nhiên
trong khoá luận này, tôi chỉ nghiên cứu việc thu hồi đất dới góc độ thu hồi đất
nông nghiệp phục vụ cho các công trình Quốc gia, các dự án chung c của các
doanh nghiệp và những hậu quả của nó đã đợc triển khai trên địa bàn Quận Long
Biên Hà Nội.
4. Đối tợng và khách thể nghiên cứu:
Lớp Luật tại chức K30 - Gia Lâm
4
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Văn Thế
- Đối tợng nghiên cứu: Thu hồi đất nông nghiệp những quy định của pháp
luật, thực trạng, hậu quả và giải pháp.
- Khách thể nghiên cứu: Một số hộ nông dân có đất bị thu hồi tại tổ 7- Ph-
ờng Thạch Bàn- Quận Long Biên- Hà Nội.
5. Yêu cầu cần đạt đợc khi nghiên cứu đề tài:
* Đa ra một số số liệu về thu hồi đất tại địa phơng và đánh giá.
* Nghiên cứu những tác động của thu hồi đất nông nghiệp .
Thật đúng vậy, trong bất kì thời điểm nào, xã hội nào chúng ta cũng không
thể phủ nhận đợc vai trò không gì thay thế đợc của đất đai. Đất đai cũng có thể
nghiên cứu dới nhiếu góc độ:
Về mặt xã hội đất đai là nơi con ngời sinh sống là nền tảng để con ngời tiến
hành các hoạt động cần thiết cho cuộc sống của mình nh lao động sản xuất, vui
chơi, giải trí, xây dựng các công trình. Đất đai là yếu tố cơ bản của môi trờng sống
Về mặt chính trị đất đai là thành quả của cách mạng, là kết quả của biết bao
nhiêu mồ hôi xơng máu mà ông cha ta đã đổ xuống đấu tranh giành lại.
Lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc khẩu hiệu giành đất cho dân
cày, ngời cày có ruộngđã luôn đợc giơng cao. Cho đến nay, chính sách đất
nông nghiệp vẫn là chính sách quan trọng nhất đối với ngời nông dân bởi với họ
đất nông nghiệp là t liệu sản xuất chủ yếu tạo ra nguồn thu nhập chính và một thứ
bảo hiểm an toàn cho họ trớc những rủi ro, biến động của cuộc sống.
Về mặt kinh tế: đất đai là t liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế đợc đối
với ngời nông dân. Nhờ có đất đai mà con ngời tạo ra lơng thực, thực phẩm, của cải
vật chất đảm bảo cho sự tồn tại của mình. Nh vậy, đất nông nghiệp đã đóng vai trò
Lớp Luật tại chức K30 - Gia Lâm
6
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Văn Thế
to lớn trong việc bảo đảm an ninh lơng thực, ngoài ra, còn đóng góp một nguồn
ngoại tệ lớn cho đất nớc qua việc xuất khẩu gạo.
Đối với một đất nớc nông nghiệp nh đất nớc ta thì vai trò của đất càng trở
nên quan trọng. Tuy nhiên, đất nông nghiệp lại đang dần bị thu hẹp do việc xây
dựng các công trình, do đô thị hóa, dẫn đến một bộ phận ngời nông dân thiếu hoặc
không có đất để canh tác. Thêm vào đó, đất đai bị bạc màu do khai thác bừa bãi,
việc sử dụng đất nông nghiệp lãng phí, hoang hóa đang là một trở ngại rất lớn trên
con đờng, phát triển của đất nớc, bởi vậy, bảo vệ đất nông nghiệp trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Đề tài nghiên cứu. Pháp luật và chính sách bồi thờng thiệt hại đối với nông
dân khi Nhà nớc thu hồi nông nghiệp tại Quận Long Biên thành phố Hà Nội của
đợc chia thành 3 nhóm trờng hợp. Đó là :
Thu hồi đất vì lí do đơng nhiên: (thu hồi đất vì cá nhân sử dụng đất chết mà
không có ngời thừa kế, ngời sử dụng đất tự nguyện trả đất )
Thu hồi đất do nhu cầu của Nhà nớc, bao gồm thu hồi đất để sử dụng vào
mục đích Quốc phòng, lợi ích công cộng Quốc gia, sử dụng vào mục tiêu phát triển
kinh tế để xây dựng các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao.
Thu hồi đất do hành vi vi phạm pháp luật đất đai của ngời sử dụng đất đai.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi đi sâu vào vấn đề thu hồi đất nông
nghiệp vì mục đích phát triển kinh tế, cụ thể là thu hồi đất phục vụ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nớc.
1.2.2 Quy định của pháp luật về bồi thờng sau thu hồi đất nông nghiệp.
Phải nói rằng ngời nông dân là ngời chịu thiệt thòi nhất trong quá trình thu
hồi đất. Họ là những ngời gắn bó với đồng ruộng nhất, họ không có con đờng nào
khác ngoài sản xuất nông nghiệp mà t liệu cần sản xuất là đất. Việc thu hồi đất đã
đẩy cuộc sống ngời nông dân vào khó khăn. Chính vì vậy, điều khiến họ quan tâm
nhất là vấn đề giải quyết quyền lợi của họ sau khi thu hồi đất.
Lớp Luật tại chức K30 - Gia Lâm
8
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Văn Thế
Để giải quyết thỏa đáng nguyện vọng của ngời dân, kèm theo những quy
định về thu hồi đất là những quy định về bồi thờng .
* Điều kiện đợc bồi thờng về đất:
Luật Đất đai 2003 không quy định cụ thể điều kiện đợc bồi thờng về đất nh-
ng có quy định các trờng hợp thu hồi đất mà không bồi thờng. (Điều 43) Luật Đất
đai đã sửa đổi bổ xung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm
2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10 .
Trong quá trình thực hiện đã đợc hớng dẫn tại Điều 8 Nghị định số
197/2004/NĐ-CP, khoản 4 Điều 14 và Điểm b Khoản 2 Điều 67 nghị định số
84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007. Theo tìm hiểu tại thành phố Hà Nội,
để thực hiện các qui định trên UBND TP đã ban hành Quyết định số 137/2007/QĐ-
thành phố Hà Nội về việc Ban hành quy định về bồi thờng, hỗ trợ và tái định c trên
địa bàn thành phố Hà Nội
Việc quy định cụ thể nh trên tạo cơ sở cho việc tiến hành bồi thờng, bảo
đảm quyền lợi của ngời dân bị thu hồi đất. Một mặt nó phù hợp với chủ trơng minh
bạch hoá, công khai hoá trong xây dựng và áp dụng pháp luật.
* Nguyên tắc bồi thờng :
Để bảo đảm quyền lợi của các chủ thể trong thu hồi đất, đặc biệt là ngời
nông dân, Luật Đất đai 2003, có những quy định rất cụ thể về điều kiện thu hồi
đất. Theo Luật Đất đai 2003, tại Khoản 2 Điều 42 có quy định : Ngời bị thu hồi
loại đất nào thì đợc bồi thờng bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng,
nếu không có đất để bồi thờng thì đợc bồi thờng bằng giá trị quyền sử dụng đất đai
tại thời điểm có quyết định thu hồi.... Cũng tại Khoản 4- điều 42 này thì : Trờng
hợp thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất mà không có đất để bồi
thờng cho việc tiếp tục sản xuất thì ngoài việc đợc bồi thờng bằng tiền, ngời bị thu
hồi đất còn đợc Nhà nớc hỗ trợ để ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi ngành
nghề, bố trí việc làm mới.
Tại Điều 29 (Thực hiện khoản 5 Điều 7 và 31 Nghị định số 197/ 2004/NĐ
-CP) Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm Nghị định số 197/2004/NĐ-
CP và đợc sửa đổi, bổ sung tại Khoản 4- Điều 4 Nghị định 17/2006/ NĐ- CP ngày
Lớp Luật tại chức K30 - Gia Lâm
10
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Văn Thế
27/1/2006 về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hớng dẫn thi hành
Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ- CP về chuyển đổi công ty Nhà nớc
thành công ty cổ phần có quy định : Hộ gia đình cá nhân trực tiếp sản xuất nông
nghiệp bị thu hồi trên 30 % diện tích đất nông nghiệp mà không đợc Nhà nớc bồi
thờng bằng đất nông nghiệp tơng ứng thì đợc hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo
việc làm theo quy định sau :
1. Đợc giao đất có thu tiền sử dụng đất tại vị trí có thể làm mặt bằng sản
xuất kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp ; mức giao đất do UBND cấp tỉnh căn cứ
nông nghiệp.
Cụ thể đối với đất nông nghiệp, tại điều 10 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP
ngày 03 tháng 12 năm 2004 về bồi thờng, hỗ chợ và tái định c khi nhà đất thu hồi
đất, đã giải quyết cặn kẽ các trờng hợp bồi thờng, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp
của hộ gia đình, cá nhân.
Theo quy định trên của pháp luật hiện hành cho thấy chính sách bồi thờng
của Nhà nớc ta sau thu hồi đất nông nghiệp là vẫn đảm bảo cho ngời nông dân có
đất sản xuất. Việc bồi thờng bằng tiền cho ngời dân chỉ là giải pháp cuối cùng khi
mà không thực hiện đợc bồi thờng bằng đất canh tác và cũng không đền bù đợc
bằng một ngành nghề phi nông nghiệp nào đó.
Các trờng hợp khác nh đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân c, đất vờn ao
liền kề với đất ở trong khu dân c, trờng hợp hộ gia đình sử dụng vợt hạn mức, sử
dụng đất do nhận giao khoán đất đợc giải quyết cụ thể tại các Khoản 2,3,4,5,6,7
của Điều 10 Nghị định số 197/2004/NĐ/CP .
Ngoài ra, theo Điều 48 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm
2007 có quy định : Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi
trên 30% diện tích đất nông nghiệp trong trờng hợp không đợc Nhà nớc bồi thờng
bằng đất nông nghiệp tơng ứng mà không có nguyện vọng nhận bồi thờng bằng đất
làm mặt bằng sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp theo quy định tại
Khoản 4 Điều 4 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/1/2006 thì đợc bồi thờng
Lớp Luật tại chức K30 - Gia Lâm
12
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Văn Thế
bằng giao đất ở có thu tiền sử dụng đất tại khu tái định c hoặc tại vị trí trong khu
dân c phù hợp với quy hoạch. Theo ý kiến của ngời dân thi quy định này là cha
rõ, cần có hớng dẫn thêm.
Tuy nhiên, chỉ mới có Thành phố Hà Nội tại Quyết định số 33/2008/ QĐ-
UBND ngày 8/6/2008 là có cách giải thích cụ thể cho vấn đề này.
Theo Quyết định trên, những hộ gia đình, cá nhân trực tiếp trên diện tích đất
nông nghiệp đợc giao theo Nghị định số 64/ CP ngày27/9/1993 của Chính phủ
phần diện tích lớn hơn phải mua theo giá quy định nhân hệ số bằng 1,2.
Đối với hộ gia đình, các nhân bị thu hồi diện tích đất nông nghiệp nhỏ hơn
hạn mức và nhỏ hơn 40 m
2
đối với các phờng, nhng đó là thửa đất cuối cùng của hộ
gia đình, cá nhân đợc giao để thực hiện các dự án thì đợc bồi thờng diện tích đất ở
đủ theo hạn mức (đối với các Huyện) hoặc đợc mua căn hộ không quá 80 m
2
(đối
với các Quận). Nếu diện tích đất giao vợt diện tích đất thu hồi, gia đình phải nộp
tiền sử dụng đất theo giá đất do UBND TP quy định tại thời điểm giao đất. Nếu
diện tích này lớn hơn hai lần diện tích thu hồi thì phần diện tích lớn hơn phải mua
theo giá quy định nhân hệ số bằng 1,2.
Việc ban hành Quyết định số 33 là cấp thiết và nóng bỏng. Trên cơ sở đó,
Hà Nội cần nghiên cứu và thực hiện. Khi nghiên cứu , Hà Nội cũng cần hết sức
thận trọng, hớng xác định là quan tâm đến lợi ích chính đáng của ngời dân. Tiếp
nữa là căn cứ vào đặc điểm tình hình của Hà Nội để không phá vỡ quy hoạch, đỡ
bị manh mún. Hơn nữa là giải quyết kịp thời những vớng mắc trong mặt bằng hiện
nay vì khối lợng giải phóng mặt bằng hiện rất lớn và hầu hết đang bị đình lại cha
thực hiện đợc.
Giá bồi thờng :
Theo Điều 9 Nghị định số 197/2007/NĐ-CP ngày 3/12/2004 về thì : giá đất
để tính bồi thờng theo mục đích đang sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi
đất do UBND cấp tỉnh công bố theo quy định của Chính phủ; không bồi thờng theo
giá đất sẽ đợc chuyển mục đích sử dụng .
Thành phố Hà Nội Quyết định số 137/2007/QĐ- UBND ngày 30/11/2007 của
UBND Thành phố, thay thế Quyết định số 26/2005QĐ/UB ngày 18/2/2005của
UBND thành phố, thực hiện Luật Đất đai 2003; chính sách hỗ trợ ổn định đời sống,
Lớp Luật tại chức K30 - Gia Lâm
14
15
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Văn Thế
với tổ chức, cơ sở tôn giáo, ngời Việt Nam định c ở nớc ngoài, tổ chức, cá nhân n-
ớc ngoài.
Trừ trờng hợp UBND huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh quyết định
thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân c, ngời Việt Nam định c ở
nớc ngoài thuộc đối tợng đợc mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt
Nam.
1.2.5. Cỡng chế thu hồi đất.
Việc thu hồi đất có thể đợc bàn giao trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày tổ
chức làm nhiệm vụ bồi thờng giải phóng mặt bằng, thanh toán xong tiền bồi thờng
theo phơng án đã đợc cơ quan nhà nớc có thẩm quyền xét duyệt.
Trong quá trình thu hồi đất cơ quan nhà nớc có thẩm quyền đôi khi phải
thực hiện việc cỡng chế thu hồi đất. Việc cỡng chế thu hồi đất đợc thực hiện khi đã
quá 30 ngày kể từ thời điểm phải bàn giao đất quy định tại Điều 59 của Nghị định
số 84/2007/NĐ - CP ngày 25/5/2007 quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất thực hiện quyền sử dụng đất trình tự, thủ tục
thu hồi đất, bồi thờng, hỗ trợ tái định c khi Nhà nớc thu hồi đất và giải quyết khiếu
nại về đất đai mà ngời có đất bị thu hồi không bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm
vụ bồi thờng giải phóng mặt bằng.
Với thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nớc, việc cỡng chế thu hồi đất có
thể đợc tiến hành sau khi đại diện của tổ chức làm nhiệm vụ bồi thờng giải phóng
mặt bằng, UBND và Uỷ ban mặt trận Tổ quốc cấp xã nơi có đất thu hồi đã vận
động thuyết phục những ngời có đất bị thu hồi không chấp hành việc bàn giao đất
bị thu hồi.
Sau 15 ngày kể từ ngày giao trực tiếp quyết định cỡng chế hoặc ngày niêm
yết công khai quyết định cỡng chế mà ngời bị cỡng chế không bàn giao đất thờng
UBND cấp huyện chỉ đạo, tổ chức lực lợng cỡng chế thu hồi đất theo quy định của
pháp luật.
Lớp Luật tại chức K30 - Gia Lâm
nớc ngoài nh; khu công nghiệp kỹ thuật cao Sài Đồng B, khu công nghiệp Sài
Đồng A, nhiều công trình kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, cơ quan nhà máy,
đơn vị sản xuất, kinh doanh của Trung ơng, Thành phố và địa phơng. Đặc biệt với
lợi thế vị trí cửa ngõ Hà Nội, nối liền với trục tam giác kinh tế Hà Nội Hải
Phòng Quảng Ninh, đồng thời cũng là trục kinh tế sôi động hội nhập nền kinh
tế trong khu vực và thế giới. Đó là yếu tố cơ bản thuận lợi cho Quận Long Biên
phát triển nhanh, mạnh và bền vững về kinh tế xã hội.
Năm năm là khoảng thời gian rất ngắn, nhng với Long Biên 5 năm đầu mới
thành lập có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, quyết định chiều hớng phát triển và diện
mạo tơng lai của một Quận. Từ một phần đất của một huyện ngoại thành trở thành
một Quận ven đô nhiệm vụ trọng tâm suốt thời kỳ đầu của Long Biên là tập trung
phát triển đô thị với yêu cầu nhanh song phải đạt đợng sự bền vững, bảo đảm có
những chuyển biến căn bản trên tất cả các lĩnh vực, đồng thời tạo sự gắn kết chặt
chẽ giữa phát triển kinh tế, xây dựng quản lý đô thị, văn hoá - xã hội, bảo đảm
an ninh quốc phòng. Phải huy động đợc sức mạnh của cả hệ thống chính trị để đạt
Lớp Luật tại chức K30 - Gia Lâm
18
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Văn Thế
đợc mục tiêu trớc mắt cũng nh lâu dài. Với tinh thần chủ động, năng động, sáng
tạo trong lãnh đạo điều hành, tổ chức thực hiện các cấp uỷ Đảng, chính quyền từ
Quận đến cơ sở, phát huy vai trò tích cực của Mặt trận tổ quốc và các Đoàn thể
nhân dân; đặc biệt sự quan tâm lãnh đạo sát sao của Thành uỷ, HĐND, UBND, sự
phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả của các sở, ban, ngành, Đoàn thể của Thành phố, 5
năm qua quận Long Biên đã đạt đợc kết quả toàn diện, những thành tích rất đáng
tự hào trên các lĩnh vực công tác và đời sống xã hội.
Kinh tế trên địa bàn chuyển dịch nhanh từ cơ cấu kinh tế công nghiệp
dịch vụ Nông nghiệp sang cơ cấu kinh tế: Dịch vụ công nghiệp nông
nghiệp theo hớng đô thị sinh thái. Thu ngân sách mỗi năm một tăng và vợt cao
so với kế hoạch.
Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội quận Long Biên đến
hàng, bu chính viễn thông, cũng đợc tạo điều kiện khuyến khích phát triển mạnh
mẽ.
Năm 2004, tổng mức lu chuyển hàng hoá đạt 752.8 tỷ đồng, năm 2008 đạt
2.614 tỷ đồng tăng 247% so với năm 2004, cơ cấu ngành dịch vụ chiếm 47.9%
(tăng 15% so với năm 2004).
Đợc quy hoạch phát triển theo hớng nông nghiệp - đô thị sinh thái đảm
bảo cho quá trình phát triển bền vững. Mặc dù chịu ảnh hởng của nhiều yếu tố bất
lợi do thời tiết, quy trình đô thị hoá, song do sự chỉ đạo làm tốt công tác quy vùng,
quy hoạch, tăng cờng đầu t các công trình kỹ thuật hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản
xuất nông nghiệp, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp theo h-
ớng sản xuất những sản phẩm hàng hoá với chất lợng và giá trị cao, bớc đầu hình
thành các vùng sản xuất rau an toàn.
Tốc độ tăng trởng ngành nông nghiệp hàng năm trên địa bàn Quận đạt 1,1%
giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác tăng bình quân 4,6%,
Tăng cờng cho công tác đầu t phát triển của Quận. Thu ngân sách hàng năm
đều đạt và vợt kế hoạch thành phố giao, nhiều khoản thu đạt cao. Năm 2004, tổng
Lớp Luật tại chức K30 - Gia Lâm
20
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Văn Thế
thu đạt 259,404 tỷ đồng, nhiệm vụ thu năm 2008 gần 800 tỷ đồng tăng gấp 3 lần
năm 2004.
Từ các nguồn vợt thu theo kế hoạch đã tăng cờng đầu t xây dựng nhiều công
trình quan trọng phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội và đời sống của nhân dân nh:
hệ thống đờng giao thông, chiếu sáng, tiêu thoát nớc, các trờng học, trạm y tế ph-
ờng, nhà văn hoá.
Hệ thống các quy hoạch đợc nhanh chóng xây dựng, hoàn thiện. Tập trung
đầy t phát triển hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Bộ mặt đô thị có nhiều thay đổi.
Quản lý đất đai, trật tự xây dựng đô thị đi vào nề nếp và có chuyển biến rõ nét, môi
trờng xã hội đợc cải thiện.
Là một nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt trong 5 năm qua. Ngay khi mới
Công tác quản lý đô thị trên địa bàn có nhiều chuyển biến tích cực, thờng
xuyên kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ các ngành chức năng từ Quận
tới các Phờng. UBND Quận đã ban hành quy trình cấp phép xây dựng và quy trình
xử lý vi phạm về trật tự xây dựng, kiên quyết xử lý và không để phát sinh những vi
phạm mới đối với đất nông nghiệp, ngăn chặn có hiệu quả việc lấn chiếm đất công,
đất kẹt, ao hồ ở cơ sở. Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của ngời dân đô thị; tỷ
lệ công trình xây dựng xin phép trên địa bàn quận từ 15% năm 2004 tăng lên 95%
(là quận có tỷ lệ xin phép xây dựng cao của Thành phố).
Đợc xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác lãnh
đạo; với phơng châm chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục;
đảm bảo công khai, dân chủ và đúng luật, tạo sự thống nhất trong hệ thống chính
trị và sự đồng thuận trong nhân nhân.
Sự nghiệp Văn hoá - Xã hội phát triển tiến bộ theo hớng Chuẩn hóa và
Xã hội hoá
Tập trung chỉ đạo thực hiện chơng trình phát triển văn hoá xã hội, thiết thực
kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội, triển khai thực hiện đề án: Xây dựng tổ
dân phố văn hoá, giải quyết việc làm, nâng cao chất lợng dinh dỡng cộng đồng đã
đạt đợc những kết quả phấn khởi.
Lớp Luật tại chức K30 - Gia Lâm
22
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Văn Thế
Quán triệt quan điểm của Đảng Giáo dục là quốc sách hàng đầu, Đầu t
cho giáo dục là đầu t cho tơng lai, trong 5 năm quận đã tập trung đầu t nâng cao
chất lợng giáo dục toàn diện, củng cố mạng lới trờng học, phát triển quy mô giáo
dục, tạo sự đồng đều về chất lợng giữa các vùng, đẩy mạnh xây dựng trờng chuẩn
Quốc gia.
Hoạt động văn hoá thông tin, thể dục thể thao đã góp phần xây dựng môi tr-
ờng văn hoá lành mạnh, xây dựng nếp sống văn minh đô thị, xây dựng ngời Long
Biên Hà Nội thanh lịch văn minh, nâng cao chất lợng cuộc vận động Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, triển khai thực hiện đề án Xây dựng tổ
quả sử dụng của nó ảnh hởng trực tiếp tới sự phát triển của nông nghiệp.
Tuy nhiên, hiện nay vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc đang diễn
ra mạnh mẽ. Từ đó, đặt ra việc phải có đất để triển khai các dự án, thu hút vốn đầu
t trong nớc và nớc ngoài. Để đáp ứng nhu cầu về đất trong thời kì công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, một phần lớn diện tích đất nông nghiệp đã bị thu hồi theo chủ trơng
của Nhà nớc. Việc thu hồi đất nông nghiệp phục vụ các khu công nghiệp cần phải
đợc tính toán một cách khoa học, tránh những tác động xấu đến đời sống của ngời
nông dân, sản xuất nông nghiệp. Trên thực tế hiện nay, do việc nhìn nhận còn cha
đúng đắn, khách quan, quá coi trọng phát triển công nghiệp, trong nhiều năm,
nhiều địa phơng đã thực hiện chính sách trải thảm đỏ đón các nhà đầu t trong n-
ớc và nớc ngoài dẫn đến việc thu hồi đất nông nghiệp một cách ồ ạt, đất bờ xôi
ruộng mật bị lấy làm khu công nghiệp, khu đô thị. Song lại không giải quyết đợc
tốt các vấn đề hậu thu hồi đất, gây ra những bất ổn trong xã hội. Vấn đề trên đang
thu hút đợc nhiều sự quan tâm từ phía xã hội, đặc biệt là các cấp chính quyền và
một bộ phận nông dân- những ngời đang trực tiếp chịu ảnh hỏng từ việc thu hồi
đất.
Từ thực tiễn thu hồi đất nông nghiệp tại các địa phơng hiện nay, tôi đã tập
trung vào nghiên cứu vấn đề Thu hồi đất nông nghiệp trong thời kì công nghiệp
hoáTại Quận Long Biên .
2.2. Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp.
Lớp Luật tại chức K30 - Gia Lâm
24
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Văn Thế
Mặc dù nớc ta đang trong quá trình đô thị hoá, song cho đến thời điểm hiện
nay, theo số liệu thống kê mới nhất, nông dân vẫn chiếm tỉ lệ hơn 70% dân số. Nổi
cộm lên hiện nay là vấn đề thu hồi đất nông nghiệp để phát triển công nghiệp.
Trong nửa đầu năm 2008, cả nớc đã thu hút đợc hơn 311 tỉ USD vốn đầu t
trực tiếp nớc ngoài, một kỉ lục mới, sau khi đạt mức rất cao 20,3 tỉ USD năm 2007.
Con số này không nghi ngờ gì nữa, đang làm lạc quan nhiều nhà quản lí và kinh
doanh. Ngời ta hi vọng, luồng t bản này sẽ giúp nền kinh tế vợt qua giai đoạn khó