TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN: TƯ PHÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Niên khóa (2006- 2010)
Đề tài
VẤN ĐỀ PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG
CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
NGUYỄN THỊ MỸ LINH
SINH VIÊN THỰC HIỆN
NGUYỄN TẤN ĐẠT
MSSV: 5062243
LỚP : TƯ PHÁP 1- K32
CẦN THƠ, 27-04-2010
Vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
------------oOo-----------
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
SVTH: Nguyễn Tấn Đạt
Vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
------------oOo------------
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN ...................................................4
1.1. Lý luận chung về quan hệ tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 4
1.1.1. Cổ luật Phong kiến.............................................................................................4
1.1.2. Thời kỳ Pháp thuộc ............................................................................................5
1.1.3. Thời kỳ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay ......................................6
CHƯƠNG 2
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ VẤN ĐỀ PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
NĂM 2000 .....................................................................................................................22
2.1. Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.................................22
2.1.1. Mục đích quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nh .22
2.1.2.Điều kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân ...................22
2.1.3. Người có quyền và lợi ích liên quan đến việc phân chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân .........................................................................................31
2.2. Nguyên tắc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn ..............37
2.2.1.Cơ chế thanh toán đặc biệt................................................................................37
2.2.2. Phân chia tài sản chung không phải thay đổi chế độ tài sản.............................38
2.2.3. Tiến hành phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân .........39
2.3. Thể thức phân chia tài sản chung của vợ và chồng trong thời kì hôn nhân.....42
2.3.1. Phân chia theo thỏa thuận................................................................................42
2.3.2. Phân chia bằng con đường tư pháp..................................................................43
2.3.3. Nội dung việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân ...46
2.4. Các trường hợp phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
bị vô hiệu .......................................................................................................................47
2.5. Hiệu lực việc chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.......................49
2.6. Hậu quả việc chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân ......................51
2.6.1. Hậu quả pháp lý về nhân thân..........................................................................52
2.6.2. Hậu quả pháp lý về quan hệ về tài sản .............................................................52
CHƯƠNG 3
: Luật Hôn nhân và gia đình
TANDTC
: Toà án nhân dân tối cao
HĐTP
: Hội đồng thẩm phán
QTHL
: Quốc triều hình luật
BDLBK
: Bộ Dân luật Bắc kỳ
BDLTK
: Bộ Dân luật Trung kỳ
BLDS
: Bộ luật dân sự
DLGYNK
: Tập dân luật Giản yếu nam kỳ năm 1883
vấn đề hết sức quan trọng, nó là một trong những tiền đề giúp cho vợ chồng xây dựng
cuộc sống hạnh phúc, đáp ứng những nhu cầu về vật chất tinh thần cho gia đình.
Xuất phát từ bản chất của quan hệ hôn nhân và gia đình là các yếu tố nhân thân và
tài sản gắn liền với các chủ thể nhất định, không thể tách rời và không có tính đền bù
ngang giá. Chính sự ràng buộc này làm nảy sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ
với nhau mà chia tài sản chung của vợ chồng là một vấn đề không thể thiếu trong pháp
luật Hôn nhân và gia đình. Không phải là quy định mới trong Luật HN&GĐ năm 2000
nhưng trên cơ sở sự kế thừa Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 (Điều 18), quy định này
đã dần có những bước thay đổi tích cực cho phù hợp với sự phát triển của xã hội. Kể từ
khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực, các quy định về chia tài sản chung
của vợ chồng đã từng bước đi vào cuộc sống, phát huy được hiệu quả điều chỉnh, góp
phần xây dựng củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam .
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì việc áp dụng các quy định trên
vào thực tiễn không tránh khỏi những vướng mắc, khó khăn trong việc giải quyết các
tranh chấp liên quan đến tài sản ở các cấp Tòa án. Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề “Vấn
đề phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn sâu sắc nhằm đảm bảo cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống.
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
1
SVTH: Nguyễn Tấn Đạt
Vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Là sinh viên sau 4 năm được học tập tại trường, với mong muốn góp một phần nhỏ
vào việc làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn của việc chia tài sản chung của vợ chồng;
người viết đã mạnh dạn chọn đề tài “Vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân” theo luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam làm đề tài khóa luận tốt
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
2
SVTH: Nguyễn Tấn Đạt
Vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Trong phạm vi một khóa luận tốt nghiệp, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ
những vấn đề lý luận của các quy định pháp luật về tài sản chung, chia tài sản chung và
hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành. Đồng thời qua thực tiễn áp dụng Luật,
phát hiện những bất cập và đưa ra những kiến nghị nhằm bổ sung hoàn thiện các quy định
của pháp luật trong lĩnh vực này.
4. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề trong khóa luận
nhất quán dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí
Minh. Để đạt được mục đích nghiên cứu người viết có sử dụng kết hợp nhiều phương
pháp như: phân tích, tổng hợp, so sánh…
5. Kết cấu khóa luận
Kết cấu của khóa luận bao gồm:
Chương 1: Lý luận chung về quan hệ tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Chương 2: Những quy định của pháp luật về vấn đề phân chia tài sản của vợ, chồng
trong thời kỳ hôn nhân theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng và phương
hướng hoàn thiện.
Hoàn thành việc nghiên cứu đề tài, ngoài sự cố gắng của bản thân, người viết đã
được sự hướng dẫn tận tình của Giáo viên hướng dẫn. Nhân đây người viết xin gửi lời
nhân chủ sở hữu. Nhân danh lợi ích của gia đình, vợ hoặc chồng có thể tự mình xác lập
thực hiện các giao dịch trên các tài sản chung và trong một số trường hợp nghĩa vụ phát
sinh từ các giao dịch ấy có thể ràng buộc cả vợ hoặc chồng một cách liên đới. Nghĩa là
khiến cho vợ hoặc chồng dù không trực tiếp thực hiện giao dịch phải có trách nhiệm cùng
với vợ, chồng thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản chung, thậm chí bằng tài sản riêng. Tuy
nhiên, qua từng thời kỳ lịch sử khác nhau luật Hôn nhân và gia đình quy định việc phân
chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có sự khác biệt.
1.1.1. Cổ luật Phong kiến
Ở thời kỳ này quan hệ gia đình mang nặng tính chất gia trưởng, quyền uy, phục tùng
trong đó người vợ phụ thuộc tuyệt đối vào người chồng. Chế độ sở hữu chung của vợ
chồng cũng được xác lập nhưng vẫn còn hạn chế.
Tiêu biểu ở giai đoạn này là hai bộ luật: Quốc Triều Hình Luật (QTHL) dưới triều
Lê và bộ Hoàng Việt Luật Lệ dưới thời nhà Nguyễn. Cả hai bộ luật này đều ghi nhận sự
tồn tại chế độ sở hữu chung về tài sản của vợ chồng, đấy chính là “tần tảo điền sản”.
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
4
SVTH: Nguyễn Tấn Đạt
Vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Về vấn đề chia tài sản chung cổ luật phong kiến Việt Nam quy định hai trường hợp
chia tài sản chung của vợ chồng: khi một bên chết trước và chia tài sản chung của vợ
chồng khi ly hôn.
QTHL quy định khi vợ hoặc chồng chết thì điền sản đều được chia đôi mỗi người
một phần. Đây là một quy định tiến bộ thể hiện sự bình đẳng của người vợ đối với người
chồng trong quan hệ tài sản. Tuy nhiên, do hạn chế của xã hội bấy giờ nên quyền lợi của
SVTH: Nguyễn Tấn Đạt
Vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trước, Bộ Dân Luật
Bắc Kỳ quy định không chia mà giữ nguyên, chỉ đặt ra vấn đề chia khi người vợ còn sống
mà cải giá.
Trong bộ dân luật Giản yếu 1883 không thừa nhận chế độ cộng đồng tạo sản, toàn
bộ tài sản trong gia đình đều thuộc sở hữu của người chồng. Do đó, không đặt ra vấn đề
chia tài sản.
Như vậy, chế độ hôn nhân của nước ta ở thời kỳ Pháp thuộc là công cụ pháp lý của
giai cấp thống trị nhằm củng cố và bảo vệ lợi ích của mình. Thời kỳ này quyền lợi của
người phụ nữ, người vợ hầu như không đươc pháp luật xem xét, coi trọng.1
1.1.3. Thời kỳ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay
Cách mạng Tháng Tám thành công, nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời.
Dù còn bận chống thù trong giặc ngoài, nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn trú trọng tới việc
soạn thảo xây dựng hệ thống pháp luật nhằm củng cố và bảo vệ thành quả của Cách
mạng.
Năm 1950 Nhà nước ta đã ban hành hai sắc lệnh đầu tiên về hôn nhân gia đình là:
Sắc lệnh số 97-SL và sắc lệnh số 159-SL. Sắc lệnh vẫn duy trì các trường hợp chia tài sản
chung của luật cũ. Tuy nhiên, việc quy định về vấn đề chia tài sản còn rất chung chung,
Sắc lệnh chưa quy định rõ về cách thức chia, nguyên tắc chia cũng như hậu quả pháp lý
của việc chia tài sản chung.
Ở thời kỳ này Nhà nước ta chưa ban hành bộ luật Dân sự mới, thay vào đó là việc
duy trì áp dụng Bộ dân luật Bắc kỳ và Bộ dân luật Trung kỳ trên cơ sở có chọn lọc các
yếu tố tiến bộ, xóa bỏ các quy định thủ tục, lạc hậu. Mà theo các Bộ dân luật này quy
định, chế độ tài sản chung của vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản. Do đó việc Sắc
luật chỉ quy định các trường hợp chia mà chưa dự liệu nguyên tắc chia thì vẫn áp dụng
chồng trong ba trường hợp: Chia khi ly hôn, chia khi một bên chết trước và chia trong
thời kỳ hôn nhân.Về nguyên tắc chia tài sản khi một bên chết trước và chia trong thời kỳ
hôn nhân sẽ chia như khi ly hôn, đồng thời áp dụng cả pháp luật về thừa kế theo thông tư
số 81/1988. Còn khi ly hôn sẽ theo nguyên tắc chia đôi.
Luật Hôn Nhân và Gia Đình 1986 được xây dựng và ban hành, đã có bước phát
triển mạnh mẽ đó là sự ghi nhận về quyền có tài sản riêng của vợ chồng quy định tại
Điều 16: “Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế
riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập
hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng”. Trong khung khổ hồi phục của
sở hữu tư nhân. Tính chất “tốt” của một số tài sản ở góc nhìn của quan hệ nội bộ giữa vợ
và chồng bắt đầu được lưu ý. Trong các nổ lực nhằm thiết lập sự dung hòa giữa các
nguyên tắc tôn trọng tự do cá nhân và nguyên tắc bảo vệ lợi ích của gia đình. Luật 1986
thừa nhận việc kết hôn không làm mất khả năng có quyền có tài sản riêng của mỗi người.
Vậy là bắt đầu hình thành ba khối tài sản trong thời kỳ hôn nhân: khối tài sản chung của
vợ và chồng, khối tài sản riêng của chồng và khối tài sản riêng của vợ. Luật 1986 thừa
nhận vợ và chồng nhập một hay nhiều tài sản riêng vào khối tài sản chung cũng như
quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nếu có lý do chính đáng.
Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được luật dự kiến lần đầu tiên trong
luật Việt Nam tại luật Hôn Nhân và gia Đình 1986, có thể xem luật này là “chiếc nôi”
nuôi dưỡng chế định chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân. Bởi vậy,
lần đầu tiên trong lịch sử phát triển về quan hệ tài sản vợ, chồng vấn đề này được luật
thừa nhận. Sự ra đời của chế định này góp phần tháo gở những khó khăn phát sinh từ
quan hệ tài sản của vợ và chồng vốn đã rất phức tạp, đồng thời thể hiện sự nhảy vọt về
mặt tư duy lập pháp và sự quan tâm đúng mực của người làm luật đến quan hệ nội bộ
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
7
SVTH: Nguyễn Tấn Đạt
Như vậy trong từng thời kỳ, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử và thực tế lúc bấy giờ
mà việc quy định về chia tài sản chung của vợ chồng có khác nhau. Luật Hôn nhân và gia
đình Việt Nam đang ngày một củng cố và hoàn thiện, góp phần điều chỉnh các quan hệ
hôn nhân và gia đình ngày một tốt hơn. Đồng thời thúc đẩy xã hội ngày một tiến lên, xây
dựng đất nước ngày càng vững mạnh.3
2
3
Giáo trình luật hôn nhân và gia đình -Ts Nguyễn Ngọc Điện
Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình tập II các quan hệ tài sản của vợ chồng -Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
8
SVTH: Nguyễn Tấn Đạt
Vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
1.2. Các nguồn của luật về chế độ tài sản giữa vợ, chồng trong thời thời kỳ hôn nhân
và mối quan hệ tương quan của đối với các nguồn đó
Luật về chế độ tài sản được hình thành từ các nguồn luật khác nhau:
Thứ nhất, là các văn bản Hiến Pháp đặc biệt là Hiến Pháp năm 1992. Hiến Pháp
năm 1992 là đạo Luật cơ bản của Nhà nước, những nguyên tác của Hiến pháp được xây
dựng trên cơ sở chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của Nhà nước Xã Hội Chủ
Nghĩa. Hiến pháp ghi nhận những thành tựu sự nghiệp cách mạng trong công cuộc xây
dựng và bảo vệ tổ quốc. Giữa chế độ xã hội được ghi nhận trong Hiến pháp với chế độ gia
đình trong Luật Hôn nhân và gia đình có mối quan hệ mật thiết và thống nhất. Bất cứ quy
Vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Cách thứ nhất, Nếu hiểu theo cách thông dụng thì tài sản là của cải được con người
sử dụng, một vật cụ thể mà con người có thể nhận biết được bằng giác quan hay tiếp xúc.
Như vậy, ở chừng mực nào đó ta có thể nói tất cả tài sản đều là vật hữu hình và được hữu
hình hóa.
Cách thứ hai, Theo từ điển pháp luật thì “Tài sản là tất cả những gì có thể định giá
bằng tiền, lưu thông được và thuộc sở hửu của một người nào đó”, với khía cạnh này thì
tài sản được hiểu một cách rộng hơn bao gồm các tài sản hửu hình và vô hình.
Tuy nhiên, khái niệm về tài sản chỉ được hiểu rõ khi Bộ luật dân sự ra đời tại Điều
163 tài sản bao gồm: “vật. tiền, giấy tờ có giá trị và các quyền tài sản”. Theo quy định
của luật Dân sự 2005 thì vật ở đây có thể là vật có thật, hữu hình như: nhà ở, đất đai, các
công trình xây dựng… nhưng cũng có thể vật hình thành trong tương lai như: trái cây sẽ
được thu hoạch trong vài tháng tới, một công trình sẽ được hình thành trong tương lai,
những con gia súc con sắp được mẹ sinh ra…..
Tài sản được phân loại như sau:
-Bất động sản là các tài sản bao gồm:
a) Ðất đai;
b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với
nhà, công trình xây dựng đó;
c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai;
d) Các tài sản khác do pháp luật quy định.
- Ðộng sản là những tài sản không phải là bất động sản.
- Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại.
- Lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản.
-Vật chính là vật độc lập, có thể khai thác công dụng theo tính năng.
-Vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là
một bộ phận của vật chính, nhưng có thể tách rời vật chính.
Theo quy định tại Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000:
“ 1. Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời
kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc tặng cho chung và những tài
sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử
dụng đất mà vợ chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung
khi vợ chồng có thoả thuận.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy
định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của
cả vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ chồng đang có
tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung”.
Như vậy, ngoài việc dự liệu nguồn gốc, căn cứ thành phần các loại tài sản thuộc sở
hữu chung của vợ chồng, thì nhà làm luật còn căn cứ vào nguyên tắc suy đoán để xác
định những tài sản thuộc sở hữu của vợ chồng đang có tranh chấp, nhưng không đủ cơ sở
để xác định tài sản riêng của vợ chồng thì coi là tài sản chung. Đây là quy định mới của
Luật HN&GĐ năm 2000, nó xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, thông qua công tác xét xử
và nhằm hướng tới việc đảm bảo cao nhất quyền và lợi ích của các bên.
Căn cứ pháp lý để xác định khối tài sản chung của vợ chồng là sự ra đời và tồn tại
của quan hệ vợ chồng. Luật quy định, những tài sản được vợ chồng tạo ra “trong thời kỳ
hôn nhân” mới được coi là tài sản chung của vợ chồng.
“Thời kỳ hôn nhân” là thời gian quan hệ vợ chồng tồn tại. Thời kỳ hôn nhân bắt đầu
từ khi kết hôn và chấm dứt khi một bên chết hoặc ly hôn. Tuy nhiên, trong thực tế có
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
11
SVTH: Nguyễn Tấn Đạt
Nhà nước ghi nhận là một quyền hiến định, Nhà nước luôn khuyến khích và tạo điều kiện
cho các cá nhân có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh. Bởi nó một mặt vừa mang lại
tài sản để duy trì ổn định và phát triển của gia đình, mặt khác góp phần thúc đẩy sự phát
triển cũng như làm giàu cho xã hội.
Việc các bên thu nhập nhiều hay ít, cao hay thấp không phải là căn cứ để luật phân
định công sức đóng góp của các bên vợ chồng. Như vậy, dù vợ chồng ở nhiều ngành nghề
5
Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP của TANDTC ngày 23/12/2000
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
12
SVTH: Nguyễn Tấn Đạt
Vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
khác nhau, mức thu nhập khác nhau, song mọi thu nhập từ lao động nghề nghiệp, sản xuất
kinh doanh theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 đều là tài sản chung.6
- Các thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Theo hướng
dẫn tại điểm a, mục 3 Nghị quyết số 02/2000/HĐTP thì “những thu nhập hợp pháp khác”
của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân còn có thể là tiền lương, tiền trợ cấp, tiền trúng
thưởng xổ số… mà vợ chồng có được hoặc tài sản mà vợ chồng được xác lập quyền sở
hữu theo quy định của BLDS năm 2005 tại các Điều 240 (xác lập quyền sở hữu đối với
vật bị chôn giấu, chìm đắm được tìm thấy), Điều 239 (xác lập quyền sở hữu đối với vật
vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu), Điều 243 (xác lập quyền sở hữu đối
với gia cầm bị thất lạc), Điều 244 (xác lập quyền sở hữu đối với vật nuôi dưới nước),
Điều 242 ( xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc).
SVTH: Nguyễn Tấn Đạt
Vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
chồng như: nhà ở, quyền sử dụng đất….Với quy định này đã thể hiện sự bình đẳng giữa
vợ chồng trong quá trình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
Như vậy, Lụât HN&GĐ năm 2000 đã quy định các căn cứ xác lập tài sản chung của
vợ chồng, dựa vào thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc các loại tài sản, đảm bảo cho quyền lợi
của vợ chồng đối với tài sản chung. Đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho các Toà án nhanh
chóng giải quyết các tranh chấp về tài sản của vợ chồng.
* Nội dung quyền sở hữu tài sản
Theo quy định tại Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000:“Vợ, chồng đều có quyền
ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Tài sản chung của
vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung
của vợ chồng”.
Như vậy, về mặt nguyên tắc vợ, chồng có quyền nghĩa vụ ngang nhau trong việc
chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, nó xuất phát từ quyền bình đẳng của vợ
chồng đối với tài sản chung. Khoản 3 Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000 còn quy định:
“Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá
trị lớn, hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh
doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thoả thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư
kinh doanh riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 29”. Cụ thể hoá quy định trên Luật
HN&GĐ đã có hướng dẫn chi tiết tại Điều 4 Nghị đinh số 70/2000/NĐ-CP ngày
03/10/2001 của Chính phủ.
Như vậy, so với Luật HN&GĐ năm 1986 thì Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định
khá cụ thể và đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung.
Bên cạnh việc quy định chế độ tài sản chung của vợ chồng, Luật HN&GĐ năm
2000 còn quy định vợ, chồng có quyền có tài sản riêng. Quy định này góp phần làm lành
mạnh hoá các quan hệ hôn nhân và gia đình, tạo cơ sở để xây dựng những gia đình hoà
của vợ chồng là việc vợ chồng tự thoả thuận hoặc yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài
sản chung của vợ chồng dựa trên những điều kiện nhất định, nhằm bảo đảm cho các bên
tự chủ trong việc sử dụng, định đoạt, tài sản của mình trong khối tài sản chung”.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 do nhiều điều kiện và nguyên nhân khác nhau
đã không đặt vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, mà tất cả tài
sản của hai người điều thuộc sở hữu chung của hai người, không phân biệt tài sản chung
hay tài sản riêng. Bởi vậy, thời kỳ này lợi ích cá nhân luôn gắn liền với lợi ích tập thể,
không tồn tại nhiều hình thức sở hữu và đa dạng thành phần kinh tế như hiện nay. Luật
Hôn nhân và gia đình năm 1986 ra đời trên cơ sở kế thừa và phát huy Hiến pháp 1980 đã
công nhận quyền có tài sản riêng của vợ chồng nhưng chưa ghi nhận việc chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, đến Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000 ra đời vấn đề này được quy định: “Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ
chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng
khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận phân chia tài sản. Việc phân chia tài sản chung phải
được lập thành văn bản, nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải
quyết. Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhằm tránh việc thực
hiện nghĩa vụ về tài sản thì không được pháp luật công nhận”. Sở dĩ luật cho phép chia
tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là do yêu cầu thực tiễn đời sống kinh
tế xã hội, xuất phát từ nhiều lý do, sau đây là những lý do cơ bản về việc chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân:
Thứ nhất, trong cuộc sống gia đình nhiều khi không thể tránh khỏi những căng
thẳng, bất hòa dẫn đến tình trạng không thể sống chung với nhau được, nhưng do nhiều lý
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
15
SVTH: Nguyễn Tấn Đạt
Vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
a/ Lý do chia tài sản;
b/ Phần chia tài sản (bao gồm động sản, bất động sản, các quyền tài sản); trong đó
cần mô tả rõ tài sản được chia hoặc giá trị phần tài sản được chia;
c/ Phần tài sản còn lại không được chia, nếu có;
d/ Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung;
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
16
SVTH: Nguyễn Tấn Đạt
Vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
đ/ Các nội dung khác nếu có.
Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để xác định rõ phần tài sản của mỗi bên sao khi
chia, là chứng cứ quan trọng để giải quyết nếu hai bên xảy ra tranh chấp, bên cạnh việc
quy định về chế độ phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, do thực
tế cuộc sống có những người chia tài sản chung để thực hiện việc đầu tư kinh doanh, thực
hiện nghĩa vụ dân sự riêng và có lý do chính đáng khác.
Sau khi chia tài sản chung thì quan hệ tài sản giữa vợ chồng có sự thay đổi. Chế độ
cộng đồng tài sản chấm dứt thay vào đó là hai chủ sở hữu riêng biệt được tách rời ra từ
khối tài sản chung. Tuy nhiên, vấn đề này không hoàn toàn tuyệt đối và vẫn còn tồn tại
“thời kỳ hôn nhân” và việc phân chia tài sản cũng không được triệt để như khi ly hôn.
Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Điều 29 và Điều 30 thì phân
chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể chia một phần hoặc toàn
bộ tài sản chung tùy thuộc vào thỏa thuận của vợ chồng. Nếu vợ chồng không thỏa thuận
được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Quy định này phù hợp với thực tế của cuộc sống, đảm
bảo khả năng thực hiện nghĩa vụ tài sản của vợ chồng, đồng thời đảm bảo lợi ích chung
của cả gia đình. Trên thực tế, yêu cầu chia toàn bộ tài sản chung của vợ chồng chỉ được
chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phù hợp với thực tế. Tại Điều 29,
khoản 1 “Trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự
riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì có thể thỏa thuận chia tài sản” đây là nền tảng
pháp lý cho việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. 8
1.4. Đặc điểm về vấn đề phân chia chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Trên tinh thần Nghị quyết số 35 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc Hội Nước
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về việc thi hành luật Hôn nhân và gia đình cũng
đã ghi nhận rõ.
Về quan hệ tài sản của vợ, chồng chỉ được xác lập sau khi xác lập quan hệ hôn nhân
và chỉ tồn tại giữa các chủ thể là vợ, chồng hợp pháp với nhau cụ thể có những đặc điểm
sau:
a) Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm
1987, ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn
thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa
án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
b) Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987
đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này
thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực
cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn,
nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2000 để giải quyết.
Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật
không công nhận họ là vợ chồng;
c) Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và
điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà
không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có yêu cầu
ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu
về con và tài sản thì Tòa án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2000 để giải quyết.
Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 tại điều 29 “Chia tài sản chung trong
thay đổi chế độ tài sản (không có chuyện thỏa thuận ngược lại với các quy tắc thuộc chế
độ chung), Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là biện pháp giúp cho vợ, chồng
chuyển các tài sản chung cụ thể đã được tạo ra và hiện hữu trong khối tài sản chung của
vợ, chồng thành tài sản riêng của mọi người. Tuyệt đối không thỏa thuận về việc chia tài
sản chung sẽ có trong tương lai. Có thể nói trong cơ cấu Luật năm 2000 việc chia tài sản
giúp các bên có thể tham gia vào các giao dịch một cách độc lập và thực hiện được quyền
tuyệt đối, đây được coi là đặc điểm nổi bật trong việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn
nhân.9
1.5. Ý nghĩa về vấn đề phân chia chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Trong xã hội có giai cấp, vấn đề chia tài sản của vợ chồng bị chi phối bởi ý chí của
giai cấp thống trị. Trong mỗi chế độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị đều thông qua
nhà nước, bằng pháp luật, tác động vào các quan hệ tài sản của vợ chồng làm cho các mối
quan hệ này phát sinh, thay đổi, chấm dứt phù hợp với lợi ích của giai cấp đó.
Do pháp luật là sự thể hiện ý chí của giai cấp thống trị nên trong nền lập pháp của
mỗi nhà nước, vấn đề chia tài sản của vợ chồng đều theo ý chí của nhà nước đó. Vì vậy,
9
Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình phần tập II các quan hệ tài sản của vợ chồng -Tiến sĩ Nguyễn Ngọc
Điện
GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh
19
SVTH: Nguyễn Tấn Đạt