LUẬN văn sư PHẠM vật lý PHÁT TRIỂN tư DUY của học SINH THÔNG QUA hệ THỐNG LIÊN kết các bài TOÁN ANGÔRIT – ƠRITXTIC phần “động học chất điểm” vật lý 10 nâng cao - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM

----------

PHÁT TRIỂN TƯ DUY CỦA HỌC SINH THÔNG QUA
HỆ THỐNG LIÊN KẾT CÁC BÀI TOÁN
ANGÔRIT – ƠRITXTIC
Phần “Động học chất điểm”
Vật lý 10 nâng cao
Luận văn Tốt nghiệp
Ngành: SƯ PHẠM VẬT LÝ

GV hướng dẫn: Thầy Bùi Quốc Bảo
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dung
Lớp: Sư phạm Vật lý 01 K33
MSSV:1070209

Cần Thơ, 05/2011


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

LỜI CẢM TẠ
***
Sau gần một năm, được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, bạn bè, sự động viên
thân tình của gia đình và sự nổ lực của bản thân, tôi cũng đã hoàn thành luận văn tốt
nghiệp.
Đầu tiên, cho tôi tỏ lòng biết ơn chân thành đến cán bộ trực tiếp hướng dẫn đề tài

1.3.Giả thuyết của đề tài............................................................................................... 2
1.4.Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................................. 2
1.5.Phương pháp nghiên cứu........................................................................................ 2
1.6.Đối tượng nghiên cứu............................................................................................. 3
1.7.Các chữ viết tắt trong luận văn ............................................................................... 3
2.CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI .......................................................................... 4
2.1.Khái quát về tư duy................................................................................................ 4
2.1.1.Định nghĩa.......................................................................................................... 4
2.1.2.Đặc điểm của tư duy........................................................................................... 4
2.1.3.Các giai đoạn của quá trình tư duy ..................................................................... 5
2.1.4.Các thao tác của quá trình tư duy........................................................................ 7
2.1.5.Các thao tác tư duy thường dùng trong dạy học Vật lý ....................................... 8
2.1.6.Các loại tư duy ................................................................................................. 11
2.2.Phát triển tư duy trong quá trình nhận thức........................................................... 12
2.2.1.Tạo nhu cầu hứng thú, kích thích tò mò, ham hiểu biết của HS ........................ 12
2.2.2.Xây dựng một lôgic nội dung phù hợp với đối tượng HS.................................. 13
2.2.3..Rèn luyện cho HS kỹ năng thực hiện các thao tác tư duy, những hành động nhận
thức phổ biến trong học tập VL.................................................................................. 14
2.2.4.Rèn luyện ngôn ngữ VL cho HS....................................................................... 14
2.3.Phát triển tư duy thông qua quá trình giải BTVL .................................................. 16
2.3.1.BTVL là phương tiện để phát triển tư duy ........................................................ 16
2.3.2.Nguyên tắc chung về chọn nội dung BTVL nhằm phát triển tư duy.................. 18
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dung

3

MSSV: 1070209


Luận văn tốt nghiệp



Luận văn tốt nghiệp

GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

1. MỞ ĐẦU:
1.1. Lý do chọn đề tài:
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học ở trường phổ thông đã được Đảng
và Nhà nước ta xác định là phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của
học sinh, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn.
Phát triển tư duy khoa học ở học sinh là một trong những nhiệm vụ quan trọng của
việc dạy học vật lý ở trường phổ thông. Theo B. G. Razynobki, để tập cho học sinh kỹ
năng thực hiện các thao tác tư duy thì cần phải rèn luyện ngay cả khi nghiên cứu tài liệu
mới, khi củng cố tài liệu, khi ôn tập kiểm tra, khi tiến hành các thí nghiệm, khi giải các
bài tập vật lý và ngay cả khi đi tham quan.
Bài tập vật lý ở trường phổ thông có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố, đào
sâu, mở rộng, hoàn thiện kiến thức và rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng kiến
thức vào thực tiễn, góp phần giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp. Giải bài tập
vật lý đòi hỏi học sinh hoạt động trí tuệ tích cực, tự lập, sáng tạo. Vì vậy có tác dụng tốt
đối với việc phát triển tư duy của học sinh.
Nhưng hiện nay, việc dạy học vật lý ở trường phổ thông hiện chưa phát huy được
hết vai trò của bài tập vật lý trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học. Là một giáo viên
vật lý trong tương lai, tôi ý thức được việc dạy học sinh giải bài tập vật lý cũng như việc
hướng dẫn hoạt động trí tuệ của học sinh trong quá trình dạy bài tập vật lý là một công
việc khó khăn. Vì những lý do trên, tôi đã quyết định chọn đề tài “Phát triển tư duy của
học sinh thông qua hệ thống liên kết các bài toán angôrit – ơritxtic” (phần “Động
học chất điểm” VL 10 NC).
1.2. Mục đích đề tài:

- Đọc tài liệu về lý luận dạy học vật lý, sách giáo khoa lớp 10 nâng cao, các sách
bài tập có liên quan… để thu thập thông tin.
- Nghiên cứu lý luận: lý luận dạy học, phát triển tư duy để làm cơ sở lý thuyết của
đề tài.
- Phân tích, tổng hợp, so sánh các thông tin thu thập được xây dựng hệ thống liên
kết các bài toán angôrit – ơritxtic.
1.6. Đối tượng nghiên cứu:
- Phương pháp angôrit trong dạy học.
- Hệ thống các bài toán trong SGK vật lý 10 nâng cao và các sách bài tập.
1.7. Các chữ viết tắt trong luận văn:
- BT: bài tập.
- BTVL: bài tập Vật lý.
- HS: học sinh.
- HQC: hệ quy chiếu.
- GS: giả sử.
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dung

6

MSSV: 1070209


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

- GV: giáo viên.
- NC: nâng cao.
- SGK: sách giáo khoa.
- SVHT: sự vật hiện tượng.

cảnh có vấn đề mới thì con người cần phải có tri thức và phương thức hành động mới để
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dung

7

MSSV: 1070209


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

đạt được mục đích mới. Hoàn cảnh có vấn đề thường là những câu hỏi, bài tập hoặc
nhiệm vụ được đặt ra trong hoạt động nhận thức thực tiễn.[15, tr 27]
b. Tính gián tiếp:
- Trong quá trình tư duy, hoạt động nhận thức của con người nhanh chóng thoát
khỏi những SVHT cụ thể cảm tính mà sử dụng những khái niệm để biểu đạt chúng, thay
thế những sự vật cụ thể bằng những ký hiệu, bằng ngôn ngữ.[8, tr 114]
- Nhờ khả năng phản ánh gián tiếp của tư duy đã giúp con người nhận thức thế
giới một cách sâu sắc hơn và mở rộng khả năng hiểu biết của con người.
c. Tính trừu tượng hóa và khái quát hóa:
- Tư duy phản ánh bản chất chung cho nhiều SVHT, đồng thời đã trừu xuất khỏi
những SVHT đó những thuộc tính không phải bản chất chỉ giữ lại những dấu hiệu bản
chất chung nhất, đặc trưng cho nhiều SVHT cùng loại.[8, tr 114]
- Nhờ tính chất trừu tượng và khái quát, tư duy cho phép ta đi sâu vào bản chất và
mở rộng phạm vi nhận thức sang cả những SVHT cụ thể mới mà trước đây ta chưa biết.
d. Tư duy quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ:
- Ngôn ngữ là phương tiện, là hình thức biểu đạt của tư duy. Ngôn ngữ là một mặt
không thể tách rời của tư duy, không có ngôn ngữ thì không có tư duy. Ngược lại, nếu
không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là một chuỗi âm thanh vô nghĩa, không có nội dung.

biết, giữa cái đã có với cái chưa có. Con người càng có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực
nào đó càng nhận ra dễ dàng và đầy đủ những mâu thuẫn trong lĩnh vực đó. Chính vấn đề
được xác định này quy định toàn bộ những việc giải quyết sau đó. Đây là giai đoạn đầu
tiên và quan trọng nhất của quá trình tư duy.[15,tr 28]
b. Xuất hiện các liên tưởng – huy động các tri thức, kinh nghiệm:
Sau khi xác định vấn đề, trong đầu xuất hiện những tri thức, kinh nghiệm, những
liên tưởng nhất định liên quan đến vấn đề đã xác định.[15,tr29]
c. Sàng lọc các liên tưởng và hình thành giả thuyết:
Các tri thức, kinh nghiệm và liên tưởng xuất hiện đầu tiên còn chưa thực sát với
nhiệm vụ đề ra. Trên cơ sở sàng lọc này, sẽ hình thành giả thuyết là cách giải quyết cho
phù hợp với nhiệm vụ của tư duy. Chính sự đa dạng của các giả thuyết cho phép xem xét
cùng một SVHT từ nhiều hướng khác nhau để tìm hướng giải quyết đúng đắn nhất.[15,tr
30]
d. Kiểm tra giả thuyết:
- Nếu kiểm tra giả thuyết đúng thì khẳng định giả thuyết và đi đến giải quyết vấn
đề.
- Nếu giả thuyết sai thì bác bỏ, xây dựng giả thuyết mới rồi kiểm tra lại.
e. Giải quyết vấn đề:
Khi giả thuyết đã được kiểm tra và khẳng định thì nó sẽ được thực hiện tức là đi
đến câu trả lời cho vấn đề đặt ra.[15,tr 30]

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dung

9

MSSV: 1070209


Luận văn tốt nghiệp


và phức tạp của chúng.
c. Trừu tượng hóa và khái quát hóa:
- Trừu tượng hóa: là quá trình gạt bỏ khỏi đối tượng những bộ phận, thuộc tính,
quan hệ không cần thiết, chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết để tư duy.
- Khái quát hóa: là quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau
trên cơ sở có một số thuộc tính giống nhau nào đó.

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dung

10

MSSV: 1070209


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

- Nhưng cũng cần phân biệt những thuộc tính chung giống nhau và những thuộc
tính chung là những dấu hiệu bản chất. Nếu khái quát hóa chỉ dựa trên những dấu hiệu
chung giống nhau thì dễ dẫn đến sai lầm.
- Trừu tượng hóa và khái quát hóa có quan hệ qua lại với nhau. Muốn khái quát
đối tượng thì ta phải trừu tượng hóa những dấu hiệu không bản chất. Khái quát hóa chính
là sự tổng hợp ở mức độ cao.
d. Cụ thể hóa: là sự vận dụng những khái niệm, định luật, quy tắc đã được khái
quát hóa vào thực tiễn nhằm giải quyết những nhiệm vụ cụ thể.
2.1.5.

Các thao tác tư duy thường dùng trong dạy học Vật lý:



- Nhìn sự vật, hiện tượng một cách toàn thể để hiểu bản chất của chúng và giải
thích được chúng.
- Nhìn thấy tổng hợp cấu trúc bên trong của một thiết bị để hiểu nguyên tắc hoạt
động của nó.
* Chú ý: Phân tích và tổng hợp là hai thao tác đối ngược nhau nhưng có mối quan
hệ biện chứng, không có phân tích sẽ không có tổng hợp, ngược lại không có tổng hợp thì
công việc phân tích trở nên vô nghĩa.
c. Phân tích – tổng hợp:
Phương pháp phân tích – tổng hợp là một phương pháp nghiên cứu khoa học độc
lập. Các bước làm việc của phương pháp nghiên cứu này là:
- Quan sát tổng quát đặc điểm bề ngoài và tác dụng của đối tượng.
- Chia đối tượng thành các yếu tố nhỏ.
- Tách các yếu tố bản chất ra khỏi các yếu tố không bản chất.
- Tưởng tượng ra một đối tượng mới sau khi đã trừu tượng hóa các yếu tố không
bản chất ở đối tượng cũ.
- So sánh đối tượng này với các đối tượng cùng loại đã được nghiên cứu bằng
cách tương tự.
- Khái quát hóa kết quả nghiên cứu cho mọi đối tượng cùng loại, có cùng bản
chất, chức năng giống nhau.
- Kiểm tra sự khái quát hóa nói trên với đối tượng khác cùng loại, không thuộc số
đối tượng đã nghiên cứu.
c. Trừu tượng hóa:
Hoạt động tư duy trừu tượng hóa đã làm cho việc nghiên cứu đối tượng, trình bày
một sự việc, một quá trình trở nên đơn giản rất nhiều. Vấn đề chủ yếu là, khi làm việc với
đối tượng, nhà nghiên cứu cần tập trung vào đặc điểm, tính chất nào và cái gì cần tạm
thời lãng quên. Điều này cũng giúp ích trong việc giảng dạy của GV trong việc mô tả,
trình bày một sự vật, hiện tượng (chỉ nhấn mạnh cái gì cần thiết) nhằm làm cho HS dễ
nhận thức được vấn đề.
d. Khái quát hóa:

tượng mà kết quả không thay đổi.
- Quy nạp khoa học (hay phương pháp quy nạp – diễn dịch): Khi rút ra một kết
luận (quy nạp), các nhà khoa học đã thí nghiệm với số đối tượng, số lần đủ lớn nhưng kết
luận ấy vẫn chưa phải là chân lý, cần được kiểm tra ở một đối tượng khác hoặc vận dụng
vào thực tế (diễn dịch). Quá trình này luôn có trong các bài học VL.
f. Suy luận diễn dịch:
Diễn dịch là một trong những phương thức lập luận và là một phương pháp nghiên
cứu cơ bản. Diễn dịch theo nghĩa rộng là mọi sự suy diễn, theo nghĩa hẹp và thông dụng
là sự chứng minh hoặc suy diễn đi từ một hay một vài kết luận có tính chất tiên đề để có
một phán đoán mới (hệ quả). Diễn dịch còn là con đường vận dụng một kết quả, một quy

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dung

13

MSSV: 1070209


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

luật vào giải quyết một vấn đề phát sinh trong thực tế để giải thích, để thiết kế cái mới
trong kỹ thuật.
2.1.6.

Các loại tư duy:

a. Xét theo mức độ phát triển của tư duy:
Theo Lê Phước Lộc [8,tr 30]


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

d. Xét theo quá trình dạy học VL:
Theo Nguyễn Đức Thâm [8,tr 113]
- Tư duy kinh nghiệm: là loại tư duy chủ yếu dựa trên kinh nghiệm cảm tính và sử
dụng phương pháp “ thử & sai”. Chủ thể phải thực hiện một nhiệm vụ nào đó, thử mò
mẫm thực hiện một số thao tác, hành động nào đó, ngẫu nhiên gặp một trường hợp thành
công, sau đó lặp lại đúng như thế mà không biết nguyên nhân tại sao. Kiểu tư duy này
đơn giản, không cần phải rèn luyện nhiều, có ích trong hoạt động hằng ngày.
- Tư duy lý luận: là loại tư duy giải quyết nhiệm vụ được đề ra dựa trên sử dụng
những khái niệm trừu tượng, những tri thức lý luận.
- Tư duy lôgic: là loại tư duy tuân theo các quy tắc, quy luật của lôgic học một
cách chặt chẽ, chính xác, không phạm sai lầm trong các lập luận, biết cách phát hiện ra
các mâu thuẫn. Nhờ đó nhận thức được đúng đắn chân lý khách quan.
- Tư duy VL: là sự quan sát các hiện tượng VL, phân tích một hiện tượng phức
tạp thành những bộ phận đơn giản và xác lập giữa chúng những mối quan hệ và sự phụ
thuộc xác định, tìm ra mối liên hệ giữa mặt định tính và mặt định lượng của các hiện
tượng và các đại lượng VL, dự đoán các hệ quả mới từ các lý thuyết và áp dụng những
kiến thức khái quát thu được vào thực tiễn.
* Tóm lại:
Qua phần khái quát về tư duy, nắm được thế nào là tư duy, các thao tác của tư
duy, các giai đoạn của quá trình tư duy, cách phân loại tư duy. Từ đó có thể hiểu được
hoạt động tư duy của HS trong quá trình nhận thức VL cũng như trong quá trình giải
BTVL. Trên cơ sở đó đi đến tìm hiểu các biện pháp phát triển tư duy sao cho phù hợp với
quá trình nhận thức nói chung và quá trình tư duy khi giải BTVL nói riêng.
2.2. Phát triển tư duy trong quá trình nhận thức:
Theo Nguyễn Đức Thâm [8,tr 119], để phát triển tư duy của HS chúng ta cần:

những nhiệm vụ có vấn đề.
- Cùng một hiện tượng VL, GV có thể tạo ra tình huống này hoặc tình huống khác
tùy theo sự chuẩn bị của HS và sự sáng tạo của GV.
- Có thể tạo ra nhu cầu, hứng thú của HS bằng các kích thích bên ngoài, chẳng
hạn: khen thưởng, sự ngưỡng mộ của bạn bè, gia đình, sự hứa hẹn một tương lai tươi đẹp,
thực tế xây dựng quê hương, đất nước... Những sự kích thích này không được thường
xuyên, bền vững và phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh của mỗi HS.
2.2.2.

Xây dựng một lôgic nội dung phù hợp với đối tượng HS:

- Trong chương trình SGK hiện nay, đã đưa ra một lôgic trình bày kiến thức phù
hợp với trình độ chung của đa số HS trong cả nước. Tuy nhiên, đối với mỗi đối tượng HS
cụ thể ở từng vùng, từng trường, từng lớp, GV vẫn có thể và cần thiết tự hoạch định ra
con đường thích hợp, có những nét riêng phù hợp với HS của mình để có thể giúp HS đạt
đến mục tiêu như quy định trong chương trình chung.
- GV cần phân chia một vấn đề lớn thành chuỗi những vấn đề nhỏ hơn mà HS có
thể tự lực giải quyết được với sự hướng dẫn cần thiết của GV. Công việc này đòi hỏi GV
một sự sáng tạo, chứ không phải chỉ nhắc đi, nhắc lại.

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dung

16

MSSV: 1070209


Luận văn tốt nghiệp

2.2.3.


- Theo [6, tr 14], tư duy và ngôn ngữ có mối quan hệ biện chứng. Một người tư
duy tốt sẽ biết cách sử dụng ngôn ngữ và có giàu ngôn ngữ. Ngược lại, rèn luyện cho HS
nói sao cho đúng, cho rành mạch, tăng cường sử dụng vốn từ chuyên môn ... sẽ phát triển
tư duy của HS.
- Theo Phạm Minh Hạc [2,tr135], việc phát triển tư duy không thể tách rời việc
trau dồi ngôn ngữ. Không phải chỉ có GV văn học, mà tất cả GV các bộ môn đều có
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dung

17

MSSV: 1070209


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

nhiệm vụ trau dồi ngôn ngữ cho HS qua bộ môn của mình. Bởi vì có nắm được ngôn ngữ
khoa học của từng bộ môn thì HS mới có phương tiện để tư duy tốt trong các lĩnh vực
khoa học khác nhau.
- Tuy kiến thức VL rất đa dạng nhưng cách phát biểu các định nghĩa, quy tắc, định
luật VL cũng có những hình thức chung nhất định, GV có thể chú ý rèn luyện cho HS
quen dần:
 Để miêu tả một loại hiện tượng cần những thuật ngữ diễn tả những dấu hiệu
đặc trưng của loại hiện tượng đó.
 Định nghĩa một đại lượng VL thường gồm hai phần: một phần nêu lên đặc
điểm định tính (đại lượng này đặc trưng hay biểu thị cho một đặc tính nào của SVHT), và
một phần nêu lên đặc điểm định lượng (đại lượng này đo bằng cách nào, quan hệ với các
đại lượng khác theo công thức nào).

GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

- Trong giai đoạn xây dựng kiến thức, HS nắm được lý thuyết trừu tượng và khái
quát là các khái niệm, định luật… Còn BTVL tạo điều kiện cho HS tiếp xúc với các hiện
tượng tự nhiên cụ thể, sinh động, kích thích sự tò mò, ham hiểu biết của HS. Các BTVL
đóng vai trò là các tình huống có vấn đề buộc HS phải tư duy mới giải quyết được.
- Kinh nghiệm chứng tỏ rằng bài tập gây cho HS nhiều hứng thú. Việc thực hiện
thành công những thí nghiệm VL mà kết quả của nó xác nhận điều tiên đoán lý thuyết
làm cho HS có cảm giác hài lòng và vui sướng.
b. Xây dựng nội dung BTVL phù hợp với đối tượng HS:
- Tùy vào mỗi đối tượng HS, GV lựa chọn nội dung bài tập, cách hướng dẫn HS
sao cho phù hợp nhưng vẫn đảm bảo HS đạt được những mục tiêu chung của chương
trình.
c. BTVL giúp rèn luyện cho HS kỹ năng thực hiện các thao tác tư duy:
- BTVL là tình huống có vấn đề để HS tư duy. Hoạt động tư duy diễn ra bắt đầu từ
khi gặp tình huống có vấn đề và tiếp nhận vấn đề, từ đó tìm cách giải quyết các tình
huống cho đến khi giải quyết xong vấn đề.
- Các thao tác tư duy thường được sử dụng trong khi giải BTVL:
 Phân tích các tình huống đặt ra trong bài toán, phân tích các dữ kiện đã cho và
các yêu cầu để tìm ra các quy luật VL có liên quan.
Trừu tượng hóa các yếu tố không liên quan để tìm ra các dấu hiệu, các tính chất
có liên quan đến vấn đề cần tìm.
 Tổng hợp các dữ kiện, các quy luật vật lý để xác lập các mối liên hệ.
 Cụ thể hóa các phương pháp suy luận để luận giải, hoặc so sánh các dấu hiệu
giống nhau để có sự lập luận tương tự.
 Khái quát hóa từ nhiều bài toán để rút ra phương pháp giải cho từng dạng toán.
- VL học là một khoa học thực nghiệm. Các khái niệm, các định luật thì rất đơn
giản nhưng biểu hiện của chúng trong tự nhiên thì rất phức tạp. Bởi vì một SVHT có thể
bị chi phối bởi nhiều định luật, nhiều nguyên nhân đồng thời hoặc liên tiếp chồng chéo
lên nhau. BTVL sẽ giúp cho HS phân tích để nhận biết được những trường hợp phức tạp

học mà còn giúp bồi dưỡng cho HS tư duy sáng tạo. Đặc biệt là những bài tập giải thích
hiện tượng, bài tập thí nghiệm, bài tập thiết kế dụng cụ thí nghiệm.
d. BTVL tập dượt để HS giải quyết vấn đề nhận thức theo phương pháp nhận thức
khoa học:
- Theo Phạm Hữu Tòng [10,tr 9], BTVL là phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt
trong việc rèn luyện tư duy, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho HS. Bởi vì
giải BTVL là một hình thức làm việc tự lực căn bản của HS. Trong khi giải BTVL, HS
phải phân tích đề bài, tự xây dựng những lập luận, thực hiện tính toán, khi cần thiết phải
tiến hành các thí nghiệm, thực hiện các phép đo, xác định sự phụ thuộc hàm số giữa các
đại lượng, kiểm tra các kết luận của mình. Trong điều kiện đó tư duy lôgic, tư duy sáng
tạo của HS được phát triển, năng lực giải quyết vấn đề độc lập của HS được nâng cao.
e. BTVL giúp rèn luyện ngôn ngữ VL cho HS:
- Khi giải BTVL, HS phải sử dụng các từ ngữ VL, những lập luận của bản thân để
đi đến kết luận. Chính quá trình giải BTVL tạo cơ hội cho HS rèn luyện ngôn ngữ VL
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dung

20

MSSV: 1070209


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

của mình. GV cần tạo cơ hội cho HS tự diễn đạt ý kiến của mình, hướng dẫn cho HS sử
dụng đúng các thuật ngữ chuyên môn.
2.3.2.

Nguyên tắc chung về chọn nội dung BTVL nhằm phát triển tư duy:


21

MSSV: 1070209


Luận văn tốt nghiệp

2.4.1.

GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

Phân loại các dạng toán dựa vào hành động nhận biết của người giải:

- Có nhiều cách phân loại BTVL: phân loại theo nội dung, theo phương thức cho
điều kiện và phương thức giải, theo yêu cầu định tính hoặc định lượng của việc nghiên
cứu vấn đề, theo yêu cầu luyện tập kỹ năng hoặc phát triển tư duy sáng tạo của HS trong
quá trình dạy học…[10, tr 10]
- Khi đứng trước một bài toán, đầu tiên người giải sẽ xem bài toán này có giống
với bài toán đã từng giải hoặc đã biết cách giải hay không? Đó là hành động nhận biết
của người giải. Sẽ xảy ra ba tình huống:
 Bài toán hoàn toàn xa lạ với người giải và người giải chưa biết cách giải.
 Bài toán có cách giải hoàn toàn giống với bài toán mẫu (ở đây bài toán mẫu là
những bài toán mà người giải đã giải hoặc đã biết cách giải).
 Bài toán có một phần giống bài toán mẫu, một phần khác hơn so với bài toán
mẫu.
- Dựa vào cách phân loại BTVL theo hành động nhận biết của người giải ta sẽ có
các kiểu bài toán sau:
a. Bài toán angôrit: là bài toán đã có sẵn thuật toán,được dùng để rèn luyện cho
HS áp dụng được những kiến thức xác định để giải từng loại bài toán theo một mẫu cho

2.4.2.

Phương án lập hệ thống liên kết các bài toán angôrit – ơritxtic:

Các bước tiến hành lập hệ thống liên kết các bài toán angôrit – ơritxtic:
- Nắm vững nội dung kiến thức của chương “động học chất điểm” VL 10 NC.
- Tìm hiểu các dạng bài tập của chương “động học chất điểm” từ đơn giản đến
phức tạp. Tham khảo và nắm được cách giải của các dạng bài tập đó. Sắp xếp các bài
toán có angôrit giải gần giống nhau vào chung một nhóm.
- Trong mỗi nhóm bài tập vừa sắp xếp, chọn một bài toán mẫu và lập angôrit giải.
Bài toán mẫu thường đơn giản, dễ lập angôrit giải và phải đặc trưng cho các bài tập trong
nhóm.
- Trên cơ sở angôrit giải của bài toán mẫu, lựa chọn các bài toán có một phần
giống với bài toán mẫu, một phần hoàn toàn khác với bài toán mẫu. Những bài toán này
HS có thể dựa trên angôrit giải của bài toán mẫu, vận dụng các kiến thức đã học và suy
luận của bản thân có thể giải được.
- Sắp xếp các bài toán được lựa chọn thành một hệ thống liên kết các bài toán
angôrit – ơritxtic. Các bài toán này vừa được sắp xếp theo nội dung chương trình, vừa sắp
xếp tăng dần về độ khó, phức tạp dần về những yêu cầu của sự phát triển tư duy.
- Hệ thống liên kết các bài toán angôrit – ơritxtic cần đáp ứng các yêu cầu về lựa
chọn BTVL để phát triển tư duy của HS. Các bài toán phải thể hiện được tính thừa kế, bài
trước phải làm cơ sở để giải bài toán kế tiếp. Bài toán mới không nên quá rập khuôn theo
bài toán mẫu nhưng cũng không nên quá khó đối với HS thì cũng không kích thích được
sự tự tư duy.
* Tóm lại:
Như đã biết ở trên, các bài toán angôrit – ơritxtic đã có một bộ phận nào đó giống
với bài toán đã giải nhưng vẫn chứa tình huống có vấn đề kích thích sự tư duy của HS.
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dung

23

cho đề tài.
3.2. Hệ thống các bài toán angôrit – ơritxtic phần “Động học chất điểm” VL 10
NC:
3.2.1.

Hệ thống liên kết các bài toán về chuyển động thẳng đều:

a. Kiến thức cơ bản:
Về kiến thức cơ bản HS đã biết:
- Độ dời = độ biến thiên tọa độ = tọa độ lúc cuối – tọa độ lúc đầu =

 x  x 2  x1

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dung

24

MSSV: 1070209


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

- Quãng đường đi:
 Nếu vật chỉ chuyển động theo chiều dương của trục tọa độ thì : s  x  x 2  x1
 Các trường hợp khác: s  x
- Vận tốc trung bình: v tb 

x


α

t

x0  0 , t0  0

x0  0 , t0  0

v  0

v  0

 Trên cùng một hệ trục tọa độ:
~ Nếu hai đồ thị song song nhau thì hai vật chuyển động cùng chiều và có vận tốc
bằng nhau.

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Dung

25

MSSV: 1070209



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status