LUẬN văn sư PHẠM vật lý phát triển tư duy học sinh thông qua hệ thống liên kết các bài toán angôrit ơrixtic trong phần các định luật bảo toàn (vật lý 10 nâng cao) - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM

PHẦN “CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN”
VẬT LÝ 10 NÂNG CAO

Luận văn Tốt nghiệp
Ngành: SƯ PHẠM VẬT LÝ

GV hướng dẫn: Thầy Bùi Quốc Bảo
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Minh Chí.
Lớp: Sư phạm Vật lý I K33.
MSSV:1070205.

Cần Thơ, 5/2011


Luận văn tốt nghiệp

LỜI CẢM ƠN
*********

Sau thời gian thực hiện đề tài, tôi đã học hỏi và tích lũy thêm được nhiều
kiến thức quý báu về lĩnh vực mà mình nghiên cứu. Để đạt được thành quả
này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, gia đình, bạn bè. Do
đó tôi xin dành trang đầu tiên của luận văn tốt nghiệp để gửi lời cảm ơn chân
thành nhất đến những người đã giúp đỡ tôi.
Đầu tiên, tôi xin tri ân thầy Bùi Quốc Bảo là cán bộ trực tiếp hướng dẫn,
chỉ dạy tận tình, đóng góp những ý kiến quý báu để tôi có thể hoàn thành luận
văn tốt nghiệp của mình.
Kế đến, tôi xin cảm ơn tất cả quý thầy cô thuộc Bộ môn Vật lý, khoa sư

2.1. Khái quát về tư duy ..................................................................................................4
2.1.1. Định nghĩa .............................................................................................................4
2.1.2. Đặc điểm của tư duy .............................................................................................4
2.1.3. Các giai đoạn của quá trình tư duy .......................................................................6
2.1.4. Các thao tác của quá trình tư duy..........................................................................7
2.1.5. Các thao tác tư duy thường dùng trong dạy học vật lý...........................................8
2.1.6. Các loại tư duy ....................................................................................................12
2.1.7. Các sản phẩm của tư duy ....................................................................................13
2.2. Phát triển tư duy trong quá trình nhận thức ........................................................14
2.2.1. Con đường nhận thức của con người .................................................................14
2.2.2. Rèn luyện và phát triển các phẩm chất trí tuệ .....................................................15
2.3. Phát triển tư duy thông qua quá trình giải bài tập vật lý .....................................16
2.3.1. Bài tập vật lý là phương tiện để phát triển tư duy ................................................16
2.3.2. Nguyên tắc chung về chọn nội dung bài tập vật lý nhằm phát triển tư duy.........17
2.4. Phân loại các dạng bài toán và lập hệ thống liên kết các bài toán angôrit –
ơritxtic ............................................................................................................................18
2.4.1. Phân loại các dạng toán dựa vào hành động nhận biết của người giải ..............18

GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

3

SVTH: Nguyễn Minh Chí


Luận văn tốt nghiệp
2.4.2. Phương án lập hệ thống liên kết các bài toán angôrit – ơritxtic..........................19
3. CƠ SỞ THỰC TẾ CỦA ĐỀ TÀI ...............................................................................21
3.1. Một số ý kiến về bài tập vật lý phần “ Các định luật bảo toàn”............................21
3.2. Hệ thống các bài toán angôrit – ơritxtic phần “Các định luật bảo toàn” .............21

1. MỞ ĐẦU:
1.1. Lý do chọn đề tài:
Đất nước chúng ta đang đi lên trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Để có thể vững bước trên con đường này đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới đồng
bộ cả mục đích, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học nhằm đảm bảo cho
thế hệ trẻ tiếp thu được những tinh hoa của nền văn hóa nhân loại, mặt khác phải
phát huy được tính năng động cá nhân, bồi dưỡng năng lực sáng tạo…Muốn làm
được như vậy thì việc phát triển tư duy học sinh là nhiệm vụ hàng đầu của người
giáo viên. Bài toán vật lý là một trong những công cụ hữu hiệu nhất mà người giáo
viên có thể sử dụng để phát triển tư duy cho học sinh.
Bài toán vật lý là một trong ba bộ phận cấu thành nên môn vật lý ở trường
phổ thông, và được hiểu là một vấn đề đặt ra đòi hỏi học sinh phải giải quyết nhờ
những suy luận lôgic, những phép toán và thí nghiệm dựa trên cơ sở các định luật
và các phương pháp vật lý. Hiểu theo nghĩa rộng hơn mỗi vấn đề xuất hiện do
nghiên cứu tài liệu giáo khoa, tài liệu mới cũng chính là một bài toán đối với học
sinh. Sự tự tư duy, định hướng một cách tích cực để giải quyết vấn đề đó luôn luôn
là việc tiến hành giải bài toán.
Trong quá trình dạy học vật lý các bài toán vật lý có tầm quan trọng đặc biệt
và được sử dụng dưới nhiều mục đích khác nhau:
- Bài toán vật lý được sử dụng như là phương tiện nghiên cứu tài liệu mới khi
trang bị kiến thức mới cho học sinh nhằm đảm bảo học sinh lĩnh hội được kiến thức
mới một cách sâu sắc và vững chắc nhất.
- Bài toán vật lý rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng kiến thức, khả
năng liên hệ lý thuyết với thực tế, học tập với đời sống.
- Bài toán vật lý có tầm quan trọng đặc biệt trong việc rèn luyện tư duy, bồi
dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho học sinh.
- Bài toán vật lý là phương tiện ôn tập, củng cố kiến thức đã học một cách
sinh động và có hiệu quả.
- Bài toán vật lý là phương tiện kiểm tra đánh giá chất lượng học sinh một
cách khách quan, chính xác.

luyện các thao tác tư duy thông qua giải bài tâp vật lý.
1.4. Nhiệm vụ của đề tài:
- Tìm hiểu khái quát về tư duy và sự phát triển tư duy trong quá trình nhận
thức.
- Tìm hiểu tổng quan về angôrit - ơritxtic và phương pháp angôrit - ơritxtic
dạy học.

GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

6

SVTH: Nguyễn Minh Chí


Luận văn tốt nghiệp
- Lập ra các hệ thống bài toán angôrit – ơritxtic phần các định luật bảo toàn
(vật lý 10 nâng cao), và chỉ ra đâu là điểm giúp học sinh phát triển tư duy qua từng
loại toán.
1.5. Phương pháp nghiên cứu đề tài:
- Trong đề tài này phương pháp chủ yếu là nghiên cứu tài liệu, trên cơ sở các
tài liệu được nghiên cứu ta tiến hành phân tích, tổng hợp… Từ đó xây dựng được hệ
thống liên kết các bài toán angôrit – ơritxtic.
1.6. Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
- Nghiên cứu phương pháp angôrit trong dạy học và hệ thống các bài toán
trong sách giáo khoa (vật lý 10 nâng cao), các sách bài tập vật lý đối với phần các
định luật bảo toàn, để lập ra hệ thống liên kết các bài toán angôrit – ơritxtic.

2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI:
2.1. Khái quát về tư duy:



2.1.2. Đặc điểm của tư duy:
* Tư duy chỉ nảy sinh khi gặp hoàn cảnh có vấn đề. Nhưng không phải bất
cứ tác động nào của hoàn cảnh đều xuất hiện quá trình tư duy. Hoàn cảnh có vấn đề
là những tình huống mà bằng vốn hiểu biết cũ, phương pháp hành động đã có ta
không thể giải quyết được. Muốn nhận thức và giải quyết hoàn cảnh có vấn đề mới
thì con người cần phải có những tri thức và phương thức hành động mới. Hoàn cảnh
có vấn đề thường là những câu hỏi, bài tập hay những nhiệm vụ được đặt ra trong
hoạt động nhận thức thực tiễn. Khi gặp hoàn cảnh có vấn đề, chủ thể của quá trình
tư duy cần phải xác định được cái gì đã biết, cái gì cần tìm và mối liên hệ giữa cái
đã biết và cái cần tìm như thế nào để có nhu cầu muốn biết, muốn tìm cái mới.
* Tư duy có khả năng phản ánh sự vật hiện tượng một cách gián tiếp thông
qua các dấu hiệu, kinh nghiệm, ngôn ngữ, những công cụ lao động…Nhờ tính phản
ánh gián tiếp của tư duy đã giúp con người phản ánh được quá khứ, hiện tại và cả
trong tương lai, phản ánh được những cái mà cảm giác tri giác không thể phản ánh
được.
* Trong một sự vật hiện tượng bao giờ cũng có những thuộc tính riêng đặc
trưng cho đối tượng đó và có những thuộc tính chung khái quát của hàng loạt các
đối tượng cùng loại. Tư duy không chỉ phản ánh sự vật hiện tượng một cách riêng lẻ
cụ thể, mà có khả năng phản ánh sự vật hiện tượng một cách khái quát. Có nghĩa là
tư duy có khả năng trừu xuất khỏi đối tượng những thuộc tính không bản chất mà
chỉ giữ lại những dấu hiệu bản chất chung nhất đặc trưng cho sự vật hiện tượng
cùng loại. Điều đó cho phép con người không chỉ giải quyết những nhiệm vụ trước
mắt mà có khả năng dự đoán được tương lai.
* Trong nhận thức cảm tính dù có ngôn ngữ hay không có ngôn ngữ tham gia
thì quá trình cảm giác, tri giác vẫn diễn ra. Nhưng nếu không có ngôn ngữ thì không
có bất cứ một quá trình tư duy nào, bởi vì, ngôn ngữ là hình thức biểu đạt những sản
GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

8

này xuất hiện trong đầu những liên tưởng, những tri thức và kinh nghiệm liên quan
đến vấn đề cần giải quyết.
+ Sàng lọc các liên tưởng và hình thành giả thuyết: Các tri thức, kinh
nghiệm và liên tưởng xuất hiện đầu tiên còn mang tính chất rộng rãi chưa thực sát
với nhiệm vụ đề ra. Trên cơ sở sàng lọc này sẽ hình thành giả thuyết tức là cách giải
quyết cho phù hợp với nhiệm vụ của tư duy. Chính sự đa dạng của các giả thuyết

GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

9

SVTH: Nguyễn Minh Chí


Luận văn tốt nghiệp
cho phép xem xét cùng một sự vật hiện tượng từ nhiều khía cạnh khác nhau để tìm
ra cách giải quyết đúng đắn nhất.
+ Kiểm tra giả thuyết: Do sự phong phú của giả thuyết nên phải tiến hành
kiểm tra tính đúng đắn để giải quyết nhiệm vụ đặt ra một cách chính xác nhất. Kết
quả kiểm tra giả thuyết có thể là đúng hoặc sai.
- Nếu giả thuyết đúng thì khẳng định giả thuyết và đi đến giải quyết vấn
đề.
- Nếu giả thuyết sai thì bác bỏ, xây dựng giả thuyết mới, rồi kiểm tra lại.
+ Giải quyết vấn đề: Sau khi xác định vấn đề, huy động các tri thức kinh
nghiệm, sàng lọc liên tưởng và hình thành giả thuyết. Nếu giả thuyết đã được kiểm
tra và khẳng định thì nó sẽ được thực hiện, tức là đi đến câu trả lời cuối cùng cho
vấn đề được đặt ra.
Sơ đồ các giai đoạn của quá trình tư duy của Platônốp
Nhận thức vấn đề
Xuất hiện các liên tưởng

* So sánh: là sự xác định sự giống nhau hay khác nhau, sự bằng nhau hay
không bằng nhau giữa các sự vật hiện tượng. Thao tác này cũng có quan hệ chặt chẽ
với phân tích và tổng hợp. So sánh là cơ sở của mọi sự hiểu biết và tư duy. Nhờ có
so sánh các sự vật hiện tượng với nhau mà ta có thể lĩnh hội các tài liệu học tập với
tất cả tính đa dạng độc đáo và phức tạp của chúng.
* Trừu tượng hóa và khái quát hóa:
+ Trừu tượng hóa: là quá trình gạt bỏ khỏi đối tượng những bộ phận, thuộc
tính, quan hệ không cần thiết chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết để tư duy.
+ Khái quát hóa: là quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tượng khác
nhau trên cơ sở có một số thuộc tính giống nhau nào đó.
+ Nhưng ta cũng cần phân biệt những thuộc tính chung gồm có hai loại:
những thuộc tính chung giống nhau và những thuộc tính chung là những thuộc tính
bản chất. Vì vậy, nếu khái quát hóa chỉ dựa trên những dấu hiệu chung giống nhau
thì dễ dẫn đến sai lầm.
+ Trừu tượng hóa và khái quát hóa có mối quan hệ qua lại với nhau. Muốn
khái quát hóa đối tượng thì ta phải trừu tượng hóa những dấu hiệu không bản chất.
Khái quát hóa chính là sự tổng hợp ở mức độ cao.
* Cụ thể hóa: là sự vận dụng những khái niệm, định luật, quy tắc đã được
khái quát hóa vào hoạt động thực tiễn nhằm giải quyết những nhiệm vụ cụ thể.
Tóm lại: Trong quá trình tư duy các thao tác tư duy có quan hệ mật thiết với nhau,
chúng thống nhất theo một hướng nhất định để giải quyết các nhiệm vụ của tư duy.
Việc thực hiện các thao tác tư duy có thể không tuân theo một thứ tự nhất định và
cũng không nhất thiết phải sử dụng tất cả các thao tác trong một quá trình tư duy.
GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

11

SVTH: Nguyễn Minh Chí



Chia quá trình thành từng giai đoạn.

+ Tổng hợp:
Sau khi phân tích sự vật, sự việc, công việc tiếp theo là tổng hợp, nhằm:
- Nhìn nhận sự vật, hiện tượng một cách toàn thể để hiểu bản chất của
chúng và giải thích được chúng.
- Nhìn thấy, tổng hợp cấu trúc bên trong của một thiết bị để hiểu nguyên
tắc hoạt động của nó.
+ Phân tích – tổng hợp:
Các bước của thao tác phân tích – tổng hợp:
- Quan sát tổng quát đặc điểm bề ngoài và tác dụng của đối tượng (vật,
tình trạng, quá trình…)
- Chia đối tượng thành các yếu tố nhỏ (các phần tử, dấu hiệu riêng lẻ, mối
quan hệ thành phần…)
GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

12

SVTH: Nguyễn Minh Chí


Luận văn tốt nghiệp
- Tách các yếu tố bản chất ra khỏi các yếu tố không bản chất.
- Tưởng tượng ra một đối tượng mới sau khi đã trừu tượng hóa các yếu tố
không bản chất ở đối tượng cũ.
- So sánh các đối tượng này với các đối tượng cùng loại đã được nghiên
cứu bằng cách tương tự.
- Khái quát hóa kết quả nghiên cứu cho mọi đối tượng cùng loại, có cùng
bản chất, chức năng giống nhau.
- Kiểm tra sự khái quát hóa nói trên với đối tượng khác cùng loại, không

Ví dụ: Mọi môi trường có chứa các ion hoặc các điện tử chuyển động tự do,
nếu đặt vào đó một điện trường thì sẽ có dòng điện chạy qua.
Chú ý: cần phân biệt “khái quát hóa” và “kết luận khái quát”. Khái quát hóa
là hoạt động tư duy, còn kết luận khái quát là kết quả của hoạt động tư duy đó.
+ Suy luận diễn dịch:
Diễn dịch là một trong những phương thức lập luận và là một phương pháp
nghiên cứu cơ bản. Diễn dịch theo nghĩa rộng là mọi sự suy diễn, theo nghĩa hẹp và
thông dụng là sự chứng minh hoặc suy diễn đi từ một hay một vài kết luận có tính
chất tiên đề để có một phán đoán mới (hệ quả). Diễn dịch còn là con đường vận
dụng một kết quả, một quy luật vào giải quyết một vấn đề phát sinh trong thực tế để
giải thích, trong kỹ thuật để thiết kế cái mới.
Ví dụ: từ định luật tổng quát của Newton: a = F/m hay F = m.a có thể suy
luận ra (diễn dịch) định luật quán tính: nếu không có lực tác dụng (F = 0) thì vật sẽ
không có gia tốc (a = 0), nghĩa là nó sẽ giữ nguyên trạng thái đứng yên hoặc chuyển
động thẳng đều.
+ Suy luận quy nạp:
Suy luận quy nạp là con đường tư duy đi từ việc phân tích nhiều đối tượng
của cùng một loại để rút ra kết luận về một dấu hiệu chung, một đặc tính chung cho
tất cả các đối tượng cùng loại. Phép quy nạp đảm bảo chuyển những sự kiện riêng lẻ
thành những nguyên lý phổ biến. Ví dụ: nghiên cứu tất cả kim loại, thấy chúng đều
dẫn điện, từ đó kết luận về khả năng dẫn điện của kim loại.
Suy luận quy nạp chỉ chắc chắn đúng khi ta nghiên cứu tất cả đối tượng của
loại ấy. Quy nạp như vậy gọi là quy nạp hoàn toàn.
Trong khoa học và đặc biệt là khoa học giáo dục có hai loại quy nạp thường
dùng là:
- Quy nạp không hoàn toàn: Trong dạy học, chúng ta có thể khảo sát tối
thiểu 3 trường hợp là có thể quy nạp. Vì chân lí trong sách giáo khoa đã được công
nhận, hơn nữa thời gian cũng không cho phép chúng tâ khảo sát hết mọi trường hợp.

GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

giải quyết một số vấn đề trong phạm vi hẹp.
* Tư duy lý luận: là loại tư duy giải quyết nhiệm vụ đuợc đề ra dựa trên sử
dụng những khái niệm trừu tuợng, những tri thức lý luận. Loại tư duy này không
dừng lại ở kinh nghiệm rời rạc mà hướng đến việc xây dựng quy tắc, quy luật chung
ngày một sâu rộng hơn, có khả năng tự định hướng hành động và luôn sử dụng
những tri thức khái quát đã có để lý giải, dự đoán những sự vật hiện tượng cụ thể.
Luôn luôn lật đi lật lại vấn đề để đạt đến sự nhất quán về mặt lý luận, xác định được
phạm vi ứng dụng của mỗi lý thuyết.
+ Tư duy lý luận rất cần thiết cho hoạt động nhận thức và phải rèn luyện lâu
dài mới có đuợc. Nhờ có tư duy lý luận, con nguời mới có thể đi sâu được vào bản

GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

15

SVTH: Nguyễn Minh Chí


Luận văn tốt nghiệp
chất của sự vật hiện tượng, phát hiện được quy luật vận động của chúng và sử dụng
những tri thức khái quát đó để cải tạo bản thân và làm biến đổi giới tự nhiên, phục
vụ lợi ích của mình.
* Tư duy lôgic: là tư duy tuân theo các quy tắc, quy luật của lôgic học một
cách chặt chẽ, chính xác, không phạm phải sai lầm trong các lập luận, biết phát hiện
ra các mâu thuẫn, nhờ đó mà nhận thức đúng đắn chân lý khách quan. Tư duy lôgic
được sử dụng trong mọi lĩnh vực của hoạt động nhận thức, cho nên phải thường
xuyên rèn luyện cho học sinh cách tư duy lôgic.
* Tư duy vật lý: là sự quan sát các hiện tượng vật lý, phân tích một hiện
tượng phức tạp thành những bộ phận đơn giản và xác lập giữa chúng những mối
quan hệ và những sự phụ thuộc xác định, tìm ra mối liên hệ giữa mặt định tính và

hướng có lợi cho con người, thỏa mãn được nhu cầu ngày càng tăng của xã hội.
2.1.7.

Các sản phẩm của tư duy:

* Khái niệm: là những tri thức đã được khái quát hóa một loạt các sự vật
cùng có chung những dấu hiệu bản chất nhất định. Một khái niệm bao giờ cũng bao
hàm một nội dung nhất định gọi là nội dung của khái niệm. Quá trình tư duy ở trình
độ nào đó sẽ giúp con người nhận thức được một số lượng khái niệm ở một mức độ
nhất định. Nên cùng một khái niệm nhưng có người sẽ hiểu rộng và sâu hơn những
người khác.
* Phán đoán: là một sự khẳng định hay phủ định về các sự vật, hiện tượng
hoặc những mối quan hệ nào đó giữa các sự vật hiện tượng trong thực tiễn. Phán
đoán có thể là một nhận định đơn giản hay phức tạp, nhưng phán đoán đôi khi cũng
không chính xác. Kinh nghiệm càng đa dạng, phong phú và toàn diện thì việc thực
hiện các thao tác tư duy càng hợp lý khi đó việc phán đoán càng chính xác.
* Suy lý: là một phán đoán được rút ra từ một phán đoán khác. Suy lý có hai
loại đó là suy lý diễn dịch và suy lý quy nạp.
+ Suy lý diễn dịch: từ phán đoán chung ta đi đến phán đoán riêng (từ cái
khái quát ta đi đến cái cụ thể).
+ Suy lý quy nạp: từ các phán đoán riêng lẻ ta đi đến phán đoán chung (từ
cái cụ thể ta tổng hợp thành cái khái quát).
- Quy nạp và diễn dịch là hai hình thức suy lý gắn bó chặt chẽ với nhau và
có vai trò vô cùng quan trọng trong việc lĩnh hội tri thức của con người.
2.2. Phát triển tư duy trong quá trình nhận thức:

2.2.1. Con đường nhận thức của con người:
* Vấn đề then chốt đầu tiên đặt ra cho con người trong quá trình nhận thức là
làm thế nào tìm ra chân lý, làm thế nào để biết rằng những điều mà nhà nghiên cứu
tìm ra là đúng chân lý khách quan? V.I. Lênin đã khái quát hóa những thành tựu của

(tình huống có vấn đề) để kích thích quá trình tư duy từ đó hình thành các liên
tưởng. Sau khi sàng lọc liên tưởng và hình thành giả thuyết thì sử dụng các thao tác
tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh…) để nhận thức vấn đề. Trong quá trính nhận
thức vấn đề thì các thao tác tư duy cũng được rèn luyện ngày càng nhanh hơn, chính
xác hơn, hiệu quả hơn và đó là cơ sở cho việc hình thành các khả năng phán đoán,
suy lý, nêu giả thuyết, hình thành khái niệm… Đó là biểu hiện rõ rệt của việc phát
triển tư duy trong quá trình nhận thức.
Tóm lại: Con người đi tìm chân lý xuất phát từ thực tiễn và cuối cùng trở lại thực
tiễn thông qua quá trình tư duy trừu tượng và lấy thực tiễn làm chân lý. Ta thấy rằng
trong dây chuyền trên thì thực tiễn là điểm bắt đầu và cũng là điểm kết thúc, nhưng
điểm kết thúc này lại bắt đầu cho một dây chuyền mới hơn, cao hơn, đòi hỏi sự tư
duy nhiều hơn… Thông qua việc đáp ứng các đòi hỏi đặt ra đó thì các thao tác tư
duy được rèn luyện. Từ đó giúp con người hình thành thói quen tư duy tích cực, tích
lũy được nhiều kinh nghiệm làm cơ sở cho việc nhận thức các vấn đề mới một cách
nhanh chóng, sáng tạo và chính xác.
2.2.2.

Rèn luyện và phát triển các phẩm chất trí tuệ:

* Tính linh hoạt của trí tuệ: đó chính là kỹ năng thay đổi phương hướng giải
quyết vấn đề phù hợp với sự thay đổi các điều kiện, biết tìm ra phương pháp mới để
giải quyết vấn đề, dễ dàng chuyển từ dạng hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí
tuệ khác, không rập khuôn theo mẫu. Khả năng nhìn một vấn đề, một hiện tượng
GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

18

SVTH: Nguyễn Minh Chí



các hiện tượng vật lý có liên quan, mối liên hệ giữa các đại lượng. Nhưng muốn giải
quyết được bài toán thì đòi hỏi người học sinh phải nắm vững kiến thức vật lý, vận
dụng tốt các thao tác tư duy khác nhau nhằm tìm ra mối liên hệ giữa các dữ liệu đã
cho và các dữ liệu cần tìm. Từ đó giúp cho việc giải bài toán trở nên đơn giản hơn.
GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

19

SVTH: Nguyễn Minh Chí


Luận văn tốt nghiệp
* Trong việc giải bài toán vật lý người giáo viên cần chỉ cho học sinh biết
cách vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề đặt ra, phải rèn luyện cho học sinh khả
năng giải quyết những bài toán từ đơn giản đến nâng cao thuộc nhiều phần khác
nhau của chương trình vật lý phổ thông.
* Trong quá trình giải bài toán vật lý phải đặc biệt coi trọng việc phát triển tư
duy và bảo đảm tính độc lập của học sinh. Vì qua đó các thao tác tư duy được rèn
luyện một cách đầy đủ, tích cực, nhanh chóng và mang lại hiệu quả rất cao. Giúp
học sinh có thể rút ra những kinh nghiệm, thủ thuật, phương pháp riêng cho từng
dạng toán. Đó là tính sáng tạo một biểu hiện cao của sự phát triển tư duy.
2.3.2.

Nguyên tắc chung về chọn nội dung bài tập vật lý nhằm phát triển

tư duy:
* Việc lựa chọn hệ thống bài tập nhằm mục đích phát triển tư duy học sinh là
vô cùng quan trọng đối với người giáo viên. Nó quyết định trực tiếp đến sự thành
công hay thất bại của quá trình giải bài tập nói riêng và quá trình dạy học vật lý nói
chung. Nên khi lựa chọn chúng ta cần phải tuân theo những nguyên tắc chung như


2.4.1. Phân loại các dạng toán dựa vào hành động nhận biết của người
giải:
* Bài toán vật lý rất phong phú và đa dạng. Nếu phân loại dựa trên các
phương tiện giải thì có bài tập định tính, bài tập tính toán, bài tập thí nghiệm, bài tập
đồ thị. Nếu dựa vào mức độ khó khăn đối với học sinh, có thể chia bài tập vật lý
thành bài tập tập dượt, bài tập tổng hợp, bài tập sáng tạo.
* Ta còn có thể phân loại bài tập vật lý theo khả năng tư duy sáng tạo, độc
lập trong suy nghĩ của học sinh. Trong cách phân loại này thì người giải đóng vai
trò là chủ thể khách quan để nhận biết vấn đề cần giải quyết thuộc loại nào và được
chia ra thành những loại sau:

+ Bài tập có sẵn thuật toán:
- Bài toán đang xét rất giống với bài toán nào đó mà học sinh đã làm trước
đây. Như vậy học sinh chỉ cần áp dụng thuật toán có sẵn trong kinh nghiệm để làm
sáng tỏ vấn đề cần giải quyết.
- Cần lưu ý học sinh không nên coi thường loại toán này (vì cho là mình
đã nắm được quy tắc giải) bởi vì để giải loại toán này người giải phải nắm vững qui
tắc đã học, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo. Đây là cơ sở quan trọng để giải những bài
toán phức tạp hơn. Yêu cầu đặt ra cho học sinh là:
 Nắm vững quy tắc giải đã học.
 Nhận dạng đúng dạng bài toán.
 Giải theo quy tắc đã học một cách thành thạo.

GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

21

SVTH: Nguyễn Minh Chí


việc rèn luyện và phát triển tư duy học sinh.

2.4.2. Phương án lập hệ thống liên kết các bài toán angôrit – ơritxtic:

GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

22

SVTH: Nguyễn Minh Chí


Luận văn tốt nghiệp
* Nắm vững nội dung chương trình, biết rõ chuẩn kiến thức và kỹ năng của
chương “Các định luật bảo toàn” (Vật lý 10 nâng cao).
* Tìm hiểu kỹ các dạng bài tập trong chương, tham khảo nhiều tài liệu, nghiên
cứu thật kỹ phương pháp giải các dạng bài tập đó, cố gắng thiết kế thành hệ thống
bài tập từ đơn giản đến phức tạp nhằm giúp học sinh rèn luyện kỹ năng vận dụng
kiến thức đã học một cách nhuần nhuyễn.
* Từ hệ thống bài tập trên chọn ra một bài toán đặc trưng nhất cho mỗi dạng và
lập angôrit giải. Bài toán được chọn cần đơn giản, dễ lập angôrit giải và phải đặc
trưng cho các bài tập trong phần nội dung đó. Bài toán này thường được dùng ở lớp
sau tiết học lý thuyết và là cơ sở giúp học sinh định hướng tư duy khi gặp những bài
tập phức tạp hơn.
* Trên cơ sở angôrit giải bài toán mẫu, tiến hành chọn lựa các bài toán hoàn
toàn giống với bài toán mẫu hoặc có một phần giống còn một phần khác. Các bài
toán này thì học sinh có thể giải quyết dựa vào angôrit giải của bài toán mẫu hoặc
vận dụng các kiến thức đã có trên cơ sở phát triển angôrit giải bài toán mẫu.
* Sắp xếp các bài toán được lựa chọn thành một hệ thống liên kết các bài toán
angôrit – ơritxtic. Các bài toán này vừa được sắp xếp theo nội dung chương trình,
vừa được phức tạp hóa dần nhằm ẩn chứa những yêu cầu của sự phát triển tư duy.

đề tài này chúng ta chỉ nghiên cứu chủ yếu các bài toán dạng tự luận.
* Đặc trưng của bài tập phần này chủ yếu là để vận dụng định luật bảo toàn
động lượng, định lý động năng và định luật bảo toàn cơ năng một cách đơn lẻ mà
chưa có các loại bài tập tổng hợp cần liên kết các kiến thức trong chương.
3.2. Hệ thống các bài toán angôrit – ơritxtic phần “Các định luật bảo toàn”
(vật lý 10 nâng cao):

3.2.1. Hệ thống liên kết các bài toán áp dụng định luật bảo toàn động
lượng:
a. Kiến thức cơ bản:
Về kiến thức cơ bản học sinh đã biết:
* Hệ kín (hệ cô lập) là hệ:
+ Không có ngoại lực tác dụng lên hệ.
+ Nếu có ngoại lực tác dụng lên hệ thì các ngoại lực phải triệt tiêu lẫn nhau,
hoặc hình chiếu của các ngoại lực trên một phương nào đó triệt tiêu (hệ kín theo
phương).
+ Trường hợp vật va chạm và đạn nổ có nội lực rất lớn so với ngoại lực nên
có thể coi gần đúng là hệ kín trong thời gian xảy ra hiện tượng.
* Khái niệm động lượng: Động lượng là một đại lượng véctơ, có cùng hướng
với véctơ vận tốc. Và được đo bằng tích của khối lượng và vận tốc của vật

P  mv , đơn vị của động lượng trong hệ SI là Kg.m/s.

GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

24

SVTH: Nguyễn Minh Chí



v  P
* Dạng khác của định luật II Newtơn: F  m. 
  P  F .t
t t

vì  P  m.v .
b. Hệ thống liên kết các bài toán:
Trên cơ sở kiến thức học sinh đã biết ta có thể lập hệ thống liên kết các bài
toán sau:
* Loại toán áp dụng định luật bảo toàn động lượng cho hệ kín trong đó các
vectơ động lượng trước và sau tương tác cùng phương với nhau.
* Loại toán áp dụng định luật bảo toàn động lượng cho hệ kín trong đó các
vectơ động lượng trước và sau tương tác khác phương với nhau.
* Loại toán áp dụng định luật bảo toàn động lượng cho hệ kín theo một
phương.
* Loại toán áp dụng định luật bảo toàn động lượng cho hệ có các vật chuyển
động tương đối trong các hệ quy chiếu khác nhau.
+ Loại toán 1: Áp dụng định luật bảo toàn động lượng cho hệ kín trong
đó các vectơ động lượng trước và sau tương tác cùng phương với nhau.

- Lập angôrit giải:
GVHD: Thầy Bùi Quốc Bảo

25

SVTH: Nguyễn Minh Chí



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status