LUẬN văn sư PHẠM vật lý tập THIẾT kế đề KIỂM TRA THEO PHÂN PHỐI CHƯƠNG TRÌNH vật lí 10 NÂNG CAO - Pdf 48

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƢ PHẠM

-----o0o-----

TẬP THIẾT KẾ ĐỀ KIỂM TRA THEO
PHÂN PHỐI CHƢƠNG TRÌNH VẬT LÍ 10
NÂNG CAO
Luận văn tốt nghiệp

GV hƣớng dẫn

SV thực hiện

Ths. GVC. Đặng Thị Bắc Lý

Nguyễn Minh Tình
Lớp: SP. Vật lí – Công nghệ K33
MSSV: 1070394

Cần Thơ, 5/2001


April, 2011
Luận Văn Tốt Nghiệp

Tập thiết kế đề kiểm tra vật lí 10 – Nâng cao

LỜI CẢM ƠN

“Uống nước nhớ nguồn” lời dạy cha ông vẫn còn nguyên vẹn đó! Có Thể nói rằng

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN


..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................


..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................

GVHD: Ths. GVC. Đặng Thị Bắc Lý

SVTH: Nguyễn Minh Tình


April, 2011
Luận Văn Tốt Nghiệp

Tập thiết kế đề kiểm tra vật lí 10 – Nâng cao

Phần 1. MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đánh giá kết quả học tập (ĐGKQHT) của học sinh là một khâu quan trọng và
không thể thiếu đƣợc của bất kì một quốc gia nào trên thế giới. Nó là một bộ phận cấu
thành của quá trình dạy học (QTDH) – có thể nói rằng KTĐG là khâu khép kín QTDH.
ĐGKQHT của HS đó không phải là việc làm “một sớm một chiều” mà đó là cả
một quá trình. Quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục
tiêu học tập của bản thân HS. Đánh giá còn là cơ sở cho những quyết định sƣ phạm của
giáo viên, nhà trƣờng, nhằm làm cho bản thân HS ngày càng tiến bộ hơn. Phƣơng tiện và
hình thức đánh giá quan trọng đó là kiểm tra. Nhƣ vậy, ngƣời giáo viên bộ môn muốn


Tập thiết kế đề kiểm tra vật lí 10 – Nâng cao

ĐGKQHT của HS. Luận văn tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Kim Linh (Bƣớc đầu
làm quen với việc thiết kế và thử nghiệm một số đề kiểm tra theo chƣơng trình vật lí 10
CCGD – ĐHCT – năm 2003). Tuy nhiên, nhìn một cách tổng quan, tôi nhận thấy rằng
việc thiết một đề kiểm tra cụ thể thì chƣa đƣợc các tài liệu trên trình bày một cách rõ
ràng, khúc chiếc.
Với những lí do trên đã thôi thức tôi quyết định thực hiện đề tài này. Hy vọng
rằng đó sẽ là một hành trang nho nhỏ cho tôi bƣớc vào nghề với biết bao khó khăn đang
chờ phía trƣớc.
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài này hướng tới các mục tiêu sau:
 Hệ thống lại lý thuyết về việc thiết kế đề kiểm tra.
 Vận dụng lí thuyết về thiết kế để thiết kế 6 đề kiểm tra theo phân phối chƣơng
trình vật lí 10 nâng cao.
4. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
Vì trong khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp, và thời gian nghiên cứu đề tài có
giới hạn nên trong đề tài này tôi chỉ tập trung làm những việc sau đây:
 Tập trung hệ thống lại lý thuyết về thiết kế đề kiểm tra (viết).
 Vận dụng lí thuyết trên để thiết kế các đề kiểm tra cụ thể theo phân phối của
chƣơng trình vật lí 10 nâng cao.
5. PHƢƠNG PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
 Nghiên cứu lý thuyết: tìm đọc các tài liệu liên quan, sau đó phân tích và tổng hợp
lý thuyết về thiết kế đề kiểm tra (viết).
 Vận dụng lí thuyết để thiết kế những đề kiểm tra cụ thể theo phân phối chƣơng
trình vật lí 10 nâng cao.
6. CÁC BƢỚC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
 Bước 1: Xác định mục tiêu của đề tài.
 Bước 2: Sƣu tầm, nghiên cứu tài liệu có liên quan.

sánh, đánh giá nhằm đƣa ra một quyết định”.
Theo giáo sƣ Trần Bá Hoành [4,tr.73] thì “Đánh giá là một quá trình hình thành
những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào việc phân tích những thông
tin thu đƣợc, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những
quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng điều chỉnh nâng cao chất lƣợng và hiệu quả
công việc”.
Trong lĩnh vực giáo dục, theo một số học giả phƣơng tây nhƣ: Taylor, Croubach,
Alkin, Stufflebean, Stake, Scriven,…[4,tr.73] thì “Đánh giá – đƣợc định nghĩa – là một
quá trình đƣợc tiến hành có hệ thống để xác định mức độ đạt đƣợc của học sinh về các
mục tiêu đào tạo. Nó có thể bao gồm những sự mô tả (liệt kê) về mặt định tính hay định
lƣợng những hành vi (hoạt động) của ngƣời học cùng với sự nhận xét, đánh giá những
hành vi này đối chiếu với sự mong muốn đạt đƣợc về hành vi đó”.

GVHD: Ths. GVC. Đặng Thị Bắc Lý

-3-

SVTH: Nguyễn Minh Tình


April, 2011
Luận Văn Tốt Nghiệp

Tập thiết kế đề kiểm tra vật lí 10 – Nâng cao

Nhƣ đã nói, trong đề tài này tôi chỉ quan tâm đến việc thiết kế đề kiểm tra để đánh
giá mức độ đạt đƣợc “hoạt động học” của học sinh đã đƣợc đề ra trong chƣơng trình. Do
vậy, tôi chỉ quan tâm đến hai định nghĩa về đánh giá của GS. Deketele và GS. Trần Bá
Hoành nhƣ đã trình bày, còn khái niệm về đánh giá của các học giả khác chỉ mang tính
chất tham khảo mà thôi!

GVHD: Ths. GVC. Đặng Thị Bắc Lý

-4-

SVTH: Nguyễn Minh Tình


April, 2011
Luận Văn Tốt Nghiệp

Tập thiết kế đề kiểm tra vật lí 10 – Nâng cao

Từ sự phân tích đó, tôi nhận thấy “Đánh giá là một khâu, một công cụ quan trọng
không thể thiếu được trong quá trình giáo dục; có chức năng, khả năng điều chỉnh quá
trình dạy và học, là động lực đổi mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng
cao chất lượng đào tạo con người theo mục đích giáo dục”[1,tr.29].
Nhƣ đã nói ở trên, đánh giá là một khâu, một công cụ quan trọng trong quá trình
giáo dục. Tuy nhiên, để có thể đánh giá kết quả học tập của học sinh một cách chính xác,
công cụ cần thiết phải sử dụng là đề kiểm tra. Đề kiểm tra là phƣơng tiện chủ yếu
ĐGKQHT của học sinh sau khi học xong một chƣơng, một chủ đề, một học kỳ, hay toàn
bộ chƣơng trình một lớp học, một cấp học. Khi thiết kế đề kiểm tra, ngƣời ra đề cần nhất
thiết trả lời đƣợc câu hỏi “Đề kiểm tra đó phục vụ cho mục đích đánh giá nào?” Vì vậy,
trƣớc khi thiết kế đề kiểm tra, cần nghiên cứu mục đích của việc đánh giá kết quả học tập
của học sinh.
1.3. Mục đích của đánh giá trong quá trình dạy học.
Có nhiều quan điểm khác nhau về mục đích của đánh giá tuy nhiên chúng không
đối choại lẫn nhau. Song dƣới đây là một số mục đích chính của việc kiểm tra – đánh giá
trong giáo dục [2,tr.120]:
 Cung cấp thông tin về các đặc điểm tâm, sinh lí và trình độ học tập của học sinh.
 Cung cấp thông tin cụ thể về tình hình học tập của học sinh, làm cơ sở cho việc cải

Theo GS Trần Bá Hoành: Kiểm tra là công việc nhằm cung cấp những dữ kiện,
những thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá [4,tr.74].
Nhƣ vậy có thể nói rằng kiểm tra là phƣơng tiện, công cụ để đánh giá. Trong cách
dùng của tiếng việt, kiểm tra và đánh giá thƣờng đƣợc dùng trong cụm từ ghép “kiểm tra
đánh giá”. Có nghĩa rằng là, khi đánh giá phải kiểm tra và kiểm tra để đánh giá. Đôi khi
ta chỉ nói đánh giá cũng đã bao hàm cả ý nghĩa kiểm tra trong đó. Do vậy, để có thể thiết
kế đƣợc một đề kiểm tra tốt, ngƣời ra đề cần nắm đƣợc các yêu cầu của việc đánh giá,
những yêu cầu tổng quát lẫn cụ thể [6,tr.7]:
 Những yêu cầu tổng quát:
1. Cần xác định rõ mục tiêu đánh giá dựa vào mục tiêu dạy học.
2. Phƣơng thức đánh giá phải đƣợc chọn sao cho phù hợp với mục tiêu đánh
giá đã đề ra.
3. Cần kết hợp nhiều phƣơng thức đánh giá, kết hợp đánh giá định kì và
thƣờng xuyên để có thể đánh giá đƣợc học sinh một cách toàn diện và tin
cậy hơn.
4. Cần biết rõ những ƣu điểm, hạn chế của từng phƣơng thức đánh giá, sao
cho có thể sử dụng đúng mục tiêu và có hiệu quả.
5. Cần xem đánh giá chỉ là một phƣơng tiện hỗ trợ thầy để có những quyết
định đúng đắn về quá trình dạy và học.
 Những yêu cầu cụ thể:
1. Xác định tiêu chí cho mỗi bài kiểm tra, mỗi lần đánh giá.
2. Chú ý tính chính xác của từng câu, từng chữ trong câu hỏi và tính thực tế
của mỗi bài kiểm tra.
3. Thu thập thông tin từ mỗi bài kiểm tra, mỗi lần đánh giá vì đó là một bài
học kinh nghiệm cho giáo viên, là mối liên hệ nghịch quý báo cho giáo viên
để có thể tự điều chỉnh phƣơng pháp dạy học của bản thân.
GVHD: Ths. GVC. Đặng Thị Bắc Lý

-6-


hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá. Đó cũng chính là 6 mức độ khác nhau (có
thể gọi là các bậc Bloom) của việc đánh giá KQHT của học sinh [2,tr.37.38].
 Biết (Knowledge)
Đây là bậc thấp nhất trong nhóm 6 bậc nhận thức, ở bậc này nó chỉ yêu cầu ngƣời
học nhớ đƣợc các sự kiên, khái niệm, định nghĩa, công thức, nguyên lí,… song chƣa cần
phải hiểu thấu đáo. Có thể cụ thể hóa mức độ biết bằng các động từ:
 Nhận ra, nhớ lại các khái niệm, định lý, định luật, tính chất.
 Nhận dạng (không cần giải thích) đƣợc các khái niệm, hình thể, vị trí tƣơng
đối giữa các đối tƣợng trong tình huống đơn giản.

GVHD: Ths. GVC. Đặng Thị Bắc Lý

-7-

SVTH: Nguyễn Minh Tình


April, 2011
Luận Văn Tốt Nghiệp

Tập thiết kế đề kiểm tra vật lí 10 – Nâng cao

 Liệt kê, xác định các vị trí tƣơng đối, các mối quan hệ đã biết giữa các yếu
tố.
Ví dụ: Phát biểu định nghĩa gia tốc, khái niệm lực….
 Hiểu (Comprehension)
Mức độ hiểu là mức độ cao hơn mức độ biết, tuy nhiên nó lại là mức độ thấp nhất
của việc thấu hiểu sự vật, hiện tƣợng, nó liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa
các khái niệm, thông tin mà học sinh đã học hoặc đã biết. Do vậy, trong cấp bậc này,
ngƣời dạy không chỉ yêu cầu học sinh nhớ đƣợc kiến thức mà còn phải hiểu thấu đáo cá

April, 2011
Luận Văn Tốt Nghiệp

Tập thiết kế đề kiểm tra vật lí 10 – Nâng cao

 Giải quyết những tình huống mới bằng cách vận dụng những khái niệm,
định lý, định luật đã biết.
 Khái quát hóa, trừu tƣợng hóa từ tình huống quen thuộc đơn lẻ sang tình
huống mới phức tạp hơn.
Ví dụ: Trong thực tế khi bắc thang leo lên cao (thang áp vào tƣờng chẳng hạn) ta
thƣờng bắc góc thang cách tƣờng một khoảng để thang không qua dốc. Dựa vào
những kiến thức vật lý đã đƣợc học em hãy giải thích việc làm đó. Nếu trong
trƣờng hợp ta cần bắc thang dốc thì ta khắc phục bằng cách nào để thang và ngƣời
không bị ngã.
 Phân tích (Analysis)
Phân tích là khả năng đòi hỏi học sinh phải biết phân chia một thông tin ra thành
các phần nhỏ, sao cho có thể hiểu đƣợc cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối quan hệ
phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng. Đây là mức độ cao hơn vận dụng vì nó đòi hỏi ngoài việc
yêu cầu ngƣời học nhớ mà còn phải thấu hiểu cả về nội dung lẫn hình thái cấu trúc của
thông tin, sự vật, hiện tƣợng.
Ví dụ: Tại sao khi bổ củi việc giữ cán rìu bằng tay khô lại khó hơn tay ƣớt?
*Phân tích:
 Khi bổ củi tay khô lại khó giữ cán rìu hơn tay ƣớt.
 Khi gỗ bị dính ƣớt, những thớ gỗ trên bề mặt nở ra và phồng lên, ma sát giữa cán
rìu và tay tăng lên.
 Nƣớc đóng vai trò là chất làm thay đổi hệ số ma sát giữa tay và cán rìu.
 Tổng hợp (Synthesis)
Nếu phân tích là khả năng chia một phân thông tin lớn thành ra những thông tin
nhỏ để có thể thấy đƣợc cái bản chất, cấu trúc bên trong của vấn đề, thì tổng hợp là việc
làm ngƣợc lại nhƣng có sự sáng tạo ra cái mới. Mức độ này, nó yêu cầu rất cao đối với

khác nhau của vận dụng [1,tr.126]. Do vậy, trong phạm vi của đề tài, khi thiết kế đề kiểm
tra tôi chỉ tập trung ra đề kiểm tra phù hợp với 3 mức độ đầu của mục tiêu nhận thức.

3. Các hình thức và phƣơng pháp kiểm tra đánh giá
3.1. Các hình thức kiểm tra – đánh giá
Hiện nay trong quá trình dạy học, có nhiều hình thức kiểm tra khác nhau đƣợc sử
dụng đƣợc sử dụng để đánh giá KQHT của học sinh. Những hình thức kiểm tra này đƣợc
phân loại chủ yếu căn cứ vào mục đích kiểm tra – đánh giá, có thể chia ra một số hình
thức sau đây: [6,tr.16 – 20], [4,tr.77 – 78].
3.1.1. Đánh giá đầu vào
Mục đích của đánh giá đầu vào là xác định trình độ, kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của
học sinh trƣớc khi bắt đầu một môn học mới, chƣơng mới, bài mới….nói chung là một
đơn vị học tập. Trong hình thức kiểm tra này ta có thể sử dụng các phƣơng pháp kiểm tra
vấn đáp, viết,…. Thông thƣờng, việc đánh giá đầu vào nó đƣợc tiến hành nhằm trả lời
những câu hỏi sau:
 Học sinh đã có đủ những kiến thức và kĩ năng cần thiết cho việc bắt đầu chƣơng
trình học tập mới chƣa?
 Ở mức độ nào học sinh đã có những kiến thức và kĩ năng mà chƣơng trình học tập
mới sẽ hƣớng đến?

GVHD: Ths. GVC. Đặng Thị Bắc Lý

- 10 -

SVTH: Nguyễn Minh Tình


April, 2011
Luận Văn Tốt Nghiệp


sinh. Tác dụng của đánh giá loại này là:
 GV biết đƣợc thực trạng học lực của học sinh mình để có những dự kiến trong thời
gian tới.
GVHD: Ths. GVC. Đặng Thị Bắc Lý

- 11 -

SVTH: Nguyễn Minh Tình


April, 2011
Luận Văn Tốt Nghiệp

Tập thiết kế đề kiểm tra vật lí 10 – Nâng cao

 Chuỗi điểm trong đánh giá định kì sẽ là cơ sở chính để đánh giá sức học của học
sinh trong suốt cả năm học.
 Đánh giá định kì tạo điều kiện cho giáo viên thay đổi hình thức kiểm tra rèn luyện
cách làm các loại kiểm tra, nhất là trong tình hình hình hiện nay.
 Kết quả của đánh giá định kì có thể dùng làm tham khảo cho các loại hình kiểm tra
khác.
Chính vì tầm quan trọng của đánh giá kì trong việc ĐGKQHT của học sinh nên
trong phạm vi của đề tài tôi chỉ tập trung thiết kế các đề kiểm tra phục vụ cho việc kiểm
tra đánh giá định kì đƣợc quy định trong trƣơng trình môn học mà thôi.
3.1.4. Đánh giá tổng kết
Đánh giá tổng kết là việc làm thƣờng xuyên của nhà trƣờng phổ thông, đƣợc tiến
hành sau khi kết thúc một chƣơng trình học tập nhằm xác định mức độ tiếp thu kiến thức
của học sinh so với mục tiêu học tập của toàn bộ chƣơng trình đã đề ra ban đầu. Các kì
thi học kỳ, tốt nghiệp, là những ví dụ thuộc loại đánh giá tổng kết.
Thông thƣờng, những bài kiểm tra này có nội dung mang tính tổng hợp kiến thức

Tiểu
luận

T. trình

Luận
văn

Nhóm KT
khác

TNTL

TNKQ

Bài
viết

N.lựa chọn

Đ. Sai

Đ. Khuyết

Gh. Đôi

Sơ đồ 2. Sơ đồ phân chia các phƣơng pháp KTĐG

Có ba nhóm phƣơng pháp lớn đó là: Vấn đáp (nói), viết và quan sát (thuộc nhóm
kiểm tra khác). Trong mỗi nhóm này lại đƣợc chia ra các nhóm nhỏ, có thể đƣợc gọi là

này có thể là trắc nghiệm khách quan hoặc tự luận.

 Kiểm tra viết ở nhà, học sinh tự làm bài ở nhà, thời gian làm bài khá dài cho
nên dạng này thƣờng là trắc nghiệm tự luận.

 Học sinh tự đánh giá, là phƣơng pháp học sinh tự nhận xét, đánh giá về bản
thân theo những tiêu chí nhất định do giáo viên hoặc cấp quản lí đề ra. Phƣơng pháp này
thƣờng đƣợc sử dụng trong đạo đức, tinh thần, thái độ tu dƣỡng học tập của học sinh.
2) Theo tính chất của bài viết và sự đánh giá, có thể phân nhóm “kiểm tra viết”
thành hai nhóm nhỏ, đó là hai dạng kiểm tra sau: Nhóm tự luận (tên đầy đủ là trắc
nghiệm tự luận), nhóm trắc nghiệm (tên đầy đủ là trắc nghiệm khách quan).

 Trắc nghiệm tự luận là dạng thi, kiểm tra dùng những câu hỏi mở (còn đƣợc
gọi là câu hỏi tự luận), đòi hỏi học sinh cần phải tự xây dựng bài làm (tự viết đầy đủ các
câu trả lời hoặc bài giải theo cách riêng của mình). Bài làm (bài viết của học sinh) có thể
là một đoạn trình bài lại lí thuyết đã đƣợc học, một đoạn lập luận ngắn, một bài tóm tắt,
một bài nghị luận, một bài giải thích,…
Ví dụ : Tại sao muốn xách một vật nặng ta lại phải bóp tay lại?
Đây là loại hình câu hỏi và bài tập mà từ lâu nay chúng ta vẫn quen dùng để ra đề
kiểm tra viết. Có thể nói rằng, tự luận là một dạng câu hỏi rất lí tƣởng cho việc đánh giá
năng lực tổ chức, sắp xếp, diễn đạt, và sự lí giải ý tƣởng của học sinh.
*Khi xây dựng đề tự luận cần lƣu ý một số điểm sau [6,tr.23]:
 Cần xây dựng 3 loại câu hỏi sau cho một đề tự luận
+Loại thứ nhất: Yêu cầu tái hiện lại kiến thức đã đƣợc học (mức độ biết).
Ví dụ: Hãy phát biểu định luật (II) Newton?
+Loại thứ hai: Ngoài yêu cầu trên cần yêu cầu học sinh phải có sự so sánh, lí giải,
lựa chọn hay giải những bài tập chƣa đến mức độ quá phức tạp… (mức độ hiểu).
Ví dụ: Hãy so sánh cặp lực trực đối và và cặp lực cân bằng?
+Loại thứ ba: Yêu cầu vận dụng kiến thức lí thuyết vào việc giải bài tập và giải
thích các hiện tƣợng trong thực tế (tình huống mới, vấn đề mới) (mức độ vận dụng).

+ Nhƣợc điểm: Độ bao phủ nội dung thấp vì không thể sử dụng nhiều câu hỏi tự luân
cho một đề kiểm tra, việc chấm bài tốn nhiều thời gian, độ tin cậy không cao.
 Trắc nghiệm khách quan (TNKQ) là loại hình câu hỏi, bài tập mà các
phƣơng án trả lời đã có sẵn, hoặc nếu học sinh phải tự viết câu trả lời thì câu trả lời đó
phải ngắn và duy nhất. Loại trắc nghiệm này đƣợc gọi là khách quan, bởi lẽ, tiêu chí đánh
giá là đơn nhất, hoàn toàn không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của ngƣời chấm. Đối
với nhóm trắc nghiệm khách quan, về phƣơng diện kĩ thuật, thì nó đƣợc phân ra làm bốn
loại chính: nhiều lựa chọn, đúng – sai, ghép đôi và điền khuyết.
1. Câu nhiều lựa chọn
Câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn là câu hỏi (còn gọi là câu dẫn) có từ 4 đến 5 câu
trả lời sẵn và yêu cầu học sinh chọn một câu đúng hay đúng nhất, chọn câu sai hay những
câu sai,..tùy theo cách hỏi của tác giả..). Các câu trả lời không đúng đƣợc gọi là những

GVHD: Ths. GVC. Đặng Thị Bắc Lý

- 15 -

SVTH: Nguyễn Minh Tình


April, 2011
Luận Văn Tốt Nghiệp

Tập thiết kế đề kiểm tra vật lí 10 – Nâng cao

câu nhiễu. Ta dễ dàng thấy rằng, cấu trúc của một câu hỏi nhiều lựa chọn, thông thƣờng
bao gồm hai phần:
 Phần dẫn (còn gọi là phần gốc) trình bày một vấn đề, một câu hỏi hoặc một câu
hoàn chỉnh.
 Phần trả lời (còn gọi là phần lựa chọn) gồm một số phƣơng án trả lời để trả lời

SVTH: Nguyễn Minh Tình


April, 2011
Luận Văn Tốt Nghiệp

Tập thiết kế đề kiểm tra vật lí 10 – Nâng cao

chọn (ví dụ, những phƣơng án so sánh hơn, kém, bằng, tăng lên, giảm
xuống,….) thì phải ghi rõ trƣớc phần dẫn là câu này chỉ có 2 hoặc 3 phƣơng
án lựa chọn…
 Các phƣơng án nhiễu không đƣợc quá lộ liễu, phải có vẽ hợp lí và có sức
hấp dẫn đối với học sinh.
 Các “phần lựa chọn” hoặc các “câu lựa chọn” nên đƣợc viết theo cùng một
lối hành văn, cùng một cấu trúc ngữ pháp, nghĩa là tƣơng đƣơng về hình
thức và chỉ khác nhau về mặt nội dung.
 Hạn chế dùng phƣơng án “các câu trên đều đúng” hay “đều sai”.
 Không để học sinh nhận ra đƣợc câu trả lời chỉ vì hình thức trình bày của
phần lựa chọn.
 Sắp xếp các phƣơng án lựa chọn theo thứ tự ngẫu nhiên, tránh thể hiện một
cách ƣu tiên nào đó vị trí của phƣơng án đúng.
 Đối với cả hai phần cần bảo đảm phần dẫn và phần lựa chọn khi ghép lại
phải thành một cấu trúc đúng ngữ pháp và chính tả.
 Những ƣu điểm của câu nhiều lựa chọn
+ Ƣu điểm
 Khắc phục đƣợc việc học thuộc lòng, học tủ của học sinh. Bởi vì đề kiểm
tra dàn trải ra đều hầu hết các vấn đề mà học sinh cần phải ôn tập.
 Sử dụng tốt cho tất cả các môn học, đánh giá đƣợc tính chính xác hiểu kĩ
vấn đề đƣợc hỏi.
 Có thể đƣợc chuẩn hóa và sử dụng với nhiều mục đích: chuẩn đoán hoặc

để cho học sinh đánh dấu vào.
Đối với câu hỏi Đ/S, ngƣời ra đề có thể kiểm tra nhanh “sự biết và hiểu chính xác
sự kiện, hiện tƣợng đƣợc nói đến”. Câu hỏi Đ/S thích hợp cho việc kiểm tra những kiến
thức nhƣ: Định nghĩa, khái niệm,…và thƣờng kiểm tra trí nhớ, ít có giá trị kích thích tƣ
duy, ít có khả năng phân loại học sinh giỏi và kém.
Ví dụ: Hãy đánh dấu (X) vào chữ Đ nếu nhận định sau đây là đúng và nếu nhận
định đó là sai thì đánh vào chữ S
 Trong chuyển động biến đổi, vận tốc biến đổi cả về hướng và độ lớn thay
đổi theo thời gian.
Đ

S

 Những lƣu ý khi ý xây dựng câu đúng sai
 Mỗi câu hỏi chỉ nên gồm một ý, tránh loại câu bao gồm kiến thức rộng,
nhiều chi tiết, cách diễn đạt trong sáng tránh tối nghĩa, dễ hiểu (đơn giản và
đơn trị), nhƣ ví dụ dƣới đây ta thấy câu này gồm 2 ý (đa trị).
Ví dụ: Trái đất là hành tinh thứ 5 trong hệ mặt trời và quay xung quanh mặt trời,
câu này nên tách làm hai câu sau:
+ Câu 1: Trái đất là hành tinh thứ 5 trong hệ mặt trời
Đ

S

+ Câu 2: Trái đất quay xung quanh mặt trời
Đ
GVHD: Ths. GVC. Đặng Thị Bắc Lý

S
- 18 -


(b) m/s2

Vận tốc

(c) m3

Khối lƣợng riêng

(d) kgm/s2
(e) m

Một bài trắc nghiệm ghép đôi (đôi khi cũng gọi là câu ghép đôi) gồm có hai cột,
cột dẫn và cột ghép. Đối với loại câu trắc nghiệm ghép đôi, ngƣời ra đề có thể kiểm tra
“sự biết (mức độ biết) và hiểu chính xác vấn đề đƣợc nói đến (mức độ hiểu)”.
Cũng nhƣ những dạng câu TNKQ khác, ngƣời ra đề khi xây dựng câu ghép đôi
cũng cần lƣu ý một số đặc điểm sau[6,tr.39]:
 Cần sử dụng thông tin cùng loại trong một câu trắc nghiệm ghép đôi, chúng
có mối quan hệ gần gũi để gây nhiễu.
 Số lƣợng câu dẫn có thể bằng hoặc ít hơn (thông thƣờng là ít hơn) câu trả
lời để tăng sự cân nhắc khi lựa chọn câu trả lời của học sinh.
 Phần hỏi (yêu cầu và hƣớng dẫn làm bài), cần đƣợc viết rõ ràng, hƣớng dẫn
thật cụ thể để học sinh có thể tiết kiệm đƣợc thời gian làm bài của học sinh.
 Mỗi nội dung ở hai cột , phần dẫn và phần trả lời, có thể là một câu hoàn
chỉnh, các mệnh đề khái niệm công thức,…nhƣng nếu câu dẫn và câu trả lời
GVHD: Ths. GVC. Đặng Thị Bắc Lý

- 19 -

SVTH: Nguyễn Minh Tình

định nghĩa, một định luật,…..sau đó cắt bỏ một từ hoặc cụm từ để ngƣời làm bài tự điền
trở lại các từ hoặc cụm từ mà ngƣời ra đề đã cố tình cắt đi. Có hai loại kiểu cấu trúc này:
Các từ (cụm từ) điền khuyết do học sinh tự suy nghĩ ra và các từ (cụm từ) điền khuyết đã
đƣợc ngƣời ra đề cho sẵn. Đối với câu hỏi thuộc dạng điền khuyết, ngƣời ra đề có thể
kiểm tra sự biết và hiểu chính xác vấn đề đƣợc nói đến thông qua việc phân tích các cụm
từ điền khuyết.
 Những ƣu và nhƣợc điểm của câu điền khuyết

GVHD: Ths. GVC. Đặng Thị Bắc Lý

- 20 -

SVTH: Nguyễn Minh Tình


April, 2011
Luận Văn Tốt Nghiệp

Tập thiết kế đề kiểm tra vật lí 10 – Nâng cao

+ Ƣu điểm: Việc thiết kế đề không quá khó khăn, đòi hỏi học sinh biết (nhớ bài) hoặc
hiểu chính xác mới có thể điền đúng thông tin đã đƣợc lƣợc bỏ, vì thế có thể hạn chế khả
năng làm đúng cao do sự “đoán mò” của học sinh.
+ Nhƣợc điểm
 Khó kiểm tra các năng lực nhận thức cấp cao nhƣ vận dụng, phân tích,…
 Việc chấm bài khó khăn, mất nhiều thời gian, độ khách quan kém,..
 Những lƣu ý khi xây dựng câu điền khuyết trong kiểm tra đánh giá
 Từ điền khuyết cần phải là từ đơn nhất để câu có thể đƣợc đơn trị, các từ
phải điền nên là những từ mấu chốt trong câu.
Ví dụ: Một vật sẽ đứng yên hoặc chuyển động thẳng đều nếu………..hoặc các lực tác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status