KHẢO sát HIỆU QUẢ PHÒNG TRỪ của DỊCH TRÍCH cây THỦY XƢƠNG bồ (acorus calamus) TRÊN sâu ăn tạp (spodoptera litura) và SÙNG KHOAI LANG TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN THỊ BÉ

KHẢO SÁT HIỆU QUẢ PHÒNG TRỪ CỦA DỊCH
TRÍCH CÂY THỦY XƢƠNG BỒ (Acorus calamus)
TRÊN SÂU ĂN TẠP (Spodoptera litura) VÀ
SÙNG KHOAI LANG (Cylas formicarius)
TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƢ
NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT

Cần Thơ, 12/2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp
Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT

Tên đề tài

KHẢO SÁT HIỆU QUẢ PHÒNG TRỪ CỦA DỊCH
TRÍCH CÂY THỦY XƢƠNG BỒ (Acorus calamus)
TRÊN SÂU ĂN TẠP (Spodoptera litura) VÀ
SÙNG KHOAI LANG (Cylas formicarius)


năm

Cán bộ hƣớng dẫn

Ts. LÊ VĂN VÀNG
Ths. HUỲNH PHƯỚC MẪN

i


TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn đính kèm với đề tài
KHẢO SÁT HIỆU QUẢ PHÒNG TRỪ CỦA DỊCH TRÍCH CÂY THỦY XƢƠNG
BỒ (Acorus camalus) TRÊN SÂU ĂN TẠP (Spodoptera litura)
VÀ SÙNG KHOAI LANG (Cylas fomicarius)
TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM

Do sinh viên NGUYỄN THỊ BÉ thực hiện và bảo vệ trƣớc hội đồng ngày tháng năm
Luận văn đƣợc đánh giá ở mức ……… điểm.
Ý kiến hội đồng: ...........................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
DUYỆT KHOA


Thầm cảm ơn những ngƣời bạn thân thiết nhất của tôi đã cùng tôi chia sẽ những buồn,
vui, luôn quan tâm, giúp đỡ trong học tập và trong thời gian làm luận văn. Chúc tất cả
các bạn Bảo Vệ Thực Vật K35 thành công tốt đẹp.

Nguyễn Thị Bé

iii


LƯỢC SỬ CÁ NHÂN

Họ và tên sinh viên: NGUYỄN THỊ BÉ
Ngày sinh: 1990
Nơi sinh: Thị Trấn Ba Chúc, Huyện Tri Tôn, Tỉnh An Giang.
Con ông NGUYỄN VĂN THIỆN và bà LÊ THỊ ĐIỀU
Đã tốt nghiệp phổ thông trung học tại trƣờng THPT thị trấn Ba Chúc, năm 2009.
Đã vào trƣờng Đại Học Cần Thơ năm 2009 học ngành Bảo Vệ Thực Vật khóa 35 thuộc
Khoa Nông Nghiệp & SHƢD.
Tốt nghiệp Kỹ sƣ Nông Nghiệp chuyên ngành Bảo Vệ Thực Vật năm 2012.

iv


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết quả trình
bày trong luận văn tốt nghiệp này là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất
kì công trình luận văn nào trƣớc đây.

Tác giả luận văn

1.3.2 Ký chủ ................................................................................................... 15
1.3.3 Phân bố .................................................................................................. 15
1.3.4 Đặc điểm hình thái và sinh học .............................................................. 15

vi


1.3.4.1 Trứng .................................................................................................. 15
1.3.4.2 Ấu trùng ........................................................................................... 15
1.3.4.3 Nhộng .............................................................................................. 16
1.3.4.4 Thành trùng ...................................................................................... 16
1.3.5 Tập quán sinh sống và triệu chứng gây hại ............................................. 17
1.3.6 Biện pháp phòng trị ................................................................................ 18

CHƢƠNG 2: PHƢƠNG TIỆN VÀ PHƢƠNG PHÁP ......................................... 20
2.1 Phƣơng tiện ................................................................................................. 20
2.1.1 Địa điểm ................................................................................................ 20
2.1.2 Vật liệu .................................................................................................. 20
2.2 Phƣơng pháp................................................................................................ 21
2.2.1 Thu thập và ly trích mẫu asarone từ thân rễ cây TXB ............................. 21
2.2.2 Xác định asarone trong mẫu ly trích ....................................................... 23
2.2.3 Chuẩn bị dung dịch thử nghiệm ............................................................. 25
2.2.4 Thí nghiệm 1: Khảo sát hiệu lực gây chết của dịch trích TXB trên SAT
(Sdopotera litura) trong điều kiện phòng thí nghiệm ....................................... 26
2.2.5 Thí nghiệm 2: Khảo sát hiệu lực gây chết của dịch trích TXB, alphaasarone và DNT của TXB trên ấu trùng SAT (Spodoptera litura) trong điều kiện
phòng thí nghiệm ............................................................................................ 27
2.2.6 Thí nghiệm 3: Khảo sát hiệu lực gây chết của dịch trích TXB trên thành
trùng SKL (Cylas formicarius) trong điều kiện phòng thí nghiệm ................... 28
2.2.7 Thí nghiệm 4: Khảo sát hiệu lực gây chết của dịch trích TXB, alphaasarone và alpha phân lập trên thành trùng SKL trong điều kiện phòng thí
nghiệm .... ....................................................................................................... 29


DANH SÁCH HÌNH
Tựa hình

Hình

Trang

1.1

Công thức hóa học của α-asarone và β-asarone

6

1.2

Vị trí của Acorus calamus L. dùng làm thí nghiệm

7

1.3

Trứng Spodoptera litura

11

1.4

Ấu trùng Spodoptera litura


16

1.10

Thành trùng Cylas formicarius

17

2.1

Máy cô quay RE300 và lọ chất alpha-asarone

21

2.2
fff

Bƣớc 1: cắt phần thân rễ cây TXB thành khoanh nhỏ (A), phần thân
22 g
rễ cây TXB đã đƣợc xay nhuyễn (B)
ff

2.3

Bƣớc 2: ngâm mẫu trong 24 giờ với dung môi ethyl acetate

2.4
g

Bƣớc 3: phễu phân tách chứa hỗn hợp dịch lỏng sau khi ngâm 24

Các khoảng cách di chuyển của mẫu và sản phẩm

25

3.1

Sắc ký mỏng của dịch trích và asarone

31

ix

22


DANH SÁCH BẢNG
Bảng

Tựa bảng

2.1
gg

Bảng bố trí các nghiệm thức khảo sát hiệu lực gây chết của dịch trích
TXB trên ấu trùng SAT

27
ggg

2.2


32
ggg

3.2
gg

Tỷ lệ % số ấu trùng SAT hóa nhộng thành công sau khi xử lý dịch
trích TXB trong điều kiện phòng thí nghiệm

34
ggg

3.3
gg

Độ hữu hiệu của dịch trích TXB, alpha-asarone và DNT của TXB
trong điều kiện phòng thí nghiệm

35
ggg

3.4
gg

Tỷ lệ % số ấu trùng SAT hóa nhộng thành công sau khi xử lý dịch
trích TXB, alpha-asarone và DNT của TXB trong điều kiện phòng thí
nghiệm

37

formicarius)” trong phòng thí nghiệm được thực hiện tại phòng thí nghiệm phòng trừ
sinh học, bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng,
Trường Đại Học Cần Thơ, từ tháng 6/2012 đến tháng 11/2012, đã đạt được những kết
quả sau:
Kết quả phân tích sắc ký lớp mỏng (TLC) ghi nhận dịch trích từ thân rễ thủy
xương bồ có chứa thành phần α-asarone.
Khảo sát hiệu quả phòng trị của dãy nồng độ dịch trích thủy xương bồ 10 ppm,
100 ppm, 1000 ppm, 2000 ppm trên ấu trùng sâu ăn tạp tuổi 3 cho thấy, khả năng
phòng trị của dịch trích thủy xương bồ tương đối cao với độ hữu hiệu của dịch trích
thủy xương bồ nồng độ 2000 ppm đạt 73% ở thời điểm 1 ngày sau khi xử lý. Hiệu lực
gây chết sâu ăn tạp (Spodoptera litura) tỉ lệ thuận với nồng độ của dịch trích từ thủy
xương bồ. Dịch trích thủy xương bồ vừa gây độc và gây ngán ăn đối với ấu trùng sâu
ăn tạp.
Dịch trích của thủy xương bồ và alpha-asarone có hiệu lực diệt sâu tương đương
nhau và lớn hơn so với dịch nghiền thô của thủy xương bồ.
Khảo sát hiệu quả phòng trị của dãy nồng độ dịch trích thủy xương bồ 10 ppm,
100 ppm, 1000 ppm, 2000 ppm trên sùng khoai lang cho thấy, khả năng phòng trị của
dịch trích thủy xương bồ tương đối thấp với độ hữu hiệu của dịch trích thủy xương bồ
2000 ppm đạt 14,4% và dịch trích thủy xương bồ 10 ppm không có hiệu lực diệt sùng ở
thời điểm 15 ngày sau khi xử lý.
Dịch trích của thủy xương bồ, α-asarone và asarone phân lập đều có hiệu lực diệt
sùng tương đương nhau ở nồng độ 1000 ppm và 2000 ppm.

xi


MỞ ĐẦU
Hơn 2000 loài thực vật đã được ghi nhận có khả năng phòng trị côn trùng gây hại
(Klocke, 1989) như Hedera nepalensis (Sabir et al., 1995), Berberis lycium (Sharma et
al., 2003), Acorus calamus (Motley, 1994), Zanthoxylum armatum (Ramidi và Ali,

kháng thuốc, việc phòng trừ sâu ăn tạp bằng thuốc hoá học không mang lại hiệu quả
1


cao và không mang tính bền vững (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011). Gần đây,
yêu cầu về sản phẩm an toàn và sự mở rộng của các vùng canh tác rau theo tiêu chuẩn
GAP đòi hỏi công tác bảo vệ thực vật phải thực hiện theo hướng của quản lý dịch hại
tổng hợp. Các nổ lực nghiên cứu và áp dụng các nguồn vật liệu có nguồn gốc tự nhiên,
ít độc và thân thiện với môi trường sinh thái như TXB để luân phiên hoặc thay thế cho
nông dược hóa học tổng hợp trong bảo vệ thực vật là rất cần thiết để đáp ứng với yêu
cầu thực tế của sản xuất nông nghiệp.
Trên cở sở đó đề tài “Khảo sát hiệu quả phòng trừ của dịch trích từ cây thủy
xƣơng bồ (Acorus calamus) trên sâu ăn tạp (Spodoptera litura) và sùng khoai lang
(Cylas fomicarius) trong thí nghiệm” được thực hiện nhằm mục đích đánh giá hiệu
lực phòng trừ của asarone trong dịch trích thủy xương bồ trên hai đối tượng là sâu ăn
tạp và sùng khoai lang.

2


CHƢƠNG 1
LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Thủy xƣơng bồ (Acorus calamus Linn.)
1.1.1 Phân loại và đặc điểm hình thái
Thủy xương bồ còn gọi là thạch xương bồ, xương bồ (Đỗ Tất Lợi, 2004). Có tên
khoa học Acorus calamus L. thuộc họ Ráy (Araceae).
Họ Araceae có khoảng 110 chi, với 1800 loài, đa số trong đó lá cây có rễ ngầm và
thân hóa củ (căn hành) có thể sống lưu niên (Rohr et al., 1997).
Thành phần loài gồm có 3 loài là Acorus Calamus; Acorus gramineus và Acorus
tatarinowii, phân bố chủ yếu ở Bắc Mỹ (Võ Văn Chi, 2002; Đỗ Tất Lợi, 2004) và ở

Theo Đỗ Tất Lợi (2004), TXB mọc hoang ở vùng núi miền Bắc và Trung nước ta.
Thường thấy ở những nơi khe đá, khe suối và chổ mát. Có thể thu hái quanh năm,
nhưng tốt nhất vào mùa thu ở các tháng 8-9. Hái về cắt bỏ lá và rễ con, rửa sạch cát đất
và phơi khô.
1.1.3 Thành phần hóa học
TXB là loại cây trồng khá đặc biệt bởi hàm lượng các chất bên trong cây trồng
phụ thuộc vào mùa trong năm. Cụ thể, khi tiến hành phân tích thành phần tinh dầu của
lá và rễ cây Acorus calamus bằng kỹ thuật sắc kí khí (GC) và GC/MS (Gas
chromatographic and mass spectrometric), kết quả cho thấy β-asarone [(Z)-asarone]
hiện diện chủ yếu trong lá, chiếm khoảng 27,4-45,5% và trong rễ chiếm khoảng
12,75%. Một số hợp chất béo và chất oxy hóa hiện diện trong tinh dầu lá với tỷ lệ cao
vào tháng 5, trong khi β-asarone thì lại thấp (Venskutonis, 2003). Trong tinh dầu của
cây TXB có chứa khoảng 100 hợp chất khác nhau, chủ yếu là phenylpropane,
monoterpene và sesquiterpenoid (Ernest và Paul, 1999).
Theo Bertea et al. (2005) khi tiến hành phân tích tinh dầu của rễ cây Acorus
calamus thể nhị bội và tam bội bằng kỹ thuật GC/MS thu được nhiều hợp chất khác
nhau, trong đó có một số chất có hàm lượng cao như: β-asarone (11%) là hợp chất
chính, camphene (2,27%), β-ocimene (3,28%), camphor (1,54%), calarene (1,42%), αselinene (5,02%) và tau-cadinol (2,00%). Theo Singh et al. (2010) khi phân tích bằng
kỹ thuật GC và GC/MS thu được bên trong cây TXB có chứa (Z)-asarone (15,7-25,5%)
và (Z)-methyl isoeugenol (2,0-4,9%).
Theo Giacomo (1985) khi tiến hành phân tích tinh dầu của cây Acorus calamus ở
khu vực châu Âu bằng kỹ thuật GC/MS thì ông phân tích được 184 hợp chất dễ bay hơi
hiện diện. Trong đó, có 67 hợp chất hydrocarbon, 35 hợp chất carbonyl, 56 hợp chất
alcohol, 8 hợp chất phenol, 2 hợp chất furan và 4 hợp chất oxy hóa, trong khi đó tinh
dầu của cây Acorus calamus sinh sống ở Ấn Độ khi phân tích bằng kỹ thuật GC/MS thì
thấy tinh dầu gồm có 93 hợp chất dễ bay hơi hiện diện và β-asarone là hợp chất chính
yếu. Theo Raina et al. (2002) khi tiến hành nghiên cứu về thành phần các chất trong
tinh dầu của rễ và lá cây Acorus calamus ở khu vực Himalayas bằng kỹ thuật GC và
GC/MS thì trong tinh dầu của rễ khô có khoảng 29 chất khác nhau, trong đó α-asarone


có chứa các axit béo và đường bao gồm este, myristic (1,3%), palmitic (18,2%),
palmitoleic (16,4%), stearic (7,3%), oleic (29,1%), linoleic (24,5%) và arachidic
(3,2%). Thành phần đường maltose (0,2%), glucose (20,7%) và fructose (79,1%). Phân
5


tích tinh dầu của Acorus calamus bằng phương pháp GC và GC/MS, cho thấy βasarone [(Z)-asarone] là thành phần quan trọng trong lá (27,4-45,5%), trong khi
acorenone là hợp chất chiếm ưu thế trong thân rễ (20,86%) và tiếp theo isocalamendiol
(12,75%) (Venskutonsis et al., 2003).
Ngoài hydrocarbons monoterpene, sequestrine xeton, (trans-alpha) asarone (2,4,5trimethoxy-1-propenylbenzene), β-asarone (đồng phân dạng cis) và eugenol cũng được
xác định (Kindscher và Kelly, 1992).
Theo Asha và Deepak (2009) khả năng kháng khuẩn của dịch trích từ rễ và lá cây
Acorus calamus bằng những dung môi khác nhau như: petroleum ether, chloroform,
hexane và ethyl acetate, thì thấy dung môi ethyl acetate cho khả năng kháng khuẩn và
nấm cao nhất, với nhiều lượng 2-4 mg/ml dịch trích kháng lại nhiều loại nấm trừ
Penicillium chrysogenum.
Theo Phongpaichit et al. (2005) khi ly trích cây Acorus calamus bằng methanol
thì thu được thành phần chủ yếu là β-asarone.
Khi nghiên cứu về rễ cây Acorus calamus, Rajkumar et al. (2009), cây Acorus
calamus là một cây có chứa chất gây ảo giác cho con người, theo trung tâm độc chất
học ở Thụy Điển thì cây Acorus calamus tạo ra khoảng 30 độc chất (Bjornstad et al.,
2009).
Theo Đỗ Tất Lợi (2004) thì trong TXB có 1,5-3,5% tinh dầu, trong đó thành phần
chủ yếu là asarone C12H16O3 (4 propenyl 1-3-5 trimetoxybenzol), rồi đến asarylandehyt
C10H12O4. Ngoài ra còn một glucoside đắng gọi là acorin và chất tanin.
Công thức hóa học của asarone:
H3 C

CH3


calamus (họ Araceae), nó được dùng để xông hơi hạt và phòng trị côn trùng. Hợp chất
asarone được tìm thấy nhiều nhất ở trong dầu cây Acorus calamus (Lewis, 1989).
Theo Bjornstad et al. (2009), khi tiến hành nghiên cứu về thành phần asarone
được ly trích từ cây Acorus calamus thì ông nhận thấy đây là chất có khả năng gây ảo
giác cho con người nếu dùng liều lượng cao. Theo Ernest và Paul (1999), β-asarone có
trong Acorus calamus là hợp chất có khả năng gây ung thư và có nhiều trong cây tứ
bội. Nhưng theo Ogra et al. (2009) thì β-asarone có nhiều nhất trong giống tam bội và
chúng không phải là một chất gây ung thư. Tuy nhiên, trong nông nghiệp thì hợp chất
asarone có nhiều ứng dụng từ việc phòng trừ nấm bệnh đến việc phòng trị côn trùng
gây hại cho nông nghiệp.
Theo Asha và Deepak (2009), β-asarone kháng nấm nhiều hơn α-asarone. βasarone có hiệu lực trên nấm với MIC 0,5-8,0 mg/ml cao hơn α-asarone với MIC 2,08,0 mg/ml.Tinh dầu từ thân rễ cây TXB cho khả năng chống khuẩn cao hơn những bộ
phận còn lại.

7


 Phòng trừ côn trùng hại cây trồng
Qua kết quả thí nghiệm được thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm thì dịch
trích của cây Acorus calamus có khả năng phòng trừ được ruồi đục quả Bactrocera
cucurbitae (Nair và Thomas, 2001).
Theo Koul et al. (1990), trong dịch trích của cây TXB, β-asarone có khả năng
phòng trị Ceratitis capitata, Bactocera dorsalis, Dacus cucurbitae; α-asarone có hiệu
quả phòng trị trên Psila rosae và Peridroma saucia.
Theo Hossain et al. (2008), ly trích tinh dầu từ rễ cây Acorus calamus bằng dung
môi petroleum ether tiêu diệt được thành trùng của 2 loài mọt thóc đỏ (Tribolium
castaneum, Tribolium confusum) và cả loài mọt gạo (Sitophilus oryzae). Khi ly trích
tinh dầu từ thân rễ cây Acorus calamus bằng dung môi ethanol thì có khả năng phòng
trị Sitophilus zeamais (Changiu Yang, 2008).
Balakumbahan et al. (2010), asarone (2,4,5-trimethoxypropenyl-benzenes) cô lập
từ tinh dầu của Acaorus calamus từ thân và rễ có khả năng ức chế lên sự tăng trưởng,

Fusarium moniliforme, đồng thời ở nồng độ 1% engenol thì ức chế sự nảy mầm của
bào tử nấm Colletotrichum sp. và Fusarium moniliforme trong điều kiện in vitro. Đồng
thời theo Singh et al. (2010), với nồng độ 5000 μg/ml dịch trích của cây Acorus
calamus thì ức chế được sự phát triển của nấm Fusarium sp.
Khi tiến hành thí nghiệm nghiên cứu về dịch trích của cây Acorus calamus với
dung môi là dichloromethane thì kháng được 6 loại nấm là Alternaria brassicicola,
Colletotrichum gloeosporioides, Fusarium oxysporum, Phytophthora palmivora,
Pythium sp. và Sclerotium sp. (Pattara et al., 2005).
Theo Lee (2007) dùng dung môi n-hexane ly trích rễ cả cây Acorus gramineus,
với nồng độ 2000 mg/L thì ức chế mạnh sự phát triển của nấm Phytopthora.

 Phòng trừ vi khuẩn
Theo Phongpaichit et al. (2005), chiết xuất tinh dầu từ Acorus calamus cho hiệu
quả kháng khuẩn khác nhau bao gồm vi khuẩn, nấm men và ức chế sự phát của nấm
sợi, có hiệu quả cao với sợi nấm Trichophyton rubrum, Microsporum gypseum, và
Penicillium marneffei với IC50 giá trị tương ứng 0,2; 0,2 và 0,4 mg/ml. Nó có hiệu quả
tương đối với nấm men: Candida albicans, Cryptococcus neoformans và
Saccharomyces cerevisiae (MIC 0,1-1,0 mg/ml) và hiệu quả thấp hơn đối với vi khuẩn
(MIC 5-10 mg/ml).
Theo Asha et al. (2009) khi tiến hành thí nghiệm đánh giá hoạt động kháng sinh
của dịch trích Acorus calamus thì một số dung môi ly trích như dầu khí ether,
chloroform, hexane và ethyl acetate đều ức chế nấm, trong đó dung môi ly trích ethyl
acetate cho khả năng kháng nấm rõ rệt nhất với vùng đường kính ức chế dao động từ
20-28 mm và 18-25 mm. Các nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) từ thân, rễ và chất chiết
xuất từ lá cho hoạt động kháng nấm là 2-4 mg/ml, ngoại trừ Penicillium chrysogenum,
ức chế sự phát triển của nấm men là tương đối cao, 4-5 mg/ml và 6-8 mg/ml. MIC giá
trị cho hoạt động kháng khuẩn tương đối cao khoảng 16-42 mg/ml. Ngoài ra thí

9


cải ngọt là loại thức ăn sâu ăn tạp ưa nhất vì có trọng lượng lá giảm nhiều nhất, mật số
tấn công cao và thiệt hại nặng nhất, kế đó là đậu bắp, ớt chỉ thiên và ngò rí.

10


1.2.3 Đặc điểm hình thái và sinh học
+ Giai đoạn trứng: Theo Phạm Huỳnh Thanh Vân và Lê Thị Thuỳ Minh (2001),
trứng có hình bán cầu, đường kính trung bình 0,54 mm. Ban đầu trứng có màu vàng, vỏ
trứng rất mềm, sau đó vỏ trứng cứng dần, trứng chuyển thành màu vàng tro. Bướm đẻ
trứng thành từng ổ, mỗi ổ khoảng vài trăm trứng và được phủ lớp lông màu vàng nhạt
từ chóp bụng của bướm cái. Thời gian ủ trứng là 2,5±0,5 ngày.

Hình 1.3 Trứng Spodoptera litura
( />
+ Gian đoạn ấu trùng: Theo Lê Thị Sen (2011), sâu có 5-6 tuổi tùy điều kiện
môi trường, thời gian phát triển kéo dài từ 20-25 ngày. Nếu điều kiện thuận lợi sâu có
thể dài 35-53 mm, hình ống tròn. Tuổi nhỏ sâu có màu nâu, càng lớn sâu chuyển dần
thành màu nâu đậm. Trên cơ thể có một sọc màu vàng sáng ở hai bên hông chạy từ đốt
thứ nhất của bụng đến đốt cuối. Dọc đường ấy có những điểm hình bán nguyệt, từ đốt
thứ nhất đến đốt thứ 8 của bụng mỗi đốt có một chấm đen rõ, đây là đặc điểm để phân
biệt sâu này với các loài sâu khác, sâu càng lớn thì 2 chấm đen ở đốt thứ nhất càng hiện
rõ và gần như giao nhau tạo thành một khoang đen trên lưng vì vậy sâu còn được gọi là
sâu khoang.

11


Hình 1.4 Ấu trùng Spodoptera litura
( />


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status