BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
o0o
NGUYỄN THANH SƠN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHẾ PHẨM VI RÚT NPV
(Nucleopolyhedrovirus) ĐỂ QUẢN LÝ SÂU ĂN TẠP
Spodoptera litura Fab. GÂY HẠI CẢI LÀM DƯA TẠI XÃ
ĐÔNG PHƯỚC A – HUYỆN CHÂU THÀNH -
TỈNH HẬU GIANG
Cần Thơ – 12/2013 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
o0o
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHẾ PHẨM VI RÚT NPV
(Nucleopolyhedrovirus) ĐỂ QUẢN LÝ SÂU ĂN TẠP
Spodoptera litura Fab. GÂY HẠI CẢI LÀM DƯA TẠI XÃ
ĐÔNG PHƯỚC A – HUYỆN CHÂU THÀNH -
TỈNH HẬU GIANG
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Bảo Vệ
Thực Vật với đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHẾ PHẨM VI RÚT NPV (Nucleopolyhedrovirus) ĐỂ
QUẢN LÝ SÂU ĂN TẠP Spodoptera litura Fab. GÂY HẠI CẢI LÀM DƯA TẠI
XÃ ĐÔNG PHƯỚC A, HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
Do sinh viên Nguyễn Thanh Sơn thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng
ngày tháng . năm 2013
Đề tài tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức:
Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp: Cần Thơ, ngày .tháng .năm 2013
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
DUYỆT KHOA
CHỦ NHIỆM KHOA NN & SHƯD
iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi. Các số liệu,
kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình luận văn nào trước đây.
Trường: Trung học phổ thông Nguyễn Quang Diêu
Vào trường Đại học Cần Thơ năm 2010, học lớp Bảo Vệ Thực Vật khóa 36 thuộc
Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng. v
LỜI CẢM ƠN
Kính dâng
Cha Mẹ và gia đình đã suốt đời hy sinh vì tương lai chúng con.
Tỏ lòng biết ơn sâu sắc
Thầy Trần Văn Hai và cô Trịnh Thị Xuân đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, truyền
đạt nhiều kinh nghiệm quý báu giúp em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này.
Chân thành cảm ơn
Thầy cố vấn học tập Lê Văn Vàng và thầy Huỳnh Phước Mẫn nguyên cố vấn
học tập cùng toàn thể thầy cô khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Trường Đại
học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức và tâm huyết vô cùng quý báu cho em
trong suốt thời gian em học tại trường.
Xin cám ơn chân thành các bạn lớp Bảo vệ thực vật khóa 36 và các em sinh viên
khóa 37 đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình làm thí nghiệm để hoàn thành
đề tài.
Nguyễn Thanh Sơn
vi
Nguyễn Thanh Sơn, 2013. " ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHẾ PHẨM VI RÚT NPV
(Nucleopolyhedrovirus) ĐỂ QUẢN LÝ SÂU ĂN TẠP Spodoptera litura Fab.
GÂY HẠI CẢI LÀM DƯA TẠI XÃ ĐÔNG PHƯỚC A, HUYỆN CHÂU THÀNH,
TỈNH HẬU GIANG”.
Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng
Danh sách chữ viết tắt Error! Bookmark not defined.
Danh mục bảng ix
Danh mục các hình xi
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Sâu ăn tạp Spdoptera litura Fabricius 3
2.1.1 Sự phân bố 3
2.1.2 Ký chủ 3
2.1.3 Một số hình thái đặc điểm sinh học 3
2.1.4 Tập quán sinh sống và cách gây hại 5
2.1.6 Biện pháp phòng trị 7
2.2 Siêu vi khuẩn Spodoptera litura Nucleopolyhedrovirus (SpltNPV) 8
2.2.1 Phân loại 8
2.2.2 Đặc điểm của SpltNPV 8
2.2.3 Cấu tạo của SpltNPV 9
2.2.4 Sự lây nhiễm, xâm nhập và phát triển của vi rút đa nhân diện trong cơ thể
ký chủ 11
2.2.5 Sản xuất chế phẩm NPV ở Việt Nam 15
viii
2.3 Thuốc Nazomi 5 WG dùng trong thí nghiệm 20
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 21
3.1 PHƯƠNG TIỆN 21
3.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
3.1.2 Vật liệu và dụng cụ 21
3.2 PHƯƠNG PHÁP 22
3.2.1 Thí nghiệm 1: Đánh giá hiệu quả của bốn chủng vi rút SpltNPV thu thập trên
sâu ăn tạp S. litura trong điều kiện phòng thí nghiệm 22
3.2.2 Thí nghiệm 2: Đánh giá hiệu quả chế phẩm vi rút NPV (Nucleopolyhedrovirus)
để quản lý sâu ăn tạp gây hại cải làm dưa tại xã Đông Phước A, huyện Châu Thành,
tỉnh Hậu Giang 23
SpltNPV-VT2 Spodoptera litura Nucleopolyhedrovirus–Vị Thanh 2
SpltNPV-CT Spodoptera litura Nucleopolyhedrovirus–Châu Thành
SpltNPV-PH Spodoptera litura Nucleopolyhedrovirus–Phụng Hiệp
x
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
3.1
Các nghiệm thức sử dụng trong thí nghiệm tại xã Đông Phước A,
huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang
24
4.1
Độ hữu hiệu (%) của các chủng SpltNPV đối với sâu ăn tạp tuổi 2
ở các trong điều kiện PTN Bộ môn BVTV – ĐHCT
26
4.2
Hiệu quả (%) của liều lượng, lần phun chế phẩm vi rút NPV đối
với sâu ăn tạp gây hại cải làm dưa tại xã Đông Phước A, huyện
Châu Thành, tỉnh Hậu Giang
3.1
Các nghiệm thức trong thí nghiệm cải làm dưa tại xã Đông Phước A,
huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang
24
4.1
Sâu ăn tạp bị nhiễm SpltNPV-VT1 sau 5 ngày chủng nhiễm
27
1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Trong quá trình sản xuất thâm canh tăng năng suất cây trồng, sâu bệnh và các loại dịch
hại thường xuyên gây hại trên các loại cây trồng nông, lâm nghiệp. Chúng làm ảnh
hưởng đến năng suất, phẩm chất nông sản trên đồng ruộng cũng như trong các kho bảo
quản, gây tổn thất lớn về kinh tế cho xã hội.
Trong đó sâu ăn tạp Spodoptera litura (Fabricius), hay còn gọi là sâu ba khoang, sâu
đất, sâu ổ… là đối tượng gây hại quan trọng ở các vùng nhiệt đới, châu Á và một số
nước ôn đới, Châu Úc và đảo Thái Bình Dương. Nó có thể phá hại đến 290 loài cây
trồng thuộc 99 họ thực vật bao gồm các loại rau đậu, cây thực phẩm, cây lương thực và
rau màu. Theo Mochida và Okada (1974) thì sâu ăn tạp (SAT) gây hại trên cây thực
phẩm, cây thức ăn gia súc và cây kiểng. Chúng là đối tượng gây hại quan trọng trên cải
làm dưa, chúng tấn công ở các bộ phận của cây như: chồi, lá, hoa… ảnh hưởng đến
năng suất và giá trị kinh tế. Vì vậy việc phòng trừ SAT là một trong những khâu quan
trọng để tăng hiệu quả trong sản xuất.
Hiện nay, việc phòng trừ SAT chủ yếu là sử dụng thuốc hóa học. Tuy nhiên, việc sử
dụng thuốc hóa học để phòng trị SAT là rất khó khăn bởi vì sâu phát triển tính năng
kháng thuốc rất cao đối với nhiều loại thuốc (Kasai & Ozaki, 1975; Takai, 1991;
Hirose, 1995; Takatsuka et al., 2002; Nguyễn Văn Huỳnh & Lê Thị Sen, 2004), việc
lạm dụng thuốc hóa học trong phòng trừ sâu, bệnh hại sẽ làm ảnh hưởng đến môi
- Khảo sát hiệu quả của các lần phun với liều lượng khác nhau trong phòng trị sâu ăn
tạp gây hại cải làm dưa tại xã Đông Phước A, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
Từ đó có những định hướng mới trong công tác phòng trừ sâu ăn tạp mang tính hiệu
quả và bền vững hơn.
3
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Sâu ăn tạp Spodoptera litura Fabricius
Họ Bướm Đêm (Noctuidae); Bộ Cánh Vảy (Lepidoptera)
2.1.1 Sự phân bố
Sâu ăn tạp (Spodoptera litura Fab.) là loài có phổ ký chủ rộng, phân bố khắp nơi trên
thế giới: Châu Á, Châu Úc và cả những quần đảo thuộc Thái Bình Dương (Feakin,
1973. Đây là một trong những loài côn trùng gây hại quan trọng trong nông nghiệp
vùng nhiệt đới, chúng xuất hiện ở hầu hết các nước trên thế giới nhiều nhất là, Trung
Quốc, Nhật, Lào,… (OEPP /EPPO, 1996). Ở vùng Đông Nam Á, S. litura là loài gây
hại chủ yếu, xuất hiện nhiều ở Malaysia, Myanma và Việt Nam (Phạm Huỳnh Thanh
Vân & Lê Thị Thùy Minh, 2001).
2.1.2. Ký chủ
Theo Nguyễn Văn Tuất (2003), sâu ăn tạp gây hại trên 290 loại cây của 90 họ thực vật.
SAT gây hại trên cây thực phẩm, cây thức ăn gia xúc và cây kiểng (Mochida & Okada,
1974).
Ở Việt Nam sâu gây hại mạnh nhất trên đậu xanh, bắp, đậu nành, khoai lang, rau cải…
(Dương Minh, 1999). Tại Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), sâu ăn tạp là đối
tượng gây hại quan trọng nhất trên rau cải, sâu phá hoại vào mỗi thời điểm, mọi thời
đen ở đốt thứ nhất càng to dần và gần như giao nhau tạo thành khoang đen trên lưng
nên sâu ăn tạp còn được gọi là “sâu khoang”
Còn theo Nguyễn Văn Huỳnh (1999), ấu trùng tuổi 1, 2 và 3 thường sống trên cây,
nhưng thường thì đến tuổi 4 trở đi ban ngày chui xuống đất và ban đêm lại chui lên để
cắn phá, khi bị động sâu cuộn tròn lại rớt xuống đất và nằm bất động. Ấu trùng tuổi 1
thường có màu xanh lợt, đầu màu đen, dài từ 1 – 1,5mm, giai đoạn này kéo dài khoảng
2 ngày, ở giai đoạn này sâu thường sống quanh ổ trứng. Ấu trùng tuổi 2 xuất hiện 3 sọc
trên lưng, tuổi này sâu bắt đầu phân tán khả năng cắn phá tăng dần, giai đoạn này kéo
dài khoảng 1 – 2 ngày. Ấu trùng tuổi 3 và 4 thường có màu xám đen. Trong khi đó ở
tuổi 3 thì kéo dài từ 1 – 4 ngày còn tuổi 4 cũng khoảng 2 – 5 ngày, khi sang tuổi 5 và
tuổi 6 khả năng cắn phá rất mạnh. Giai đoạn tuổi 5 kéo dài khoảng 2 – 6 ngày và tuổi 6
kéo dài khoảng 3 – 7 ngày. Ở cuối tuổi 6 sâu chui xuống đất tạo một xoang trong đất
và sẽ hóa nhộng.
Giai đoạn nhộng: thời gian phát triển nhộng kéo dài 7 – 10 ngày, kích thước dài từ 18
– 20 mm (Nguyễn Văn Huỳnh, Lê Thị Sen, 2004). Nhộng sâu ăn tạp có màu xanh đọt
5
chuối, rất mềm ngay khi mới được hình thành, sau đó chuyển dần sang màu vàng xanh,
cuối cùng có màu nâu, thân cứng dần và có màu nâu đỏ. Khi sắp vũ hóa, nhộng có màu
nâu đen, các đốt cuối của nhộng có thể cử động được (Trần Văn Hai, 2005). Theo ghi
nhận của Phạm Thị Nhất (2000) thì mép trước của đốt bụng thứ 4 và vòng quanh mép
trước đốt bụng thứ 5 – 7 của nhộng có nhiều chấm lõm.
Nhìn chung, vòng đời của sâu ăn tạp tương đối ngắn trung bình 30,2 ngày, trong đó
giai đoạn ấu trùng chiếm trung bình 21,7 ngày, đây là giai đoạn gây hại quan trọng của
sâu ăn tạp. Khả năng sinh sản mạnh cùng với thời gian phá hoại kéo dài vì thế sâu ăn
tạp là đối tượng gây hại quan trọng cho rau màu.
2.1.4 Tập quán sinh sống và cách gây hại
Bướm thường vũ hóa vào buổi chiều và bay ra hoạt động vào lúc vừa tối, ban ngày
bướm đậu ở mặt sau lá hoặc trong các bụi cỏ. Bướm hoạt động từ tối đến nửa đêm, có
thể bay xa đến vài chục mét và cao đến 6 – 7 m. Có xu tính thích các chất có vị chua
ngọt và ánh sáng đèn. Sau vũ hóa một ngày, ngài cái đẻ trứng trên các lá. Trứng được
trùng có thời gian sống 4 – 10 ngày trong cả điều kiện có sự thay đổi nhiệt độ. Vòng
đời trung bình của sâu ăn tạp sẽ kết thúc khoảng 5 tuần dưới tác động của điều kiện
nhiệt độ
Ẩm độ: sẽ gây bất lợi cho sự bắt cặp ở giai đoạn thành trùng, nó thường kết hợp với
yếu tố nhiệt độ. Ở điều kiện nhiệt độ cao và ẩm độ thấp sẽ ảnh hưởng đến số lượng
trứng của thành trùng: trung bình 960 trứng ở 30
0
C và ẩm độ 90%, 145 trứng ở 35
0
C
và 30% ẩm độ. Sâu ăn tạp thích hợp ở ẩm độ 80 – 100% ở giai đoạn ấu trùng.
Ánh sáng: ảnh hưởng đến hoạt động của ấu trùng và thành trùng sâu ăn tạp rất rõ.
Thành trùng là loài bướm đêm, thường hoạt động vào lúc bắt đầu tối đến nữa đêm. Ấu
trùng sâu ăn tạp tuổi 4 bắt đầu có phản ứng với ánh sáng, ở tuổi này ấu trùng thường
chui vào mặt dưới của lá hoặc các hốc cây hoặc kẽ nứt của trái để trốn ánh sáng, đến
tuổi cuối sâu thường chui vào trong đất để làm nhộng (Phạm Thị Nhất, 2000; Lê Thị
Sen, 1999). Còn ấu trùng tuổi nhỏ có tính hướng quang rất mạnh, thường sống tập
trung trên mặt lá, nơi hội tụ ánh sáng nhiều nhất.
b. Ảnh hưởng của các yếu tố sinh vật (yếu tố phụ thuộc vào mật độ)
Thức ăn: theo Nguyễn Thị Thu Cúc (1998), thức ăn rất cần thiết cho sự cấu tạo các
tổ chức cơ thể của côn trùng: cần thiết cho sự sinh sản và phát triển là thức ăn chứa
protit, acid amin… còn thức ăn cần thiết cho sự duy trì cơ thể và hoạt động của côn
trùng là thức ăn năng lượng: glucid,… SAT có tính ăn rộng cho nên khả năng phá hoại
cây trồng của nó là rất lớn.
Nói chung, đối với sâu bọ hại nông nghiệp thì thức ăn là cây trồng có vai trò rất quan
trọng; tùy loài sâu bọ khác nhau có những yêu cầu riêng biệt. Tìm hiểu những yêu cầu
riêng biệt này của từng loài sâu bọ và của từng pha phát dục sẽ có ý nghĩa rất lớn trong
công tác phòng trừ sâu hại.
7
Yếu tố thiên địch: trong thiên nhiên có rất nhiều loài sinh vật tiêu diệt sâu ăn tạp
những dấu hiệu cắn phá lá đầu tiên và thông thường 10 ngày sau phải phun thuốc lại
một lần. Tuy nhiên vẫn chưa được áp dụng rộng rãi do chi phí sản xuất cao, bảo quản
còn khó khăn, và ảnh hưởng của yếu tố môi trường và sinh vật và còn ngằn ngại vì đưa
ra một tác nhân lạ có thể gây rũi ro như tác động môi trường và chuyển gen vào các
sinh vật bản địa (Munoz et al. , 1997).
2.2. Siêu vi khuẩn Spodoptera litura Nucleopolyhedrovirus (SpltNPV)
2.2.1 Phân loại
Phạm Thị Thùy (2004) cho rằng, các nhà khoa học phân loại vi rút dựa vào cấu trúc
của các viron. Nhưng theo Quang Chân Chân (2002) thì bên cạnh đặc điểm trên thì
việc phân loại còn dựa vào nhóm ký chủ và mô bào nơi vi rút định vị và nhân mật số
bên trong cơ thể vật chủ, còn cách thức tấn công và giết chết côn trùng ký chủ thì
không khác nhau. Theo sự phân loại trên thì SpltNPV thuộc giống NPVs, họ
Baculoviridae. Tên vi rút thường gắn với tên ký chủ ví dụ như: loài vi rút SpltNPV-Splt
là tên viết tắt của S. litura, NPVs được viết tắt từ tên chi Nucleopolyhedrovirus.
(George O. Poinar, Jr., & Gerard M. Thomas, 1984).
Khi nghiên cứu để xác định loài vi rút, các nhà khoa học thường dựa vào sự xuất hiện
của các thể protein khác nhau, bởi vi rút côn trùng thường có vỏ protein bao bọc để tạo
nên các thể vùi (virion) vơi hình khối đa diện hoặc hình hạt, không phải vi rút gây bệnh
trên côn trùng đều tạo thành những thể vùi mà cũng có những vi rút không tạo thể vùi
(George & Gerard, 1984).
2.2.2 Đặc điểm của SpltNPV
Theo Phạm Thị Thùy (2004) SpltNPV có các đặc tính sau: Đây là loại vi rút có kích
thước rất nhỏ có khả năng sống và sinh sản trên các mô và tế bào sống, nhưng chúng
không thể nuối cấy trên môi trường nhân tạo vì vi rút này có điểm nổi bật là chuyên
tính cao. Chúng chỉ gây bệnh trên những mô nhất định của côn trùng đó và mỗi loại vi
rút có phổ ký chủ riêng. NPVs gây bệnh trên sâu đo xanh có thể nhiễm lên sâu khoang
hoặc ngược lại nhưng tỷ lệ thấp (dưới 20%).
Từ kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Cảm và Hoàng Thị Việt (1996) thì NPVs
không chỉ ảnh hưởng ở giai đoạn ấu trùng mà còn cả nhộng và thành trùng. Hiệu lực
của NPVs được đánh giá cao hơn Bt nhờ vào lớp protein bao bọc bên ngoài. Đặc biệt
Cũng theo lời trích dẫn của D. C. Kelly (1985) cho rằng, vi rút có dạng hình que có
một hoặc nhiều nucleocapsid được bao bộc bởi một lớp vỏ, nucleocapsid là một phức
hợp gồm AND và protein (gọi tắt là Deoxyribo Nucleo Protein – DNP) và chúng cũng
được bao quanh bởi một lớp vỏ capsid (bên trong lớp vỏ capsid này chỉ có một hoặc
10
nhiều nucleocapsid), nếu là một nucleocapsid thì gọi là NPVs Nucleocapsid đơn –
Single Nucleocapsid (NPV-SNPV); nếu có nhiều nucleocapsid trong vỏ capsid thì gọi
là NPVs Nucleocapsid – Multiple Nucleocapsid (NPV – MNPV). Khi pha loãng thấy
chúng tạo huyền phù màu trắng đục, để quan sát thể vùi thì thường quan sát dưới kính
hiển vi ở độ phóng đại 15.280 – 20.000 lần ở độ phóng đại này thì có thể thấy thể vùi
đa diện là những khối kết tinh có nhiều cạnh, có dạng gần giống như hình cầu.
Theo D.L. Russell và R.A. Consigli (1985), thì vỏ bao bên ngoài của các nucleocapsid
dễ tạo thành một tiểu thể vi rút được biết là có cấu tạo từ glucoside. Các thể vùi
SpltNPV có đặc điểm là dễ bị kiềm hóa. Dùng dung dịch NaOH 0,1N có thể phá vỡ lớp
protein bao bên ngoài để giải phóng các virion. Chính vì vậy, trong ruột côn trùng, dịch
vị ruột mang tính kiềm nên các thể đa diện dễ bị phá hủy, phóng thích các virion để lây
nhiễm vào nhân các tế bào khác. Qua kỹ thuật tách chiết AND và làm sắc ký điện di
dưới sự phân tích của enzyme EcoRI và enzyme BAM HI nhận thấy sự phân bố các
đoạn AND của vi rút trên mỗi sâu hại có sự khác nhau. Điều đó cho thấy vi rút mỗi
loại sâu hại là riêng biệt.
Hình 2.1 Biểu đồ mô tả hình thái và cấu tạo của virion
(Nguồn www. www.micro.msb.le.ac.uk/index.html)
11
2.2.4 Sự lây nhiễm, xâm nhập và phát triển của vi rút đa nhân diện trong cơ thể
ký chủ
a. Sự lây nhiễm và sự xâm nhập của vi rút vào ký chủ
Theo Yasuhisa Kunimi và Madoka Nakai (2001) sự xâm nhậm của vi rút vào cơ thể ký
chủ được mô tả như sau: khi côn trùng bị niễm bởi vi rút SpltNPV thì vi rút sẽ xâm
năng của sâu làm sâu chết. Cơ chế được mô tả như sau: Khi vào ruột các thể vùi
polyhedral inclusion body của vi rút sẽ giải phóng ra các virion, dưới tác dụng của dịch
tiêu hóa, qua biểu bì mô ruột giữa, các virion xâm nhập vào dịch huyết tương, chúng
tiếp xúc với các tế bào và xâm nhập vào bên trong để thực hiện quá trình gây bệnh cho
sâu hại, quá trình này trải qua 3 giai đoạn:
Giai đoạn tiềm ẩn: kéo dài từ 6 – 12 giờ, đây là giai đoạn xâm nhập của các thể vùi
polyhedral inclusion body xâm nhập vào trong tế bào, các virion được phóng thích ra,
chúng tự dính vào các vị trí thích hợp trên màng nhân tế bào thành ruột của sâu.
Giai đoạn tăng trưởng (sinh sản): kéo dài 12 – 48 giờ, đây là giai đoạn tăng nhanh
của các virion mới trong dịch ruột của sâu, nhưng sâu tuổi nhỏ chỉ sau 32 giờ trong cở
thể của sâu đã chứa đầy các virion trần.
Giai đoạn cuối: đây là giai đoạn tạo thể vùi tức là các thể virion được bao bọc trong
thể protein, côn trùng trong giai đoạn này có màu sáng bóng, màu sắc nhạt và đôi khi
có màu hồng. Sự phân giải tế bào và sự phân giải của mô cơ thể bắt đầu ngay sau khi vi
rút tạo thể vùi.
Sâu tuổi nhỏ chết sau khi ăn phải thức ăn bị nhiễm từ 3 – 5 ngày. Nhưng sâu tuổi lớn
thời gian ủ bệnh từ 4 – 6 ngày, có khi dài hơn, vì quá trình ủ bệnh còn phụ thuộc vào
tuổi sâu, điều kiện nhiệt độ, ẩm độ và lượng thức ăn khi lây nhiễm…Ngay sau khi sâu
chết sâu trở nên mềm nhũng, da bị vỡ và giải phóng ra hàng tỷ thể vùi bám trên các bộ
phận của cây trồng, đó là nguồn vi rút lan truyền sang cá thể khác.
c.Triệu chứng
Steinhaus (1967) mô tả là khi bị nhiễm vi rút vào bên trong cơ thể của sâu sẽ làm thay
đổi hành vi của ký chủ. Ấu trùng bị nhiễm bệnh thường có xu hướng di chuyển lên
phía trên cao của cây và chết tại đó.
Ngoài ra, côn trùng sẽ ăn ít hoặc ngừng ăn và cơ thể phồng to, da dễ vỡ (nhất là giữa
các đốt), chỉ cần chạm nhẹ dụng cụ chăm sóc sâu (kẹp hoặc tăm) thì sâu sẽ bị nứt ra ở
các đốt thân. Để lý giải cho cơ chế này rất nhiều tác giả đã cho rằng có một loại