đánh giá hiệu quả kinh tế và khả năng tích lũy carbon của mô hình trồng xen sơn tra với các cây trồng khác tại tỉnh yên bái - Pdf 24

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH THỊ THÙY NHUNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ
KHẢ NĂNG TÍCH LŨY CARBON

CỦA
MÔ HÌNH TRỒNG XEN SƠN TRA VỚI CÁC
CÂY TRỒNG KHÁC TẠI TỈNH YÊN BÁI

CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC LÂM NGHIỆPNGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. LÊ SỸ TRUNG

Thái Nguyên – 2014

LỜI CAM ĐOAN

Trước hết tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng nhất đến
PGS.TS. Lê Sỹ Trung với tư cách là người hướng dẫn khoa học đã dành nhiều
thời gian và công sức giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này. Ngoài ra, tác
giả xin cảm ơn đến tổ chức FAO và ICRAF đã hỗ trợ về kinh phí cũng như
hướng dẫn kỹ thuật để tác giả có thể hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Khoa Lâm nghiệp – cùng các thầy, cô giáo
trong khoa đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ để tác giả học tập và hoàn thành
luận văn.
Tác giả xin cảm ơn Sở NN & PTNT tỉnh Yên Bái, UBND, Hạt Kiểm
Lâm huyện Trạm Tấu và Mù Cang Chải – tỉnh Yên Bái, UBND xã Xà Hồ,
Bản Công huyện Trạm Tấu, UBND xã Nặm Khắt, La Pán Tẩn huyện Mù
Cang Chải đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tác giả triển khai thu thập số
liệu ngoại nghiệp.
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới người thân trong gia đình và
bạn bè gần xa đã động viên, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này.

Tác giả

Đinh Thị Thùy Nhung DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BĐKH: Biến đổi khí hậu
C: carbon
CBTT: Cây bụi thảm tươi
CDM: Clean Development Machenism - Cơ chế phát triển sạch

m
i
: Khối lượng mẫu tươi bộ phận i của cây cá thể (kg)
M
ki
: Khối lượng mẫu khô của bộ phận i sau khi sấy ở 105
0
C
n: Số năm đầu tư làm mô hình
N: Mật độ cây trên mô hình (cây/ha)
NLKH: Nông lâm kết hợp
NN & PTNT: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
OTC: Ô tiêu chuẩn
P
CBTT/ha
: Sinh khối tươi, khô cây bụi, thảm tươi (tấn/ha)
P
CC/ha
: Sinh khối khô cây tầng cao (tấn/ha)
P
i-C
: Sinh khối tươi hoặc khô của cành cây (kg)
P
i-L
: Sinh khối tươi hoặc khô của lá cây (kg)
P
i-R
: Sinh khối tươi hoặc khô của rễ cây (kg)
P
i-T

SK
tươi
: Sinh khối tươi
t: Chỉ số năm phân tích
TB: Trung bình
TT: Thứ tự
UNEP: (United nations environment programme) Chương trình môi trường
quốc gia.
USD: United States dollars - Đô la Mỹ
VRR : Vật rơi rụng
VAC: Vườn – ao – chuồng
VR: Vườn – rừng
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Ý nghĩa của đề tài 2
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 3
1.1.1. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế 3
1.1.2. Cơ sở lý luận về biến đổi khí hậu 5
1.2. Tổng quan nghiên cứu về NLKH 6
1.2.1. Tổng quan nghiên cứu về NLKH ngoài nước 6
1.2.2. Kết quả nghiên cứu NLKH trong nước và nghiên cứu về cây Sơn tra 9
1.2.3. Các kết quả nghiên cứu về tích lũy carbon có liên quan đến đề tài
nghiên cứu 13
1.2.4. Đánh giá về tổng quan nghiên cứu 27
1.3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 29
1.3.1. Điều kiện tự nhiên 30

3.3.2. Lượng carbon tích lũy của các mô hình nghiên cứu 75
3.4. Đánh giá, phân tích thuận lợi khó khăn, cơ hội và thách thức và đề xuất các
giải pháp, khắc phục được những hạn chế trong quản lý, kinh doanh
các mô hình 90
CHƯƠNG IV. KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 95
4.1. Kết luận 95
4.1.1. Đánh giá thực trạng các mô hình nghiên cứu 95
4.1.2. Hiệu quả kinh tế của các mô hình “Sơn tra với các cây trồng khác” 95
4.1.3. Đánh giá khả năng tích trữ carbon của các mô hình nghiên cứu
tại tỉnh Yên Bái 95
4.1.4 Đánh giá, phân tích thuận lợi khó khăn, cơ hội và thách thức và
đề xuất các giải pháp, khắc phục được những hạn chế trong quản lý,
kinh doanh các mô hình 96
4.2. Kiến nghị 96
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Xác định mô hình phổ biến 53
Bảng 3.2: Hiệu quả kinh tế các mô hình nghiên cứu (tính cho 1 ha) 53
Bảng 3.3: Bảng so sánh hiệu quả kinh tế của cây trồng giữa mô hình trồng
thuần Sơn tra và Sơn tra-Vối thuốc (đồng/ha/năm) 54
Bảng 3.4: Bảng so sánh hiệu quả kinh tế của cây trồng giữa mô hình trồng
thuần Sơn tra và Sơn tra-Vối thuốc (đồng/ha/năm) 55
Bảng 3.5: Bảng so sánh hiệu quả kinh tế của cây trồng giữa mô hình trồng
thuần và trồng xen 55
Bảng 3.6: Sinh khối khô trong mô hình trồng xen Sơn tra-Vối thuốc 57
Bảng 3.7: Sinh khối khô trong mô hình trồng xen Sơn tra-Thông 58
Bảng 3.8: Sinh khối khô trong mô hình trồng thuần Sơn tra 60

của mô hình trồng xen Sơn tra - Thông 84
Bảng 3.28: Cấu trúc lượng carbon tích lũy trong vật rơi rụng 85
của mô hình trồng xen Sơn tra - Thông 85
Bảng 3.29: Lượng carbon tích lũy trong đất của các mô hình nghiên cứu 86
Bảng 3.30: khối lượng các chất trong mô hình nghiên cứu 87
Bảng 3.31: So sánh khả năng tích lũy carbon trong các mô hình nghiên cứu
(tấn/ha) 88
Bảng 3.32: Tổng hợp hiệu quả kinh tế của các mô hình nghiên cứu 89 DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 : Chu trình carbon toàn cầu (Theo UNEP, 2005) 14
Hình 3.1: Biểu đồ thành phần sinh khối khô 58
của mô hình trồng xen Sơn tra-Vối thuốc 58
Hình 3.2: Biểu đồ thành phần sinh khối khô 59
của mô hình trồng xen Sơn tra-Thông 59
Hình 3.3: Biểu đồ cấu trúc sinh khối tươi cây bụi thảm tươi của mô hình
trồng thuần Sơn tra 61
Hình 3.4: Biểu đồ cấu trúc sinh khối tươi cây bụi thảm tươi của mô hình trồng
xen Sơn tra-Vối thuốc 63
Hình 3.5: Biểu đồ cấu trúc sinh khối tươi cây bụi thảm tươi của mô hình trồng
xen Sơn tra-Thông 64
Hình 3.6: Biểu đồ sinh khối trung bình cây tầng cây bụi thảm tươi của các mô
hình trồng Sơn tra 65
Hình 3.7: Biểu đồ cấu trúc sinh khối khô tầng cây bụi thảm tươi trong mô
hình trồng thuần Sơn tra 67
Hình 3.8: Biểu đồ cấu trúc sinh khối khô tầng cây bụi thảm tươi trong mô
hình trồng xen Sơn tra - Vối thuốc 68
Hình 3.9: Biểu đồ cấu trúc sinh khối khô tầng cây bụi thảm tươi trong mô

Vấn đề đặt ra làm thế nào để kinh doanh lợi dụng trên đất dốc vừa
đem lại hiệu quả kinh tế lại không ảnh hưởng đến môi trường và chú ý đến
tiềm năng giảm phát thải của mô hình để kinh doanh bền vững? Một trong
các nội dung cần đi sâu nghiên cứu là điều tra đánh giá cụ thể, khách quan
các mô hình nông lâm kết hợp (canh tác đất dốc).
Cây Sơn tra hay cây táo mèo (Docynia indica) thuộc họ hoa hồng
(Rosaceae) phân bố chủ yếu ở miền nam Trung Quốc và một số tỉnh phía

2
Tây Bắc Việt Nam như Yên Bái, Lào Cai, Sơn La… Nhưng nổi tiếng và có
mùi vị đặc trưng nhất là sơn tra ở Yên Bái, nơi có khí hậu mát mẻ ở độ cao
trên 1.000m. Táo mèo có vị chua chát, ngọt thơm rất đặc trưng được sử dụng
rộng rãi trong chế biến nước quả, rượu và là vị thuốc quý trong đông y. Táo
mèo Yên Bái có vị thơm và lượng đường lớn rất phù hợp cho sản xuất công
nghiệp các sản phẩm Vang, nước ép. Tiềm năng và vai trò của cây táo mèo với
sự phát triển của Yên Bái rất lớn, song việc sản xuất và kinh doanh còn manh
mún, nhỏ lẻ, hiệu quả thấp do những khó khăn về vốn, kĩ thuật và nhân lực.
Đây cũng là khó khăn chung với các ngành khác trong tỉnh và cả khu vực miền
núi phía Bắc. Chính vì vậy tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh giá hiệu quả kinh tế và khả năng tích lũy carbon

của mô hình
trồng xen “Sơn tra với các cây trồng khác” tại tỉnh Yên Bái”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, hiệu quả kinh tế, khả năng tích lũy
carbon của các mô hình trồng xen cây Sơn tra với một số cây trồng khác, để
đề xuất, khuyến khích phát triển và nhân rộng các mô hình trồng xen có hiệu
quả trong tương lai.
3. Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

C là chi phí sản xuất
Culicop cho rằng: “Hiệu quả sản xuất là kết quả của một nền sản xuất
nhất định, chúng ta sẽ so sánh kết quả với chi phí cần thiết để đạt được kết
quả đó. Khi lấy tổng sản phẩm chia cho vốn sản xuất chúng ta được hiệu suất
vốn, tổng sản phẩm chia cho vật tư được hiệu suất vật tư, tổng sản phẩm chia
cho số lao động được hiệu suất lao động” [1].
Với cách tính này chỉ rõ được mức độ hiệu quả của sử dụng các nguồn
lực sản xuất khác nhau, từ đó so sánh được HQKT của các quy mô sản xuất
khác nhau. Nhược điểm của cách đánh giá này là không thể thực hiện được

4
quy mô của HQKT nói chung. Ở Việt Nam một số tác giả như Trần Văn Đức
(1993) cho rằng: “ HQKT được xem xét trong mối tương quan giữa một bên
là kết quả thu được và một bên là chi phí bỏ ra” [5].
- HQKT được đo bằng hiệu số giữa giá trị sản xuất đạt được và lượng
chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
HQKT = K – C
Tác giả Đỗ Thịnh (1988) cũng cho rằng: “Thông thường hiệu quả đạt
được biểu hiện như một hiệu số giữa kết quả và chi phí…Tuy nhiên trong
thực tế có nhiều trường hợp không thực hiện được phép trừ, hoặc phép trừ
không có ý nghĩa. Do vậy, nói một cách khác linh hoạt hơn nên hiểu hiệu quả
kinh tế là một kết quả tốt nhất phù hợp mong muốn” [18]
* Quan điểm mới về HQKT
Nhằm khắc phục những hạn chế của quan điểm truyền thống. Quan
điểm mới ra đời căn cứ vào tổ hợp các yếu tố:
- Trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào đầu ra. Mối quan hệ
này cần phân biệt rõ ba phạm trù: hiệu quả kỹ thuật (technical efficiency),
hiệu quả phân bổ các nguồn lực (Allocative efficiency) và hiệu quả kinh tế
(Economic efficiency).
+ Hiệu quả kĩ thuật: là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên 1 đơn vị

1.1.2. Cơ sở lý luận về biến đổi khí hậu
BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và ( hoặc)
dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài
thập kỷ hoặc dài hơn. Đó là những thay đổi theo thời gian của các hình thái
thời tiết trên toàn thế giới, nhiệt độ trung bình tăng hay còn gọi là sự nóng dần
lên của Trái Đất, tăng nồng độ khí nhà kính hoặc khí Carbon thải ra từ các
hoạt động của con người và đọng lại trong khí quyển.
Biến đổi khí hậu đã và đang nhận được sự quan tâm của toàn cầu mà
nguyên nhân là do sự phát thải CO2 và khí nhà kính từ suy thoái rừng, mất

6
rừng; Hội nghị thay đổi Khí hậu (Climate Change Conference) đã ký thỏa
hiệp Bali (Indonesia) do Liên Hợp Quốc chủ trì vào ngày 15 tháng 12 năm
2007 với sự tham gia của 187 Quốc gia thành viên trên thế gới . Hội đồng liên
chính phủ về biến đổi khí hậu (The Intergovernmental Panel on Climate
Change - IPCC) dự báo khoảng 1,5 tỷ tấn carbon sẽ phát thải hàng năm do
thay đổi sử dụng đất rừng nhiệt đới, chiếm 1/5 khí CO
2
phát thải trên toàn thế
giới – nhiều hơn cả phát thải toàn cầu trong ngành giao thông. Lần đầu tiên,
hội nghị đã nêu lên chương trình giúp đỡ việc hạn chế sự phá hủy vùng rừng
nhiệt đới trên thế giới để giảm thiểu phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính
"Giảm thiểu khí phát thải từ suy thoái và mất rừng" (Reducing Emissions
from Deforestation and Degradation - REDD). Hội nghị cũng đã chính thức
công bố các dự án thử nghiệm cho phép các nước đang phát triển có thể tham
gia chương trình REDD. Theo đó các nước phát triển sẽ đáp ứng một số mục
tiêu giảm phát thải của nước họ bằng cách mua các tín dụng carbon của các
nước đang phát triển từ những cánh rừng hấp thụ CO2. Một số dự án REDD
đang được thực hiện ở châu Á nhằm mục đích chính thức đưa chương trình
này vào nội dung tiếp theo của Nghị định thư Kyoto bắt đầu từ năm 2013.

giữa các thành phần của chúng [27].
Các khái niệm trên đơn giản mô tả NLKH như là một loạt các hướng
dẫn cho một hệ thống sử dụng đất liên tục. Tuy nhiên, NLKH như là một kỹ
thuật và khoa học đã được phát triển thành một điều gì khác hơn là các hướng
dẫn. Ngày nay nó được xem như là một ngành nghề và một cách tiếp cận về
sử dụng đất trong đó đã phối hợp sự đa dạng của quản lý tài nguyên tự nhiên
một cách bền vững [26].

8
Như vậy bản chất của hệ thống NLKH là hệ thống sử dụng đất để canh
tác nông nghiệp nhưng có sự kết hợp giữa cây (hoặc/và) con nông nghiệp với
cây lâm nghiệp trên cùng một đơn vị diện tích, đơn vị kinh doanh. Tuy nhiên
sự kết hợp này có thể diễn ra đồng thời hoặc cũng có thể kế tiếp nhau về mặt
không gian hay thời gian. Xét về thành phần một hệ thống NLKH gồm có:
- Các cây thân gỗ sống lâu năm.
- Các cây thân thảo (Cây nông nghiệp hoặc cỏ )
- Vật nuôi (gia súc, gia cầm, thủy sản ) [20], [22].
Tóm lại: Mục đích cuối cùng của các hệ thống NLKH là tận dụng triệt
để đất đai về mặt không gian và thời gian cũng như là một biện pháp canh tác
bảo vệ đất, vấn đề đặt ra là con người chúng ta sử dụng các hệ thống này như
thế nào cho hợp lý để canh tác lâu bền trên đất dốc, đó là nhiệm vụ mà các
nhà khoa học cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu
NLKH ở Ấn Độ:
Ấn Độ nổi tiếng thế giới với cuộc ‘‘cách mạng xanh” về canh tác
NLKH trong đó canh tác trong các vườn gia đình, vườn rừng được áp dụng
phổ biến. Nhờ cuộc cách mạng này mà Ấn Độ từ một nước đông dân chẳng
những không bị thiếu mà còn xuất khẩu lương thực.
NLKH ở Indonesia
Từ 1972 hoạt động NLKH ở nước này do các công ty lâm nghiệp, nông
nghiệp tổ chức và quản lý. Việc chọn đất khai hoang để trồng cây lâm nghiệp,

doanh Sông Cầu – Bắc Thái đã cho những kết quả khả quan.
Năm 1983 – 1985, Nguyễn Văn Tiễn (1988) [16] thí nghiệm trồng xen
Sắn với Lạc cùng với các băng Cốt khí và hàng rào xanh kết hợp bón phân
khoáng hợp lý trên đất dốc nghèo dinh dưỡng. Kết quả cho thấy ngoài việc

10
thu thêm sản phẩm Lạc từ 5,3 – 6,4 tạ/ha và đã làm năng suất Sắn đạt 12,1 –
16,6 tấn/ha, thì lượng đất xói mòn đã giảm từ 2,8-4,5 lần so với trồng sắn thuần.
Thái Phiên vs Cs (1986) [11] tổng kết kết quả nghiên cứu ‘‘Trong 5
năm của chương trình nhà nước giai đoạn 1980-1985” về ‘‘Áp dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật trong công tác khai hoang và chống xói mòn đất mới
khai hoang” đã tập hợp các biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất đỏ vàng,
khai hoang, phục hóa trên địa bàn đất dốc toàn quốc. Nhiều mô hình bảo vệ
đất chống xói mòn trên các loại đất với cơ cấu cây trồng chính được thực hiện
và áp dụng trong sản xuất.
Hiện trạng môi trường và quản lý tài nguyên rừng Việt Nam đang nằm
dưới những áp lực nặng nề. Các hệ sinh thái Việt Nam đang bị phá vỡ, tài
nguyên đất rừng, đất và nước đang bị suy thoái trầm trọng, nguồn sống của
đồng bào vùng cao chủ yếu vẫn là dựa vào rừng, đốt nương làm rẫy. Trong 9
triệu người dân tộc ít người thì vẫn có tới 2.879.685 người thuộc 482.612 hộ
sống bằng phương thức canh tác nương rẫy. Trong đó người Tày có 7%,
người Nùng 16%, người Thái 45%, trừ người Kinh ra còn lại tất cả các dân
tộc ít người khác sống bằng canh tác nương rẫy (dt Lê Trọng Cúc và Cs,
2001) [3].
Ở nước ta đất dốc chiếm tỷ lệ lớn (72% diện tích đất canh tác là đất có
độ dốc), nên cần có phương thức sử dụng và bảo vệ đất dốc trên quan điểm
bền vững. Nhiều tác giả đã nghiên cứu về vấn đề này và đưa ra một số biện pháp
kỹ thuật như sau:
- Ở độ dốc dưới 12
0

hợp lý tài nguyên đất dốc giữa kiến thức lâu đời của người dân địa phương
với những kỹ thuật tiên tiến theo phương thức NLKH là một phương thức
canh tác chiến lược cần được phổ cập rộng rãi đối với vùng đồi núi [16], [15].
Đặng Văn Minh, (2005) [10] khi nghiên cứu về sự ảnh hưởng tới chất
lượng đất của mô hình sản xuất trang trại NLKH tại trung tâm thực hành, thực
nghiệm, Trường Đại học Nông – Lâm Thái Nguyên đã đưa ra kết luận: Canh
tác trên đất dốc theo mô hình trang trại NLKH đã có ảnh hưởng tích cực tới việc
duy trì chất lượng đất.

12
Đặng Kim Vui và Cs, 2005 [20] khi nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật
cải tiến một số mô hình NLKH trên địa bàn huyện Võ Nhai – Thái Nguyên đã
chỉ ra: để làm tăng năng suất cây trồng và đảm bảo canh tác lâu bền trên đất
dốc ngoài việc lựa chọn hệ thống cây trồng phù hợp thì cần phải trồng xen các
loài cây cải tạo đất như Cốt khí, Muồng đen, Keo dậu.
Như vậy NLKH được tiến hành không chỉ nhằm nâng cao năng suất
cho sản xuất nông – lâm nghiệp mà còn tạo ra môi trường ổn định sinh thái
cho mỗi vùng.
1.2.2.2. Cây Sơn Tra Yên Bái
Đặc điểm tự nhiên
Tên Việt Nam là Sơn Tra (Táo mèo)
Tên Latin là Docynia indica
Họ Hoa hồng Rosaceae
Bộ Hoa hồng Rosales
Thuộc nhóm cây gỗ nhỏ, cây cao 4-5 m, cành non có gai và lông nhung
màu trắng, khi già nhẵn. Lá hình mũi mác dài 7-10cm, rộng 1,5- 2cm, khi non
có 3 - 5 thùy, tròn ở gốc, thuôn nhọn ở đỉnh, mép lá nguyên hoặc có răng cưa,
lông nhung màu trắng ở mặt dưới, gân bên 6 – 10 đôi, phân chia tới tận mép
lá; cuống lá dài 15 – 20mm. Lá kèm hình mũi dùi, sớm rụng. Cụm hoa chùm 1
– 3 hoa hoặc đơn, có lông, cuống hoa rất ngắn hoặc không có.

carbon trao đổi do sự hô hấp và quang hợp của thực vật là 0,61 Tt và dòng
trao đổi giữa không khí và đại dương là 0,92 Tt.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status