Đánh giá hiệu quả kinh tế và tiềm năng tích lũy carbon của mô hình nông lâm kết hợp cà phê chè (coffea arabica) với keo dậu (leucaena leucocephala) tại huyện mường ảng, tỉnh điện biên - Pdf 25


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LỤC XUÂN VIỆT
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ TIỀM NĂNG
TÍCH LŨY CARBON CỦA MÔ HÌNH NÔNG LÂM
KẾT HỢP CÀ PHÊ CHÈ (Coffea arabica) VỚI
KEO DẬU (Leucaena leucocephala)TẠI
HUYỆN MƢỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.02.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. LÊ SỸ TRUNG Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ii 2012-2014.
.
.

trong kho
.

.
.
tán
: Đường kính tán
D
1.3
: Đường kính ngang ngực ở vị trí 1.3 m
FAO: Food and Agriculture Organization of the United Nations - Tổ chức
Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
GHG: Green House Gas - Khí nhà kính
GTGT: Giá trị gia tăng
H
vn
: Chiều cao vút ngọn cây
ICRAF: Word Agroforestry Centre - Trung tâm Nông Lâm Thế giới

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

iv
IPCC: Intergovernmental Panel on Climate Change - Ủy ban Quốc tế về Biến
đổi khí hậu
IRR: Internal Rate of Returne - Tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ
KD: Keo dậu
KHKT: Khoa học kỹ thuật
LNXH: Lâm nghiệp xã hội
M
CO2
: Khối lượng CO
2
hấp thụ toàn mô hình (tấn/ha)
M
MH

i-R
: Sinh khối tươi hoặc khô của rễ cây (kg)
P
i-T
: Sinh khối tươi hoặc khô của thân cây (kg)
P
ki
: Sinh khối bộ phận i cây cá thể (thân, cành, lá, rễ) (kg)
P
MH
: Sinh khối tươi, khô toàn mô hình (tấn/ha)
P
OTC
: Sinh khối khô tầng cây gỗ trong OTC 500m
2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

v
P
ti
: Sinh khối tươi bộ phận của cây cá thể (kg)
PRA: Participatory Rural Appraisal – Đánh giá nông thôn có sự tham gia của
người dân
P
VRR
: Sinh khối tươi, khô vật rơi rụng (tấn/ha)
QĐ-BNN-HTQT: Quyết định – Bộ Nông Nghiệp – Hội đồng quản trị
r : Lãi xuất cho vay
RACSA: Rapid Apraisal Carbon Stock for Agroforestry - Đánh giá nhanh khả

VR: Vườn – rừng
XDCB: Xây dựng cơ bản
XT: Xoan ta
4C: Common Code for the Coffee Community - Hiệp hội Cộng đồng Cà phê
lợi ích chung
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

vii
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU i
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Ý nghĩa của đề tài 2
CHƢƠNG 1 : TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1. Những nghiên cứu về NLKH trên thế giới. 4
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu về NLKH trên thế giới 4
1.1.2. Phân loại NLKH trên thế giới 6
1.1.3. Tình hình phát triển NLKH trên thế giới hiện nay 7
1.1.4. Một số phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế trong
Nông lâm kết hợp 9
1.1.5. Nghiên cứu khả năng tích lũy carbon trên thế giới 10
1.2. Những nghiên cứu về NLKH ở Việt Nam 12
1.2.1. Lịch sử nghiên cứu về NLKH ở Việt Nam 12
1.2.2.Phân loại NLKH ở Việt Nam 15
1.2.3. Thực tế sản xuất NLKH ở Việt Nam 16
1.2.4. Hiệu quả kinh tế của một số hệ thống Nông lâm kết hợp ở nước ta 18

3.1. Thực trạng phát triển các mô hình NLKH Cà phê chè với một số loài
cây lâm nghiệp 56
3.2. Hiệu quả kinh tế của mô hình Cà phê chè – Keo dậu 59
3.3. Kết quả nghiên cứu về khả năng tích lũy carbon của mô hình 62
3.3.1. Sinh khối của mô hình Cà phê chè – Keo dậu 62
3.3.2. Lượng carbon tích lũy trong mô hình nghiên cứu 74
3.4. Nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh khối khô của cây Cà phê với
các nhân tố điều tra 87
3.5. Kết quả nghiên cứu về các chất dinh dưỡng trong các mô hình
nghiên cứu 88
3.6. Đánh giá chung về vai trò của mô hình Cà phê chè – Keo dậu trong việc
thích ứng với biến đổi khí hậu 93
3.7. Đánh giá ưu nhược điểm của mô hình và đề xuất giải pháp 91
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 98
1. Kết luận 98
2. Tồn tại 100
3. Kiến nghị 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ix
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Hiệu quả kinh tế của một số hệ thống sử dụng đất dốc tại
khu vực Tam Đảo – Vĩnh Phúc 19
Bảng 1.2: Diễn biến diện tích và sản lượng cà phê từ năm 2008-2012 31
Bảng 1.3: Tình hình đất đai của huyện Mường Ảng năm 2011 – 2013 37
Bảng 2.1: Tính toán tổng C tích lũy của các OTC 54

Bảng 3.21: Lượng carbon tích luỹ toàn mô hình Cà phê chè – Keo dậu 82
Bảng 3.22: Lượng carbon tích lũy trên toàn 2 mô hình 84
Bảng 3.23: Lượng carbon tích lũy trung bình trong 1 năm của 2 mô hình 85
Bảng 3.24: Mối quan hệ giữa sinh khối khô cây cà phê cá lẻ với các nhân tố
điều tra của mô hình nghiên cứu 87
Bảng 3.25: Tổng hợp kết quả phân tích đất 88
Bảng 3.26: Tổng hợp khó khăn và đề xuất giải pháp 91 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

xi
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang

Hình 1.1: Đặc điểm hình thái cây Cà phê chè Arabica 25
Hình 1.2: Đặc điểm hình thái cây Keo dậu……………………………….…32
Hình 1.3: Biểu đồ biến đổi nhiệt độ của huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên
trong 30 năm (1980 – 2010) 34
Hình 1.4: Biểu đồ nhiệt độ, lượng mưa trung bình trong 30 năm (1980 –
2010) của huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên 35
Hình 3.1: Biểu đồ cấu trúc sinh khối khô tầng cây cao của mô hình Cà phê -
Keo dậu trong 3 cấp tuổi 63
Hình 3.2: Biểu đồ cấu trúc sinh khối tươi cây cà phê tuổi 15 của mô hình Cà
phê – Keo dậu 64
Hình 3.3: Biểu đồ sinh khối tươi trung bình tầng dưới tán của 2 mô hình
trong 3 cấp tuổi 5, 10, 15 66
3.4 67
3.5 )
– 15 68

Cai, Yên Bái. Nơi đây có địa hình phức tạp, cao, dốc, chia cắt nhất Việt Nam,
có diện tích đất lớn, dốc (chủ yếu là đất đồi núi và đất gò đồi) dành cho sản
xuất cây lương thực và cây mầu, song điều kiện canh tác còn gặp nhiều khó
khăn (xa khu dân cư, dốc, khó sử dụng công cụ sản xuất hiện đại, khó vận
chuyển vật tư và sản phẩm).
Do bất lợi của điều kiện tự nhiên như vậy, buộc người dân sống ở vùng
núi đã khai thác lợi dụng tài nguyên đất dốc, xây dựng lên các mô hình canh
tác áp dụng thích hợp trên nhiều loại đất, địa hình, tập quán canh tác và nhu
cầu thị trường của từng khu vực gò đồi khác nhau của tỉnh. Hiện nay có ba
mô hình canh tác đã được thử nghiệm và triển khai rộng trên 6 tỉnh ở Tây Bắc đó
là: Mô hình canh tác chuyên màu, cây công nghiệp ngắn và dài ngày, mô hình
canh tác cây ăn quả xen các loại cây hoa màu ngắn ngày và mô hình canh tác
nông lâm kết hợp. Tính hiệu quả của các loại mô hình được phân tích, đánh giá
tổng hợp theo 3 khía cạnh: môi trường, kinh tế, xã hội. Tuy nhiên thì hiệu quả
kinh tế của các mô hình này vẫn còn thấp, và thiếu tính bền vững.
Mặt khác, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng
nề nhất của biến đổi khí hậu, đặc biệt trong bối cảnh nếu mực nước biển tiếp
tục dâng cao như các kịch bản đã dự đoán. Những tác động lớn đó sẽ gây ra
những hệ lụy tồi tệ đối với xã hội cũng như người dân, tiềm ẩn những nguy cơ
suy thoái và bất ổn xã hội ở Việt Nam. Cho nên ngoài vấn đề phát triển kinh
tế cũng như cải thiện đời sống cho người dân ở khu vực Tây Bắc thì vấn đề về
bảo vệ môi trường hiện nay cũng rất được chú trọng.
Theo đánh giá của ICRAF, các mô hình NLKH có thể được coi là giải
pháp tốt nhất để giảm sự nóng lên toàn cầu, đồng thời giảm đói nghèo ở các
nước đang phát triển. Mô hình NLKH được coi là biện pháp có tác dụng
phòng vệ tốt vì khả năng bảo vệ môi trường, đồng thời giải quyết được phần
nào khía cạnh kinh tế của các hộ gia đình sống ở khu vực Tây Bắc. Tuy nhiên,
khả năng phòng vệ lại mâu thuẫn với nhu cầu phát triển kinh tế, cải thiện cuộc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Bổ sung phương pháp tiếp cận và nghiên cứu trong nghiên cứu đánh
giá các hệ thống NLKH: Hiệu quả kinh tế, khả năng tích lũy carbon của mô
hình NLKH.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn bổ sung cơ sở cho việc qui hoạch,
định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc nói chung và Điện Biên
nói riêng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3
Ý nghĩa thực tiễn
- Các giải pháp mà luận văn đề xuất sẽ được ứng dụng vào thực tiễn sản
xuất để góp phần phát triển các hệ thống NLKH theo hướng sử dụng bền
vững, cho hiệu quả kinh tế cao, ổn định đời sống người dân vùng Tây Bắc


(1858) (dt Phạm Quang Vinh và cộng sự, 2005) [48] nguồn gốc của phương
thức này là từ ngôn ngữ của địa phương Myanma: Taung nghĩa là canh tác, ya
là đồi núi, như vậy Taungya là phương thức canh tác trên đất đồi núi, điều đó
cũng đồng nghĩa với phương thức canh tác trên đất dốc. Sau đó hệ thống
Taungya được đưa vào sử dụng rất sớm ở Ấn Độ và được truyền bá rộng rãi
qua Châu Á, Châu Phi và Mỹ La Tinh. Ngày nay hệ thống Taungya được biết
đến với những tên gọi khác nhau, ở một số nước nó được gọi như là một sự
biểu tượng đặc biệt của phương thức du canh ở Inđônêxia người ta gọi là
Tumpansary, ở Philippin là Kaingyning, ở Malaixia là Ladang… Qua nhiều
năm, nhiều khái niệm khác nhau được phát triển để diễn tả hiểu biết rõ hơn về
NLKH. Sau đây là một số khái niệm về NLKH khác nhau được phát triển cho
đến ngày nay.
NLKH là một hệ thống quả lý đất vững bền làm gia tăng sức sản xuất
tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất các loại hoa màu (kể cả cây trồng lâu
năm), cây rừng và/hay với gia súc cùng lúc hay kế tiếp nhau trên 1 diện tích

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

5
đất, và áp dụng các kỹ thuật canh tác tương ứng với các điều kiện văn hóa xã
hội của dân cư địa phương [51].
NLKH là một hệ thống quản lý đất đai trong đó các sản phẩm của rừng
và trồng trọt được sản xuất cùng lúc hay kế tiếp nhau trên các diện tích đất
thích hợp để tạo ra các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho cộng đồng dân
cư tại địa phương [17].
NLKH là một hệ thống sử dụng đất trong đó phối hợp cây lâu năm với
hoa màu và/ hay vật nuôi một cách thích hợp với điều kiện sinh thái và xã hội,
theo hình thức phối hợp không gian và thời gian, để gia tăng sức sản xuất tổng
thể của thực vật trồng và vật nuôi một cách bền vững trên một đơn vị diện
tích đất, đặc biệt trong các tình huống có kỹ thuật thấp và trên các vùng đất

Các định nghĩa trên chỉ ra những đặc trung cơ bản của NLKH đó là:
- Thông thường có hai hoặc nhiều loài cây (có thể gồm cả động vật)
nhưng ít nhất một trong chúng phải là những cây gỗ sống lâu năm.
- Một hệ thống NLKH luôn có hai hoặc nhiều sản phẩm đầu ra.
- Chu kỳ của một hệ thống NLKH dù đơn giản nhất vẫn phức tạp hơn
hệ thống độc canh cả về phương diện kinh tế cũng như sinh thái học (bao gồm
cả cấu trúc và chức năng sinh thái học).
Hơn thế ở đây còn có ba đặc tính mà xét về phương diện lý luận thì tất
cả các hệ thống NLKH đều phải có đó là: Khả năng sản xuất; Tính bền vững;
Tính khả khi [27], [29], [32], [50], [52].
Như vậy bản chất của hệ thống NLKH là hệ thống sử dụng đất để canh
tác nông nghiệp nhưng có sự kết hợp giữa cây (hoặc/và) con nông nghiệp với
cây lâm nghiệp trên cùng một đơn vị diện tích, đơn vị kinh doanh. Tuy nhiên
sự kết hợp này có thể diễn ra đồng thời hoặc cũng có thể kế tiếp nhau về mặt
không gian hay thời gian. Xét về thành phần một hệ thống NLKH gồm có:
- Các cây thân gỗ sống lâu năm.
- Các cây thân thảo (Cây nông nghiệp hoặc cỏ )
- Vật nuôi (gia súc, gia cầm, thủy sản ) [50], [52].
Tóm lại: Mục đích cuối cùng của các hệ thống NLKH là tận dụng triệt
để đất đai về mặt không gian và thời gian cũng như là một biện pháp canh tác
bảo vệ đất, vấn đề đặt ra là con người chúng ta sử dụng các hệ thống này như
thế nào cho hợp lý để canh tác lâu bền trên đất dốc, đó là nhiệm vụ mà các
nhà khoa học cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu
1.1.2. Phân loại NLKH trên thế giới
NLKH được coi là một trong những hệ thống sử dụng đất lâu đời nhất
trên trái đất, nhưng những thông tin về hệ thống này thường bị hạn chế khi
mô tả hoặc đánh giá hiệu quả. Để có thể xây dựng được một hệ thống phân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/


các thành phần gồm cây lâm nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày
được đưa vào kinh doanh trong các hộ gia đình góp phần tăng thu nhập và bảo
vệ đất đai [62], [67].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

8
NLKH ở Ấn Độ:
Ấn Độ nổi tiếng thế giới với cuộc „„cách mạng xanh” về canh tác
NLKH trong đó canh tác trong các vườn gia đình, vườn rừng được áp dụng
phổ biến. Nhờ cuộc cách mạng này mà Ấn Độ từ một nước đông dân chẳng
những không bị thiếu mà còn xuất khẩu lương thực. Trong các cây trồng của
Ấn Độ, dừa là cây đáng chú ý, người ta gọi nó là cây của Chúa trời (Tree of
heaven) hoặc cây bách dụng (Tree of hundred uses). Hồ tiêu, Cà phê, Ca cao,
Cao su cũng là các loài cây được chú ý, nó được trồng kết hợp trong các hộ
gia đình. Các mô hình thường gặp là:
- Dừa – Sắn – cà phê – Hồ tiêu – đai bảo vệ
- Dừa – Khoai sọ - đai bảo vệ
- Dừa – ca cao
- Dừa – chuối – đai bảo vệ [64].
NLKH ở Indonesia
Từ 1972 hoạt động NLKH ở nước này do các công ty lâm nghiệp, nông
nghiệp tổ chức và quản lý. Việc chọn đất khai hoang để trồng cây lâm nghiệp,
nông dân được các cán bộ kỹ thuật công ty hướng dẫn trồng cây lâm nghiệp
kết hợp với cây nông nghiệp. Sau khi trồng cây nông nghiệp hai năm nông
dân bàn giao lại rừng cho công ty, sản phẩm nông nghiệp do họ toàn quyền sử
dụng. Với phương thức này tại khu rừng trồng ở Savadan trên diện tích 300
ha người ta đã thu được 1426 tấn Lúa, 126 tấn Sắn, 73 tấn Ngô và 19,5 tấn
Đậu đỗ. Tổng giá trị thành tiền 155.000 USD, thực lãi 116.000 USD (bình
quân 385 USD/ha/ vụ) [48]. Các mô hình trồng xen chủ yếu là:


t s

ph
ươ
ng ph
á
p
đá
nh gi
á
hi

u qu

kinh t
ế
trong N
ô
ng l
â
m k
ế
t h

p
Hiệu quả kinh tế trong kinh tế học là một vấn đề khá phức tạp. Khi
nghiên cứu về nguyên lý kinh tế nông nghiệp nhiều tài liệu đã dùng công trình
của Farrell làm cơ sở để nói về hiệu quả một cách trực tiếp hay gián tiếp.
Theo Farrell: „„Ta chỉ có thể ước tính đầy đủ hiệu quả theo nghĩa tương đối”.

khối tươi trên mặt đất, thông qua lượng sinh khối khô (không còn độ ẩm)
bằng cách lấy tổng sinh khối tươi nhân với hệ số 0,49, sau đó nhân sinh khối
khô với hệ số 0,5 để xác định lượng carbon lưu trữ trong cây.
Nghiên cứu sự biến động carbon sau khai thác rừng một số nhà khoa
học đã cho thấy rằng:
- Lượng sinh khối và carbon của rừng nhiệt đới châu Á bị giảm khoảng
22 - 67% sau khai thác. Tại Philippines, ngay sau khi khai thác lượng carbon bị
mất là 50%, so với rừng thành thục trước khai thác ở Indonesia là 38 - 75% [68].
Theo Rodel D. Lasco (2003) [68], lượng carbon tích luỹ bởi rừng
chiếm 47% tổng lượng carbon trên trái đất, nên việc chuyển đổi đất rừng
thành các loại hình sử dụng đất khác có tác động mạnh mẽ đến chu trình
carbon. Các hoạt động lâm nghiệp và sự thay đổi phương thức sử dụng đất,
đặc biệt là sự suy thoái rừng nhiệt đới là một nguyên nhân quan trọng làm
tăng lượng CO
2
trong khí quyển, ước tính có khoảng 1,6 tỷ tấn/năm trong
tổng số 6,3 tỷ tấn khí CO
2
/năm được phát thải ra do các hoạt động của con

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

11
người. Vì vậy, rừng nhiệt đới và sự biến động của nó có ý nghĩa rất to lớn
trong việc hạn chế quá trình biến đổi khí hậu toàn cầu.
Một số năm gần đây các nhà khoa học và chuyên gia kinh tế trên thế
giới đã quan tâm đến việc tích tụ carbon trong rừng để làm giảm bớt khả năng
tích tụ khí gây hiệu ứng nhà kính trong bầu khí quyển [57].
Theo Mc Kenzie (2001) [65], carbon trong hệ sinh thái rừng thường tập
trung ở bốn bộ phận chính: thảm thực vật còn sống trên mặt đất, vật rơi rụng,

carbon lưu giữ trong thực vật giảm dần từ kiểu rừng nguyên sinh đến rừng
phục hồi sau nương rẫy và giảm mạnh đối với các loại đất nông nghiệp. Trong
khi đó phần dưới mặt đất lượng carbon ít biến động hơn, nhưng cũng có xu
hướng giảm dần từ rừng tự nhiên đến đất không có rừng [69].
Lượng carbon tích lũy trong thực vật giảm dần từ rừng nguyên sinh đến
thứ sinh, rừng sau nương rẫy, đến nông lâm kết hợp và kém nhất là loại hình
sử dụng đất trồng cây nông nghiệp hàng năm và đồng cỏ. Nói cách khác sự
suy giảm lượng carbon tích lũy trong sinh khối thực vật từ trạng thái rừng
nguyên sinh đến đồng cỏ diễn ra rất mạnh. Về vấn đề này, Maine van
Noorwijk đưa ra nhận định: „„Một ha đất nông nghiệp thoái hóa hoặc một ha
đất đồng cỏ không hấp thụ được dù chỉ là một chút khí carbonic, nhưng nếu
chuyển sang canh tác nông lâm kết hợp, một ha có thể giữ được 50 – 100 tấn
carbon‟‟. Vì vậy, cần phải có những giải pháp hữu hiệu để bảo vệ rừng tự
nhiên nói chung rừng nhiệt đới nói riêng và những chương trình khuyến khích
nông dân sử dụng đất theo hướng nông lâm kết hợp.
1.2. Những nghiên cứu về NLKH ở Việt Nam
1.2.1. Lịch sử nghiên cứu về NLKH ở Việt Nam
Người dân miền núi trước đây chủ yếu canh tác theo hình thức du canh,
thông thường có hai hình thức du canh:
- Du canh không quay vòng: Đó là kiểu tương tác liên tục trên các đám
nương rẫy, cho đến khi năng suất cây trồng bị suy giảm đến mức thấp nhất,
thậm chí không cho thu hoạch thì người dân phải đi tìm đất mới. Kiểu du
canh này thường gắn với du cư phá hoại mạnh mẽ môi trường đất.
- Du canh quay vòng: Đó là kiểu canh tác nương, rẫy sau 4-5 năm cho
đất nghỉ, đến khi đất có độ phì được phục hồi thì trở lại canh tác trên mảnh
đất đó. Hiện nay do dân số tăng nhanh việc trở lại canh tác trên mảnh đất cũ
ban đầu thì thời gian cho đất nghỉ thường 7-10 năm, nay còn 3-4 năm thậm
chí chỉ 1-2 năm. Do vậy mà độ phì được tái lập lại không đủ và xói mòn ngày
càng mạnh. Do canh tác bất hợp lý ở đất nương rẫy như vậy mỗi năm bề mặt
đất mất từ 1,5-4 cm [50].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status