những giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc si la ở mường tè, lai châu - Pdf 48

MỞ ĐẦU
Từ buổi đầu dựng nước cho đến nay, các dân tộc thiểu số đã đóng góp đáng kể
trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước, xây dựng truyền thống lịch sử, văn hoá
của đại gia đình các dân tộc Việt Nam.Trong đó, văn nghệ dân gian các dân tộc
thiểu số có những thành tựu độc đáo với những sắc thái riêng biệt. Việc tìm hiểu
Văn nghệ dân gian các Dân tộc thiểu số còn thể hiện đường lối dân tộc và đường
lối văn hoá văn nghệ của Đảng ta, phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của các
dân tộc anh em trong đại gia đình dân tộc Việt Nam, nhằm góp phần vào việc xây
dựng nền văn hoá văn nghệ Việt Nam thống nhất và mang tính chất dân tộc phong
phú.
Nhận thức được vấn đề trên và dựa trên vốn kiến thức mà tôi đã được trang bị khi
nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến dân tộc, tộc người trong học phần Văn
hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, nên tôi đã mạnh dạn tìm hiểu, nghiên cứu sâu
hơn về giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc Sila.Si La là dân tộc thiểu số ít người,
là một trong những dân tộc có nét văn hóa đậm đà giàu bản sắc riêng. Đặc biệt là
những giá trị văn nghệ dân gian vẫn là mạch nguồn nguyên sinh cần được khám
phá, gìn giữ và phát triển.
Trong bài tiểu luận tôi đã tập trung nghiên cứu những giá trị văn nghệ dân gian của
dân tộc Si La ở Mường Tè, Lai Châu.

1


NỘI DUNG
1.Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, nguồn gốc lịch sử của
người Si La ở Mường Tè, Lai Châu
1.1.Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của người Si La ở Mường Tè,
Lai Châu
1.1.1.Đặc điểm về vị trí địa lí
Mường Tè là huyện vùng cao biên giới của tỉnh Lai Châu, nằm phía Tây bắc Việt
Nam. Huyện có tổng diện tích tự nhiên 267.934 ha, chiếm 29,6% diện tích của tỉnh

song chiếm gần như trọn lòng hồ của thủy điện…đây là những tiềm năng để phát
triển những tour du lịch danh lam thắng cảnh lòng hồ sông Đà, kết hợp với nghỉ
dưỡng.
Về dân số tính đến tháng 12 năm 2016, huyện Mường Tè có dân số khoảng 43.576
nghìn người; gồm 10 dân tộc anh em và một số dân tộc khác cùng sinh sống. Trên
địa bàn huyện có nhiều dân tộc sinh sống như dân tộc Thái, Hà Nhì, La Hủ, Si La
…với bản sắc văn hoá riêng, có những lời ca, tiếng hát, say sưa trong điệu xòe của
người Thái, Hà Nhi.... và kiến trúc xây dựng nhà sàn mang đậm sắc thái.
Trải qua hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ
huyện đã làm cho Mường Tè từ một huyện thuần nông kinh tế kém phát triển đến
nay Mường Tè đã có nhiều thay đổi, kinh tế có bước phát triển, cơ cấu kinh tế
chuyển dịch đúng định hướng, sự nghiệp văn hóa, y tế, giáo dục đào tạo cán bộ,
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng lên, chính trị ổn
định, an ninh quốc phòng được giữ vững.
1.2.Khái quát về tộc danh, nguồn gốc lịch sử, dân cư và phân bố dân cư của người
Si La ở Mường Tè, Lai Châu
1.2.1.Tìm hiểu về tộc danh và nguồn gốc lịch sử
Về tộc danh người Si La còn có các tên gọi khác như: Cú Dê Tsừ, Khá Pé, Khả
Pẻ,.... Họ tự gọi mình là Cú Dề Xừ. Cho đến nay các cố lão trong các bản người
Sila cũng không nhớ được ý nghĩa của tên tự gọi này. Xưa kia họ còn được gọi là
Khả Pẻ có nghĩa là người chỉ cho người khác đồ vật để đút vào túi. Đó là cách gọi
để phân biệt cách mặc váy của người Si La ( giắt cặp phía sau), còn với người Thái
giắt cặp váy phía trước. Người Hà Nhì gọi người Si La là “Puy Nạ” ( tức là đen ).
Ở Lào, người Si La còn có tên gọi khác là Si Đa, Khơ, Lào, Xủng. Còn người Thái
gọi họ là Khả Pộ ( tức là người mặc váy ngược)..
3


Về mặt nguồn gốc lịch sử, tộc người Si La có quan hệ mật thiết với các tộc ngôn
ngữ Tạng- Miến nhất là các tộc thuộc ngữ tộc Di gồm các tộc: Di, Bạch, Khương,

1.3.Đặc điểm về đời sống văn hóa của người Si La ở Mường Tè, Lai Châu
4


1.3.1.Đặc điểm văn hóa vật chất của người Si La ở Mường Tè, Lai Châu
Người Si La ở nhà trệt hay nhà đất, có hai gian và hai chái nhỏ, có hiên và một cửa
ra vào. Bàn thờ ở góc trái trong cùng, trên có một chén rượu nhỏ và một quả bầu.
Nhà trệt của người Si La thuộc loại nhà phòng thủ, ngôi nhà ở gồm một gian hai
chái hoặc hai gian và hai chái nhỏ, mái thấp, lợp cỏ tranh đánh thành gắp, xung
quanh nhà bưng liếp đan bằng nứa. Mỗi nhà có một cửa ra vào. Riêng nhà của
trưởng họ có hai cửa, trong đó có một cửa phụ ở gian chái chính, gần nơi đặt bàn
thờ, dành cho anh em họ hàng thân thuộc vào thờ cúng tổ tiên nhân các dịp lễ tết,
cưới xin, giỗ chạp, vào nhà mới. Trong nhà được bố trí thành 4 khu vực theo hai
cấu trúc mặt bằng:
Khu vực bếp nấu ăn và để các đồ dùng sinh hoạt quanh bếp lửa, một góc nhỏ để
đặt các ống đựng nước. Khu vực này được ngăn chái nhà ở phía trái (theo hướng
từ cửa chính nhìn vào) suốt chiều rộng và mở một cửa nhỏ thông với gian chính ở
sát phên ngăn phía bên ngoài hiên.
Khu vực sinh hoạt là một gian hoặc 2 gian giữa. Ở giữa gian bên phải được kê một
bếp lửa (mì cố) bằng 3 hòn đá trong đó có một hòn quay về hướng bàn thờ tổ tiên
gọi là “sì chi kho lọ” . Vì vậy bếp sinh hoạt này còn được coi là bếp thờ và phải
làm lễ đặt bếp theo đúng tập quán khi làm nhà mới. Trước đây kiêng cấm phụ nữ
vào gần, kiêng mang các đồ uế tạp tới hoặc đặt vật dụng mất vệ sinh lên gác bếp.
Ngày nay nó vừa là nới sinh hoạt, vừa là nơi nấu ăn hàng ngày của gia đình.
Khu vực ngủ của gia đình được ngăn dọc theo chiều dài phía sau của 2 gian chính
và bằng 1/4 bề rộng. Khu vực này được chia làm 2 buồng nhỏ. Nếu cửa chính mở ở
gian bên trái thì buồng bên phải là nơi nhủ của vợ chồng chủ nhà, trong đó đặt một
chiếc bàn thờ (sì chi) kê cao sát góc trong bên phải làm nơi thờ cha mẹ, ông bà (trừ
nhà trưởng họ thì bàn thờ treo cao trên chiếc cột ở gian chính). Buồng bên trái là
nơi ngủ của các con, tuỳ theo số lượng con cái mà kê từ 1 - 3 giường (í dạ). Nếu

bộ phận không thể thiếu được, nó có liên quan đến lứa tuổi và tình trạng hôn nhân.
Khăn của người phụ nữ gồm có hai loại: Khăn trắng và khăn đen. Khăn trắng:
Thông thường các thiếu nữ bắt đầu đội khăn ở độ tuổi 13 – 14 tuổi, khi mà những
đặc điểm sinh học của giới tính bắt đầu xuất hiện trên cơ thể. Khăn làm bằng tấm
vải trắng hình chữ nhật, dài chừng 80 cm, rộng 20 cm, trên nền có thêu hoa văn tạo
thành những ô vuông lớn bằng chỉ đỏ. Khăn đen: Ngay sau khi về nhà chồng, các
cô gái Si La phải rời bỏ chiếc khăn trắng để đội khăn đen và chiếc khăn đen sẽ theo
họ suốt đời cho đến lúc chết. Nghi thức đội khăn đen được thực hiện ngay trong
ngày cưới do người mẹ chồng hoặc các bà cô chồng khâu, phần khăn được khâu
thành một chiếc túi quấn quanh búi tóc, tạo nên một cuộn tóc nằm ngang. Nếu
cuộn tóc này chưa đủ to thì phải độn thêm áo, cái mũ hoặc tóc của chồng. Khi
người Si La có con thì việc quấn khăn càng trở nên quan trọng. Nếu sinh con gái,
6


búi tóc trước trán và được quấn bằng chiếc khăn thẳng, không có túi để đựng tóc
như khăn “dơ phừ”, nếu sinh con trai người phụ nữ phải độn thêm một ít tóc rụng
của mình vào búi tóc gọi là “ô phạ” và chỉ cần đếm số khăn “ô phạ” là biết người
phụ nữ Sila có bao nhiêu con. Phụ nữ thường đeo túi đan bằng dây gai. Người Si
La xưa kia còn có tục nhuộm răng phổ biến ở nam giới nhuộm đỏ, nữ nhuộm đen.
Cũng như một số dân tộc anh em sinh sống trong vùng, trang phục của nam giới Si
La cùng mặc quần ống chân què, cạp lá tọa, áo cánh xẻ ngực, cài khuy vải, cổ
đứng, có 2 hoặc 3 túi, màu chàm xanh (giống trang phục của người đàn ông Cống,
Hà Nhì, La Hủ..). Tuy nhiên điều khác giữa đàn ông Si La với đàn ông các dân tộc
khác là nhờ ở chiếc khăn đội đầu. Nam giới Si La bao giờ cũng đội khăn trắng,
quấn khăn đầu rìu như nam giới Kinh xưa kia. Ngày nay, nam giới Si La đều ăn
vận âu phục, bộ nam phục truyền thống đang dần bị chối bỏ, chỉ còn số ít người
lưu giữ được và họ cũng chỉ mặc rất ít mỗi khi có dịp đặc biệt như lễ tết, cưới xin.
Người Si La quen dùng cả cơm nếp và cơm tẻ với các loại canh rau rừng là chính.
Ðạm thực vật chủ yếu là sản phẩm của săn bắt, đánh cá. Lúa gạo là nguồn lương

để gọi hồn lúa được cấy giữ cẩn trọng. Vào tháng Hai, trước ngày tra hạt, họ tổ
chức cấm bang một ngày (mìa lô lô), không cho người lạ vào bản, vào nhà. Hôm
đó họ kiêng nấu thịt chim muông, lợn, gà,... và cấm sào nấu bằng mỡ. Họ cho rằng
vi phạm điều cấm kị trên sẽ mất mùa, gia súc, gia cầm bị dịch bệnh. Trước khi tra
hạt trên nương, các gia đình hoặc các dòng họ làm lễ khá xè la. Trước khi trời sáng,
chủ nhà hoặc trưởng họ mang một quả bầu đựng nước, một cục than hồng, gậy
chọc lỗ, các giống cây lúa, ngô, đậu, bí... lên nương. Sau khi khấn bái, họ chọc lỗ
tra hạt ( tượng trưng), sau đó họ vào lều nương nhóm lửa, ăn cơm( tượng trưng) và
lại tiếp tục công việc gieo trồng(tượng trưng). Trong thời gian tra lúa nương, sau
mỗi bữa cơm, chủ nhà mang một nắm cơm, cục than hồng tới gần lều cúng ma
nương (ia ve). Mục đích là cầu xin ma nương phù hộ cho mùa màng bội thu, con
người bình an, gia súc không bị bệnh dịch,....
Cuộc sống tinh thần của người dân Si La khá phong phú và đa dạng. Người Si La
xưa thổi sáo, đánh đàn giỏi, có nhiều làn điệu dân ca riêng, họ có các nhạc cụ và
nhiều làn điệu dân ca riêng của dân tộc mình. Kho tàng văn học dân gian của người
Si La khá phong phú, bao gồm ngiều thể loại như: sử ca, dân ca, tục ngữ, truyện cổ
tích, thần thoại,... Sử ca gồm những bài hát kể cội nguồn dân tộc, thường được hát
trong lễ tết. Hát giao duyên nam, nữ rất phổ biến, trai gái hát với nhau trong lúc lao
động sản xuất, hội hè. Những bài hát đó chủ yếu ca ngợi tình yêu, thiên nhiên và
lòng chung thủy. Ngày con trai dân tộc Si La thường tỏ tình với bạn gái bằng tiếng
sáo. Khi nghe tiếng sáo tâm sự của bạn tình, các cô gái sẽ cảm nhận tình cảm từ
tiếng sáo của ai đó rồi đến, làm quen và yêu nhau. Ngoài những nét văn hoá kể
trênngười Si La còn có nhiều làn điệu dân ca của dân tộc mình như: Điệu Y La Thế
(hát yêu, hát vui), ở làn điệu hát này lại có các làn điệu con như Ồ Xi Chê Y Là
8


Thế (hát ăn Tết), Dề Mế Ỳ Thìa (hát ru con), điệu Lỳ Bồ Khe (hát lúc có tang, lúc
buồn)...
1.3.3.Đặc điểm về văn hóa xã hội người Si La ở Mường Tè, Lai Châu

Khi phụ nữ lấy chồng phải đổi sang họ chồng, cấm con dâu ăn cùng mân với bố
9


chồng, anh chồng, cấm phụ nữa đến bàn thờ gia tiên, con dâu đên nơi ngủ của bố
chồng, anh chồng,....
Các nghi lễ chu kỳ đời người của người Si La. Người Si La có tục sinh đẻ khá gần
gũi, đối với họ đẻ non là điều tồi tệ nhất vì thế khi mang thai phụ nữ phải kiêng:
không được uống thuốc (kể cả thuốc nam), không bước qua hố, rãnh nước, không
được chôn cột, làm cối giã,... Theo tập quán, sản phụ đều đẻ ở trong buồng hoặc
cạnh bếp và ở tư thế ngồi. Mẹ chồng hoặc bà đỡ là người hỗ trợ sản phụ sinh đẻ.
Khi đứa bé ra đời họ thường cắt cuống nhau thai bằng cật nứa, lấy trên mái nhà ở
khu vực đặt bếp. Sau khi sinh con, sản phụ không được nằm trên giường, mà nằm
trên ổ rơm. Trường hợp đẻ khó, họ thường để người lớn tuổi thổi vào giữ đỉnh đầu
sản phụ vài ba lần, đặt yên ngựa lên đỉnh đầu thai phụ, đập vỡ một ống đựng nước,
đốt da voi thành than hòa với nước cho sản phụ uống,...Nếu nhà nào có người vừa
sinh con, gia đình đều yểm bùa ngăn ma dữ. Sau khi sinh con được ba ngày người
Sila làm lễ đặt tên con. Sau khi đẻ sản phụ được nghỉ ngơi kiêng cữ một vài tuần.
Trẻ em người Si La khi mới lọt lòng chưa có trang phục riêng. Trẻ được quấn trong
những chiếc tã cắt ra từ quần áo cũ của bố mẹ. Vải cũ mềm mỏng không làm hại da
trẻ. Trong quan niệm dân gian, cũng như nhiều tộc người khác, người Si La cho
rằng trẻ sơ sinh mặc quần áo mới sẽ khó nuôi. Những gia đình khá giả thường đeo
cho trẻ vòng cổ hoặc vòng tay bằng bạc để kỵ tà. Khi trẻ lớn khoảng 8 – 10 tuổi
mới có y phục riêng. Trang phục của trẻ em hoàn toàn giống trang phục của người
lớn cùng giới về kiểu dáng nhưng đơn giản hơn về màu sắc và hoa văn. Người Si
La không có nghi thức đánh dấu sự trưởng thành của trẻ theo hình thức của một lễ
thành đinh. Cha mẹ chỉ nhận biết sự khôn lớn của con cái thông qua những biểu
hiện về thể chất và tâm sinh lý. Mốc đánh dấu sự trưởng thành của một thành viên
công xã (từ một đứa trẻ trở thành người lớn) là hôn nhân để hình thành một gia
đình mới.

mọi người đi thành hàng ngang, cô dâu đi giữa đến cửa nhà trai thì dừng lại. Lúc
này, thầy cúng bảo chú rể và mẹ chú rể chuẩn bị lễ cúng. Khi về đến nhà trai, cô
dâu và mọi người trong đoàn phải ngồi ngoài hiên chờ mẹ chồng lấy trang phục
mới để cô dâu thay. Lúc này, trưởng tộc ngồi cạnh bếp thiêng ở trong nhà sẽ làm lễ
báo tổ tiên, thông báo là gia đình sẽ có thêm thành viên mới. Sau khi cúng xong,
trưởng tộc trao trứng gà luộc và xôi cho chú rể để thực hiện các thủ tục, nghi thức
trước sự chứng kiến của tổ tiên và mọi người trong gia tộc. Chú rể từ trong nhà
bước ra, tay cầm xôi, tay cầm trứng, tay phải chéo qua tay trái đưa ra chạm tay cô
dâu. Cô dâu đứng ở ngoài cửa cũng bắt chéo hai tay trong lúc nhận. Một năm sau,
khi nhà trai chuẩn bị đầy đủ tiền, lợn, rượu, gạo,...họ sẽ làm đám cưới lần thứ hai.
Khi cưới lần hai, onng mối( kè lề số dề) là người thay mặt nhà trai lo liệu mọi việc.
Trước tiên, ông mối thay mặt nhà trai dẫn lợn, gà, rượu, gạo nếp,... sang nhà gái
xin cưới. Sau khi cúng trình ma ma nhà gái, tiệc cưới được tổ chức cả ở nhà trai và
nhà gái. Sau ngày làm đám cưới ở nhà trai, sáng sớm dâu, rể,... quay về nhà bố mẹ
đẻ cô dâu làm lễ lại mặt.[A4,Tr35]
11


Về tang ma của người Si La, theo tập quán sau khi tắt thở người chết được lau rửa
và được phủ vải trắng. Người chết được đặt trên chiếu trải ở giữa nhà, tiếp theo ,
họ mổ gà cúng. Theo tục lệ, những người cùng họ được chôn cất thành một khu, ở
phía đầu nguồn nước. Trước khi đào huyệt, họ làm nhà mồ che bên trên, xưa kia
người Si La làm quan tài trong nhà 9-10 ngày. Vào ban đêm, người Si La tế đưa
hồn người chết về quê hương cổ ở Mồ U. Trước khi đưa ma đi người con trai
trưởng đeo chiếc túi đựng gạo và vỏ ốc biển đứng cạnh ban thờ gia tiên, tung gạo
và vỏ ốc ra ngoài sân để tẩy xui cầu may. Khi đưa ma mọi người chú trọng giữ vía
của mình. Họ gọi vía của mình khi hạ huyệt, ra khỏi nhà mồ, khi quay về gặp ngã
ba, ngã tư,...Sau khi mai táng, họ quay về nhà con trưởng dội nước tắt bếp, vứt hết
củi cũ ra khỏi nhà sau đó nhóm lại bếp lửa mới. Một tuần sau khi mai táng, hàng
ngày con cháu mang đồ ăn ra mộ cúng người quá cố. Sau đó làm lễ tiễn biệt ma

thoại,các câu đố,... Trường ca thiên di của người Si La kể về cội nguồn của họ :
Đất tổ của người Si La là ở Na Sa (vùng đất thuộc Tây Tạng – Trung Quốc). Trong
quá trình hàng nghìn năm thiên di, họ đi dần về phương Nam. Đến vùng Vân Nam
sống vài đời. Họ lại rời xuống vùng đất giáp danh Trung Quốc - Lào. Rồi lại di cư
sang vùng đất Mồ U của Lào. Từ đó, một nhóm người lại di cư đến vùng giáp danh
Lào – Việt Nam. Sang đến Việt Nam, họ cũng di cư lập bản ở nhiều nơi rồi mới
định cư ở địa bàn hiện nay (xã Kan Hồ, Huyện Mường Tè).
Trước kia, họ không có chữ viết riêng, kinh nghiệm trao truyền bằng lời hoặc qua
thực hành. Vì thế mà kho tàng văn học dân gian của người Si La đều được truyền
bằng lời nói. Nên họ có ngữ văn truyền miệng, tuy dân tộc Si La không có chữ viết
riêng, nhưng trong cuộc sống hàng ngày họ đã sáng tạo ra một nền văn học, nghệ
thuật dân gian phong phú về ca dao, tục ngữ, lời khấn, truyện cổ lưu truyền còn tồn
tại một số ít không đáng kể. Mặc dù theo kết quả nghiên cứu trước đây dân tộc Si
La có rất nhiều truyền cổ Si La như: Chàng mồ côi nghè (Bu si me si ê dè), Chín
dốt một khôn (Kỳ le Zhồ thừ le quẹ), Bà goá gọi củ mài từ trên ngọn cây xuống đất
(Mì shì mừ khú ha), Đổi cánh lấy lửa (à tố nẹ, mì dú phạ), Đười ươi và người đánh
cá (ế hê ne xu dè), Vì sao người Si La không có chữ (Pha bjọ mà xừ) Đi tìm nước
(uchò hoi)...
Kho tàng ngữ văn truyền miệng của người Sila khá phong phú. Đó là những câu ca
dao tục ngữ phản ảnh đời sống, tâm tư, tình cảm của người Sila trong cuộc sống
hàng ngày được truyền từ đời này sang đời sau :
“ Cháu yêu ơi..lớn nhanh nhé…
Lớn lên lập gia đình, sinh con đẻ cái như bụi giềng gió to nhé
Bụi càng to thì càng nhiều mầm
13


Càng nhiều mầm thì bụi càng to nhé…”
Người Si La có câu thể hiện kinh nghiệm sống được cha ông được đút rút trong
câu ca dao:

Hù có niềm tin rằng hổ sẽ không ăn thịt những người trong họ mình.
Chuyện kể rằng, ngày xưa có một đôi trai gái yêu nhau say đắm nhưng bố mẹ cô
gái không đồng ý cho họ lấy nhau. Chàng trai buồn bã đi lang thang trong rừng và
bất chợt gặp một con hổ nằm bên gốc cây cổ thụ. Ngày đó người và hổ cùng các
loại muông thú đều hiểu được tiếng nói của nhau nên chàng đã tâm sự chuyện
riêng tư bất hạnh của mình với hổ. Hổ vô cùng cảm thông liền kết nghĩa tình anh
em, hứa sẽ một lòng giúp đỡ giúp đỡ vun đắp hạnh phúc trăm năm cho chàng trai
và cô gái. Chỉ vài hôm sau, hổ đến nhà cô gái và bắt cô gái về cho chàng trai. Từ
đó đôi trai gái không trở về nhà và chung sống với nhau trong trong rừng. Hàng
ngày hổ đi bắt hươu nai về làm thức ăn và cùng ăn với đôi trai gái. Một hôm hổ
dặn chàng trai có việc phải đi xa, nếu bố mẹ cô gái vào rừng bắt về cứ để họ trói,
chàng cứ dậm chân xuống đất ba lần, gọi hổ ba lần hổ sẽ về cứu. Hổ đi khỏi, quả
nhiên bố mẹ cô gái đến, chàng trai làm theo đúng lời hổ dặn, đột nhiên tất cả hổ
trong rừng chạy đến cứu nên bố mẹ cô gái hoảng hồn bỏ chạy một mạch về nhà và
không bao giờ dám trở lại khu rừng đó nữa. Từ đó đôi trai gái sống yên vui, hạnh
phúc bên nhau, sinh con đẻ cái, làm nương rẫy bên bầy hổ anh em trong rừng. Nhớ
ơn hổ, những người con của họ sau này đều mang họ Hù (nghĩa Hán, lao Hu là hổ).
Trong thực tế, người Si La thuở xưa sống trong mối ràng buộc khắt khe của gia
đình, xã hội. Vì những mối rang buộc ấy mà trong chuyện tình yêu, hôn nhân đôi
khi họ gặp phải trắc trở không có cách nào vượt qua. Họ đành mượn câu chuyện
tình trong truyền truyết để nói lên khát vọng tình yêu, hạnh phúc lứa đôi để an ủi
mình cố vượt qua hoàn cảnh trái ngang với hy vọng vào ngày mai tươi sáng.
Truyền truyết đó cũng là một cách lý giải về nguồn gốc họ Hù của dòng tộc mình.
Cũng có câu chuyện kể rằng, ngày xưa người và hổ gặp nhau trong rừng, người kể
cho hổ nghe cảnh khổ cực, mồ côi bố mẹ từ nhỏ của mình, bữa cơm chẳng có gì
ăn, quần áo không đủ che thân. Hổ cũng kể về cảnh sống mồ côi cơ cực của mình
từ nhỏ, nhưng cuộc sống lại không thiếu thịt ăn hàng ngày. Sau nhưng phút tâm
giao, hổ và người cùng cắt máu ăn thề, kết nghĩa anh em. Về sau hổ chết trước,
người anh em làm tang cho hổ với các lễ vật gồm: một sải vải trắng làm khăn tang,
15

đặt lời trên nền của các giai điệu truyền thống. Tùy theo đối tượng tham gia , môi
trường khung cảnh ca hát mà người ta có những giai điệu và cách đặt lời khác
nhau. Căn cứ vào giai điệu và cách đặt lời ca mà người ta chia dân ca Si La thành
ba thể loại chính : hát đồng dao, hát tâm sự nam nữ (rề mì rề kho cha phụa) , hát kể
16


khổ ( hát than thân). Hát kể khổ ( hát than thân) thường được bà con hát vào mùa
mưa lũ khi con sông Đà chia cắt hai bờ sông. Nội dung bài hát kêu gọi bạn bè giúp
đỡ lương thực, ngày này đã có cầu nhưng người Si La vẫn hát kể khổ nhằm mục
đích để nhớ về thời gian vất vả khi xưa. Hát gia duyên là để tỏ tình, kết bạn hoặc
một người muốn thổ lộ một vấn đề nào đó mà người ta không tiện nói trực tiếp với
nhau bằng lời nói mà phải thông qua lời ca đầy tính ví von và hình tượng.
Trong dân ca Si La làn điệu quen thuộc nhất có thể kể đến là làn điệu “ Nhăm
nhăm pơ” ( Nhanh tay) thuộc thể loại đồng dao. Với tiết tấu nhanh dứt khoát,
người nghe có thể cảm nhận được sự thôi thúc, hối hả trong việc làm nương, làm
rẫy. Những lời ca tiếng hát này làm xua tan biết bao mệt mỏi, giúp người nghe có
thêm động lực để làm nhanh, làm tốt công việc của mình. Bài hát “Nhăm nhăm
pơ” đặc biệt thích hợp với hình thức hát tập thể, tạo không khi tươi vui hớn hở cho
bà con thêm động lực để lam nương, rẫy :
“ Nhanh nhanh đi tìm nơi đất tốt
Nhanh nhanh tay phát nương, reo hạt lúa chín vàng
Rồi nhanh tay gặt
Nhanh tay phơi khô
Đập lúa, quạt cho thóc lép bay, chỉ còn thóc mẩy
Nhanh nhanh tay gùi về nhà
Bản ta được mùa no ấm.”
Đồng bào Si La trước đây có nhiều điệu hát khá phong phú như: Hát dân ca, hát
đối (phú phá), hát giao duyên (rề mì rề kho cha phụa), hát ru (rề mí i chì), hát đám
cưới (rề mì khu), hát đám ma, hát chúc mừng, hát vào mùa cầu mùa, hát về huyền

thời cho ta thất kho tàng văn nghệ dân gian đậm đà bản sắc riêng của họ.[A5,Tr36]
Bên cạnh những làn điệu dân ca Si La đặc sắc, thì những điệu múa của người Sila
đậm đà nét riêng của họ. Những điệu múa dân vũ đã mô phỏng đời sống sinh hoạt
thường ngày cũng là một nét đẹp trong dân ca văn nghệ dân gian Si La. Những
bước nhảy múa mạnh mẽ những không kém phần uyển chuyển, những lời hát dân
ca là nhạc đệm luôn khiến cho bài múa có sức hút với người xem. Vũ điệu Si La
xưa kia chỉ được dùng trong các lễ tưởng niệm người đã khuất. Ngày nay nó được
đồng bào Si La thực hiện như là một hình thức giao lưu cộng đồng giữa người múa
và người xem, giữa giai điệu và những động tác, giữa ý nghĩa và những câu hát với
những gì đã được biểu hiện ra bên ngoài tất cả như hòa quyện với nhau tạo nên
18


một câu truyện của cộng đồng người Si La. Qua đó đã mô phỏng được phần nào
cuộc sống của cha ông họ để lại.
Điệu múa dưới ánh trăng là điệu múa đã mô phỏng được phần nào về cuộc sống
thường ngày của người Si La. Vào những đêm trăng sáng khi rảnh rỗi, các bà, các
cô thường tập trung nhau lại cùng nhau múa hát cùng nhau giã gạo. Điệu múa
thường có sự tham gia của 5-6 người múa, họ múa xung quanh một cái cối giã gạo,
mỗi một người múa cầm trên tay một cái cối giã và cứ thế họ vừa hát vừa múa
xung quanh chiếc cối. Với những đông tác mạnh mẽ, duyên dáng, họ vừa hát vừa
di chuyển. Điệu múa có ý nghĩa như một lời nhắc nhở về cách ôn lại quá khứ của
dân tộc mình. Về múa (nư) của người Si La còn một số điệu múa nhưng rất giống
với điệu múa sản xuất của người Hà Nhì gồm có múa xòe (ô xy rề lượn), múa sạp
(đé dù lớ), múa vào mùa, múa cầu mùa, múa trình diễn trang phục, múa trong đám
ma, các động tác múa được nâng cao mô phỏng từ các hiện tượng trong thiên nhiên
(gió, mưa), các động tác trong lao động, sản xuất. Đồng bào ít có điều kiện để tổ
chức sinh hoạt vui chơi, giải trí hay hoạt động văn nghệ.Các làn điệu dân cũ của
người Si La còn làm say đắm lòng người xem khi góp mặt tại các liên hoan dân ca
toàn quốc, với giai điệu mộc mạc, giản dị, tiếng hát Si La cất lên trong trẻo ngát

gái. Chính vì thế mà bất kì người con trai nào muốn chiếm được cảm tình của
người mình yêu thì nhất định phải biết thổi những giai điệu du dương, lãng mạn,
đánh những bản nhạc thật ngọt ngào tình tứ. Còn cây đàn có tên là Tứ Phề, nó
được dùng trong các dịp lễ, tết, việc tang hoặc để các chàng trai kéo vào buổi tối,
đêm khuya và sáng sớm gọi bạn tình ra trò truyện .Đàn tính của người Si La có 3
dây, đây có thể coi là điểm khác biệt so với đàn tính của dân tộc Thái vùng Tây
Bắc hay Tày, Nùng vùng Đông Bắc. Tiếng đàn Tứ phề khi được đàn lên vang vọng,
lan toả. Trong quá trình lao động sản xuất, người Si La đã tựtạo ra một số nhạc cụ
phục vụ đời sống tinh thần. Muốn chế tác được nhạc cụ tốt cũng không đơn giản
chút nào, phải chọn cây tre, cây nứa thẳng, mỏng vừa tầm, có đôi tay khéo léo, biết
thẩm âm trong việc chế tác nhạc cụ. Nhạc cụ của người Si La chủ yếu làm bằng
những vật liệu có sẵn trong tự nhiên: tre, trúc, bầu nậm, cây gỗ “ma hó à chứ” – gỗ
thường dùng làm cần đàn tính. Tuy chế tác thủ công và đơn giản nhưng khi tiếng
nhạc cất lên cùng giai điệu dân ca sẽ có âm hưởng riêng, tạo ấn tượng lạ cho người
nghe. Việc sử dụng những nhạc cụ có luật lệ riêng, phù hợp với thời gian sản xuất
nên không phải lúc nào cũng có thể cất lên tiếng được. Vì vậy, việc chọn vậy liệu
cũng như dưới bàn tay khéo léo của người nghệ nhân tài hao mới có thể tạo ra nhạc
cụ truyền thống của người Si La.[A8,Tr38]
Do cuộc sống của bà con ngày càng được hiện đại hóa một phần nào đó đã làm mai
một văn nghệ dân gian cuả người Si La.Thế hệ trẻ nhiều người không còn hứng thú
với những điệu nhảy, những câu ca cổ. Nhận ra được sự cấp bách trong việc bảo
tồn các di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc mình, đồng bào người Si La đã cùng
nhau dần dần khôi phục lại nét văn hóa văn nghệ dân gian đặc sắc của dân tộc. Từ
20


đó làm giàu đẹp hơn nền văn hóa Việt Nam ta càng phong phú , đậm đà bản sắc
mỗi dân tộc. Các làn điệu dân ca, dân vũ, dân nhạc truyền thống là loại hình di sản
được hình thành từ trongđời sống sinh hoạt, lao động sản xuất và trở thành phong
tục tập quán đặc trưng của người Si La. Tuy nhiên, trong quá trình vận động của


đánh trúng quay của người khác mà con quay của mình vẫn xoay là thắng. Đơn
giản vậy nhưng đòi hỏi người chơi phải có sức khỏe và kỹ thuật hết sức điêu luyện,
bởi vậy khi chơi, khi xem ai cũng thích thú với những con quay, với từng đường
đánh dứt khoát, chắc nịch và không ngừng thán phục, trầm trồ với những cú đánh
hay, chính xác. Sân chơi thường được chọn một bãi đất rộng, thửa ruộng bậc thang,
phía đối diện thường có ta luy cao để khi chơi Tù lu không bị rơi xuống khe núi,
đảm bảo an toàn cho người chơi và những người đến xem... Thú chơi quay giúp
người chơi rèn luyện sức khỏe, độ khéo léo, tinh nhanh và phán đoán tốt. Không
chỉ có người Si La chơi Tù lu, mà người Mông, La Hủ, Hà Nhì cũng chơi vào dịp
tết của dân tộc mình.[A9,Tr39]
"Tó" nghĩa là chơi hoặc đánh, còn mák lẹ là tên của một loại quả. Trò chơi tó mák
lẹ được tổ chức đơn giản, ai cũng có thể tham gia, không phân biệt già trẻ, đàn ông
hay đàn bà. Quả mák lẹ được lấy từ những cánh rừng già, thuộc họ dây leo, to gần
như quả cây phượng, có vỏ cứng, dài khoảng 30cm, mỗi quả có 4 - 5 hạt hình tròn,
màu nâu đậm, chắc, càng chơi nhiều thì hạt càng đẹp, nhẵn bóng và đây là một đồ
vật dùng để chơi lâu dài. Quả còn được khâu bằng vải bên trong nhồi bông hoặc
vải vụn, bên ngoài được trang trí khéo léo bằng các hoa văn và tua rua sặc sỡ. Sân
chơi chỉ là một bãi đất nhỏ, bằng phẳng hoặc có thể chơi dưới gầm sàn.Thông
thường ném còn có 2 cách chơi: Cách thứ nhất là chơi ném còn theo tục tỏ tình,
giao duyên. Nam nữ trong sân chơi chung đứng đối diện nhau cùng ném còn qua
lại, sau đó đôi nào có tình ý sẽ tự khắc ném quả còn đó và chọn nhau để chơi. Cách
chơi thứ hai mang tính phổ quát hơn ai cũng có thể tham gia, trên sân chơi chung
một cây tre cao được dựng lên trên ngọn có một vòng tròn uốn bằng tre, ai ném
quả còn qua vòng tròn đó thì dành được điểm, ném vào nhiều sẽ thắng chung cuộc.
Qua bao biến cố, thăng trầm của lịch sử, vật đổi sao rời nhưng mỗi khi xuân đến,
hội về nam thanh nữ tú vẫn mê đắm với quả còn tay qua tay. Tó Mák Lẹ theo tiếng
Thái, Tó nghĩa là chơi hoặc đánh, còn Mák Lẹ là hạt của một loại dây leo chỉ mọc
trong rừng già. Hạt có hình tròn, bẹt giống như đá cuội. Về trò chơi Tó MáLẹ,
chuyện dân gian dân tộc Sila kể rằng, sau buổi đi rừng lấy củi mệt nhọc hạt mák lẹ

2.2.1.Giá trị lịch sử
Si La là tộc người, trong quá khứ triền miên du canh, du cư. Theo trường ca Thiên
Di của họ thì: Đất tổ của người Si La là ở Na Sa (vùng đất thuộc Tây Tạng – Trung
Quốc). Trong quá trình hàng nghìn năm thiên di, họ đi dần về phương Nam. Đến
vùng Vân Nam sống vài đời. Họ lại rời xuống vùng đất giáp danh Trung Quốc Lào. Rồi lại di cư sang vùng đất Mồ U của Lào. Từ đó, một nhóm người lại di cư
đến vùng giáp danh Lào – Việt Nam. Sang đến Việt Nam, họ cũng di cư lập bản ở
nhiều nơi rồi mới định cư ở địa bàn hiện nay (xã Kan Hồ, Huyện Mường Tè). Đi
tới đâu, họ cũng ở những địa bàn hẻo lánh. Cuộc sống vô cùng khó khăn, thiếu
thốn. Do điiều kiện sống khó khăn, dịch bệnh thường xuyên nên cách đây khoảng
23


hai chục năm về trước, tộc người Si La sinh đẻ nhiều nhưng không phát triển về
dân số. Cũng như nhiều dân tộc khác,từ xa xưa người Si La có một kho tàng văn
học dân gian rất đáng trân trọng với nhiều thể loại khác như truyện cổ tích, thần
thoại, sử ca, dân ca, tục ngữ… Cùng những điệu hát du, hát mừng năm mới, hát
mừng nhà mới, hát mừng thọ, hát đối đáp nam nữ… với lời ca mộc mạc, lối ví von
giản dị và dễ hiểu nhưng giàu sự biểu cảm, dễ dung động lòng người. Có đề tài gắn
liền với nguồn gốc quê hương, nguồn gốc của dân tộc, nội dung phản ánh lịch sử
của quê hương, phản ánh các cuộc đấu tranh kháng chiến của ông cha, kể về sự ra
đời của dòng họ,..Mục đích là để con cháu không quên đi nguồn cội của dân tộc.
Vì thế kho tàng văn nghệ dân gian của người Si La có giá trị lịch sử cao, giúp
chúng ta tìm hiểu rõ hơn về lịch sử của dân tộc giúp ta làm sáng tỏ vị trí và vai trò
của văn nghệ dân gian Sila trong lịch sử, trong sự nghiệp xây dựng, bảo tồn, phát
triển những giá trị tinh thần của nền văn hóa Việt Nam mang bản sắc dân tộc hiện
nay.
2.2.2.Giá trị nhân văn
Trong sự phát triển tiến bộ của đời sống xã hội hiện nay, cơ bản những giá trị văn
hoá đồng bào Si La tích luỹ, nuôi dưỡng từ bao đời nay vẫn được lưu giữ được trí
nhớ, tiềm thức của những người cao tuổi như : tín ngưỡng, lễ hội, cưới xin, văn

để tổ chức. Trong gia đình có mắc mớ hoặc xích mích với bên ngoài thì trưởng họ
là người đến can thiệp và xử lý. Những ngày tết, lễ cũng được các gia đình cùng
dòng họ đem lễ vật đến biếu trưởng họ. Lễ vật bao gồm: tim, gan, thận lợn và một
vò rượu cần với một ít sáp ong để thắp lên bàn thờ tổ tiên. Tổ chức theo tông tộc là
hình thức chặt chẽ, có quy ước, hương ước riêng, xử phạt nghiêm minh đối với
những ai vi phạm hặc làm tổn hại đến danh dự của dòng họ. Các hình thức xử phạt
được áp dụng từ thấp đến cao tuỳ theo mức độ vi phạm: từ khuyên răn đến đuổi ra
khỏi tông tộc. Hình thức tổ chức theo dòng họ do trưởng họ đứng đầu cũng là biểu
hiện của tính chất phụ quyền, nhằm cố kết khối cộng đồng trong họ. Đồng bào dân
tộc Si La có tính cố kết cộng đồng, dòng tộc cao. Cho đến nay người Si La ai cũng
đều biết rõ truyền thuyết dòng họ dân tộc mình, đặc biệt là đối với dòng họ Hù,
Trường ca thiên di của người Si La về nguồn gốc cội nguồn của họ.
Văn nghệ dân gian của người Si La có giátrị về mặt cố kết cộng đồng. Được thể
hiện qua nhiều mặt như: người Si La tham gia các lễ hội của dân tộc, tham gia các
trò chơi truyền thống, hay tham gia các hoạt động văn nghệ hát múa, dân ca truyền
thống của dân tộc,....điều đó nhằm mục đích bảo tồn, phát huy di sản văn hóa, tạo
sự gắn kết cộng đồng; là cơ sở giữ vững bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam.
3.Đánh giá, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn nghệ dân gian
của người Si La
3.1.Đánh giá
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status