MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam có 54 thành phần dân tộc. Trải qua bao thế kỷ, cộng đồng các
dân tộc Việt Nam đã gắn bó, đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ
bờ cõi, giành độc lập tự do và xây dựng đất nước. Mỗi dân tộc đều có bản sắc
văn hóa riêng, tạo nên sự thống nhất và đa dạng của văn hóa Việt Nam.
Bản sắc văn hóa của các dân tộc được thể hiện rõ trong các hoạt động
kinh tế, văn hóa vật thể và phi vật thể của cộng đồng tộc người. Một trong
những đặc trưng chung tạo nên phẩm chất con người và văn hóa Việt Nam là
lòng yêu nước, đức tính cần cù, chịu thương, chịu khó, sáng tạo trong lao động
sản xuất, gắn bó, hòa đồng với thiên nhiên, cộng đồng làng xóm và đức tính
nhân hậu, vị tha của mỗi con người.Từ trang phục, ăn, ở, quan hệ xã hội, các
phong tục tập quán trong cưới xin, ma chay, thờ cúng, lễ tết, lịch, văn nghệ, vui
chơi của mỗi dân tộc lại mang những nét chung. Đó là đức tính cần cù chịu khó,
thông minh trong sản xuất; với thiên nhiên - gắn bó hoà đồng; với kẻ thù không khoan nhượng; với con người - nhân hậu vị tha, khiêm nhường... Tất cả
những đặc tính đó là phẩm chất của con người Việt Nam.
Là một sinh viên chuyên ngành quàn lý văn hóa, trong quá trình học tập,
tìm hiểu về các dân tộc trong 54 dân tộc Việt Nam tôi thấy được những nét đẹp
văn hóa và cuộc sống sinh hoạt của các dân tộc trong từng khu vực. Qua tìm
kiếm và được trang bị những kiến thức chuyên sâu, hiểu rõ về từng vấn đề của
các dân tộc thiểu số như: Kinh tế, trang phục, nhà cửa, lễ hội, văn hóa dân
gian..... Từ đó cho thấy mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại mang một nét văn hóa
đặc trưng riêng.Từ những lần tìm hiểu các dân tộc thiểu số tôi đã hiểu rõ được
hơn về đời sống cũng như văn hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc đó, cũng
là vốn nền tảng giúo tôi tìm hiểu cũng như đi nghiên cứu sâu hơn về giá trị văn
hóa dân gian của người Hà Nhì.
Là một dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở vùng núi cao phía Tây Bắc,
đồng bào dân tộc Hà Nhì có nền văn hoá độc đáo, mang đậm bản sắc của dân
sức có ích. Ta có thể hiểu rõ hơn về các dân tộc đấy, biết phong tục tập quán,
ngôn ngữ cũng như đời sống sinh hoạt hằng ngày. Đến với môn văn hóa dân tộc
thiểu số những thắc mắc cũng như những câu hỏi về dân toọc mà ta muốn tìm
hiểu sẽ được giải đáp một cách nhanh gọn. Khi học môn này tính đoàn kết trong
3
lớp cũng cao hơn, người này giúp người kia tìm hiểu và giả đáp những thắc mắc
cho chúng ta, giúp ta hiểu hơn về dân tộc mà mình muốn tìm hiểu. Qua môn học
tôi rút ra được rất nhiều kinh nghiệm cũng như hiểu về dân tộc Hà Nhì mà tôi
đang làm bài tiểu luận.
4
NỘI DUNG
PHẦN 1:
KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN VÀ TỘC NGƯỜI HÀ NHÌ
1.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu tộc người Hà Nhì
•
Dân số, phân bố dân cư.
Theo số liệu năm 2009 người Hà Nhì ở Việt Nam có dân số 21.725 người
cư trú tại 32 trên tổng số 63 tỉnh thành phố. Phân bố ở các tỉnh Lai Châu: 13.752
người Hà Nhì( các xã Xín Thầu, Chung Chải, Mù Cả, Ka Đăng, Thu Lũm, xã
Bun Nơ, Tà Tổng, Kan Hồ, Hua Bum,…) chiếm 63,3% tổng số người Hà Nhì tại
Việt Nam. Lào Cai có 4.026 người ( các xã Ý Tỵ, A Lù, Bát Xát). Điện Biên có
3.786 người ( xã Mường Nhé huyện Mường Nhé Điện Biên) và ở xã Dào San,
Phong Thổ Lai Châu.
triển kinh tế xã hội và quốc phòng, an ninh của tỉnh. Diện tích tự nhiên:
106.189km2 tren 70% là đồi núi, gồm 14 dân tộc cùng chung sống. Toàn huyện
có tổng số 14051 hộ với 71947 khẩu trong đó dân số của các dân tộc thiểu số
chiếm 82%. Huyện có 22 xã và 1 thị trấn trong đó 10 xã và 31 bản giáp biên với
2 huyện Hà Khẩu và Kim Bình, Tỉnh Vân Nam.
•
Người Hà Nhì ở huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai.
Lào Cai là địa bàn cư trú của người Hà Nhì đen, tập trung tại các xã của
huyện Bát Xát như: Y Tý, Nậm Pung, Trinh Tường, A Lù, A Mú Sung, Ngái
Thầu. Dân số người Hà Nhì ở huyện Bát Xát là 3996 người, chiếm 99,2% trong
tổng số 4026 người Hà Nhì trong tỉnh. Bộ phận người Hà Nhì ở Lào Cai đến
Việt Nam muộn hơn sao với bộ phận ở Lai Châu, cách đây khoảng 150 năm,
xuất pháy từ Vân Nam ( Trung Quốc)
•
Tộc danh
Các tộc người nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến có các tên gọi đã chính thức
được công nhận: Lô Lô, Hà Nhì, La Hủ, Cống, Si La và La Hủ
Người Hà Nhì ở Việt Nam tự gọi mình là Hà Nhì Già( người Hà Nhì).
Trước năm 1954 họ được gọi là U Ni, Xá( Mán), U Ní. Hiện nay tộc danh Hà
Nhì là tên gọi chính thức của họ.
Căn cứ vào tiếng nói , y phục ... cộng đồng người Hà Nhì được phân ra
làm 3 nhóm địa phương: (1) Hà Nhì cố chổ: cư trú ở các bản như Nậm
Khum( Mường Nhé, Điện Biên), Sang Sui(xã Bun Nơ), Xi Nế(xã Mù Cả), A
Mé( xã Tà Tống), Mân Hạ( xã Kan Hồ), Chang Pa Chải xã Hua Bum...( Mường
Tè Lai Châu) (2) Hà Nhì La Mí cư trú ở các xã Chung Chải( Mường Nhé,Điện
Biên), Xín Thầu, Ka Lăng, Thu Lũm và ở các bản Mù Cả, Ma Ký, Giờ Cứ(xã
Mù Cả) , Nâm Lọ(xã Kan Hồ)...thuộc huyện Mường Nhé, Lai Châu. (3) Hà Nhì
-
Văn hóa vật chất.
Nhà ở.
Nhà ở cổ truyền của người Hà Nhì là nhà đất. Bộ khung nhà khá đơn giản.
Vì kèo cơ bản là kiểu vì kèo ba cột. Nhà có hiên rộng, người ta còn làm thêm
một cột hiên nên trở thành vì bốn cột. Tường trình rất dày. Nhà không có cửa sổ,
của ra vào cũng ít, phổ biến là chỉ có một cửa ra vào mở ở mặt trước nhà và lệch
về một bên. Mặt bằng sinh hoạt: nhà thường ba gian, ít nhà bốn gian. Có hiên
rộng ở mặt trước nhà. Trong nhà chia theo chiều dọc: nữa nhà phía sau là các
phòng nhỏ. Nửa nhà phía trước để trồng, một góc nhà có giường dành cho
khách, ở đây còn có bếp phụ. Cũng có trường hợp hiên được che kín như là một
hành lang hẹp thì cửa mở ở chính giữa. Những trường hợp như thế này thuộc về
7
gian chính giữa hoặc thêm một gian bên cạnh có sàn cao khoảng 40 cm để dành
cho khách, ở đây cũng có bếp phụ.
-
Trang phục.
Phụ nữ Hà nhì để tóc dài, kkhi có chồng họ vấn quanh đầu. Y phục Hà
Nhì ở Tây Bắc có màu sắc sặc sỡ, giống trang phục nữ La Hur. Tuy vậy áo ngoài
ngắn hơn, cài khuy bên nách phải đính tiền xa, khuy bạc, hạt cườm ở nửa trên
thân phải trước. Ở Lào cai trang phục nữ Hà Nhà đơn giản hơn cách may cắt
quần áo cũng giống như Hà Nhì ở Tây Bắc nhưng may bang vải chàm, không
trang trí, ngắn đến đầu gối. nay phụ nữ Hà Nhì không ăn trầu, nhuộm răng đen,
nhưng xưa kia ( ở Tây Bắc) họ nhuộm răng bằng cánh kiến đỏ.
đồng và giàu tính nhân văn, tinh thần thượng võ. Việc tổ chức, khôi phục lại các
lễ hội truyền thống không chỉ tạo không khí phấn khởi trong đồng bào mà còn
góp phần bảo tồn, phát huy lễ hội truyền thống, nâng cao mức hưởng thụ văn
hóa và tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Qua đó nâng cao ý thức
bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Hà Nhì. Trong các lễ hội của đồng bào
Hà Nhì không thể không kể đến: Lễ tết tháng 2 “Gạ ma thú”; lễ cúng cầu mưa,
cầu sấm, chớp đầu năm mới. Lễ cơm mới; tết "Hồ sự chà"… Các lễ hội được bà
con tổ chức nhằm cầu mong một năm mới mọi việc suôn sẻ, mưa thuận gió hoà,
mùa màng bội thu, bản làng được bảo vệ bình yên. Ngoài ra, người Hà Nhì còn
có chùm Lễ hội cúng rừng đầu năm mới có ý nghĩa cộng đồng sâu sắc đó là vận
động bà con bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn tài nguyên, thiên nhiên quý báu đó sẽ
giúp bà con có đủ nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt.
9
PHẦN 2:
KHÁI QUÁT NGHIÊN CỨU VỀ DÂN TỘC HÀ NHÌ.
2.1. Một số loại hình văn hóa dân gian của người Hà Nhì.
Người Hà Nhì có kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian phát triển trong đó:
vốn truyện thần thoại, truyện cổ, truyền thuyết,dân ca…của họ khá phong phú.
Trong ca Hà Nhì Mí Chạ, Hà Nhì Đế La… là những áng thơ văn có giá trị lớn về
văn học nghệ thuật và lịch sử. truyện thơ của họ khá đồ sộ, đó là những tập thơ đám
cưới và ghi lại các phong tục, tập quán. Thanh niên Hà Nhì thích chơi đàn tính và
các trò chơi dân gian ( đánh đu, chơi cầu bập bênh, đánh quay,…).
2.1.1. Truyền thuyết.
Theo lời truyền miệng của người Hà Nhì thì họ có nguồn gốc từ người Di,
tách thành bộ tộc riêng biệt 50 đời về trước. Đồng bào Hà Nhì thường kể về quê
hương cũ của mình. Vùng đất đó đã đi vào tâm thức dân gian và trở thành bài ca
"Hà Nhì Mí Chạ", ca ngợi vùng đất tổ.
Pa Thắng 14 km về phía bên Trung Quốc có một hòn đá, mang dáng hình người
vợ nhìn về phía Việt Nam, là đá vọng phu, còn ở bên này là tượng người chồng
ngóng vợ mà hóa đá, gọi là đá vọng thê. Họ mất nhau trên đường chạy loạn.
Ngày nay, người Hà Nhì ở Việt Nam có khoảng 26.000 người, quần cư
chủ yếu ở Lai Châu, Lào Cai và Điện Biên. Tiếng nói của người Hà Nhì thuộc
11
nhánh ngôn ngữ Di, nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến, ngữ hệ Hán-Tạng. Ở Điện
Biên, huyện Mường Nhé là địa bàn cư trú chính của hơn 4.500 người Hà Nhì.
Căn cứ vào ngôn ngữ và đặc điểm cư trú, các nhà nghiên cứu dân tộc học
đã chia người Hà Nhì ở Mường Nhé thành 2 nhóm, là người Hà Nhì Cồ Chồ và
người Hà Nhì Lạ Mí, trong đó người Hà Nhì Cồ Chồ tập trung sinh sống tại xã
Chung Chải, còn người Hà Nhì Lạ Mí sinh sống chủ yếu ở xã Sín Thầu, Leng Su
Sìn và Sen Thượng, là vùng đất cư ngụ lâu đời, đồng thời cũng là vùng đất lõi để
người Hà Nhì tỏa đi sinh sống ở các địa bàn khác.
Dựa theo đặc điểm trang phục, các nhà nghiên cứu chia làm hai ngành
chính: Hà Nhì hoa và Hà Nhì đen. Người Hà Nhì đen có khoảng 10.000 người
cư trú rải rác ở tỉnh Lào Cai và 2 huyện Sìn Hồ, Phong Thổ của Lai Châu. Còn
nơi sinh sống chính của người Hà Nhì Hoa là huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
và huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
Người Hà Nhì hoa còn phân làm hai nhóm: nhóm Hà Nhì Cồ Chồ (tức
người Hà Nhì ở vùng thấp); nhóm Hà Nhì La Mí (là người Hà Nhì ở vùng cao,
vùng thượng nguồn). Trang phục khác nhau cũng từ quá trình thiên di của người
Hà Nhì, kéo theo nghề trồng bông dệt vải, trồng chàm và nhuộm chàm.
Nhà thơ Chu Thùy Liên giải thích: Có những truyền thuyết liên quan đến
việc tại sao người Hà Nhì Bát Xát chỉ mặc áo màu xanh thôi. Ngày xưa người
Hà Nhì thiên di từ phương Bắc xuống thì nhóm Hà Nhì đi đầu đã mang hết
những bí quyết về nhuộm màu. Người Hà Nhì vùng Mường Nhé và Mường Tè
Bởi coi rừng là nguồn sống nên những nghề truyền thống của người Hà
Nhì cũng xuất phát từ rừng. Ở Điện Biên và Lai Châu lan truyền câu ca: “Gái
Mường Nhé, chè Ka Lăng” - gái Mường Nhé nổi tiếng xinh đẹp, trà Ka Lăng
nổi tiếng ngon, trở thành một thương hiệu được cả nước biết đến. Và nghề trồng
chè cũng được tôn vinh trong tập quán của người Hà Nhì.
Trên mâm cơm của người Hà Nhì ngày mùng 1 tết cho đến ngày cuối tết
sẽ có một bát nước trà gừng, thể hiện tổ tiên người Hà Nhì đã am hiểu về chè.
Người Hà Nhì còn có phong tục làm chè lam, lấy lá chè nhét vào ống nứa, giã
rồi đóng thành bánh, khi có khách người ta gỡ dần cái bánh đó ra rồi pha uống.
Cùng với đất, nước và rừng, người Hà Nhì cũng vô cùng coi trọng lửa,
bởi họ đã gặp nhiều khó khăn trong quá trình thiên di tìm lửa. Sau này, họ có cả
một lễ cúng thần lửa. Và người Hà Nhì coi lửa là cội nguồn của mọi thứ có thể
13
sinh sôi. Theo truyền thuyết “Sự tích À Chà” thì lửa là tự thân, do sự dũng cảm
của người Hà Nhì mà sinh ra. Ngày đầu tiên khi dựng nhà mới có lễ cúng thần
lửa, để các vị ấy phù trợ cho gia đình đó làm ăn may mắn, mời vị thần lửa chứng
kiến tất cả các buồn vui của gia đình trong các thế hệ tiếp theo.
Những giá trị văn hóa phi vật thể cũng luôn được các thế hệ người Hà Nhì
tự hào, gìn giữ. Nổi bật trong số đó là truyền thống nhắc nhớ về lịch sử nguồn
cội, tổ tiên. Khi làm lý xin phép tổ tiên và các vị thần về ăn Tết, người Hà Nhì sẽ
mượn lời sử thi của dân tộc, hát kể lại quá trình thiên di, lập làng lập bản. Những
câu hát trích trong bộ Há pà- truyên thơ dài “Phùy ca Na ca”, được xem là sử thi
“Khai thiên lập địa ca” của người Hà Nhì.
Có dòng họ nhớ được tới 40 đời.
Giờ đây khi đã định cư, mỗi bản có tới 50- 60 hộ sinh sống. Nhưng người
Hà Nhì luôn nhắc nhớ con cháu về quá trình thiên di gian khổ qua nghi lễ “nhắc
tên” dịp tết. Thạc sĩ Lê Ngân - ĐH Tây Bắc, cho biết: Hàng năm vào tối 30 tết,
một nghi lễ rất quan trọng trong gia đình được thực hiện. Ðó là lễ tưởng nhớ tổ
Cuộc thiên di ấy diễn ra hàng ngàn năm, tạo cho người Hà Nhì một địa
bàn định cư rộng lớn, ở nơi này không được lại phải đến nơi kia. Đến nơi nào họ
cũng tụ cư thành vùng trong khu vực cư trú riêng biệt: có một môi trường thiên
nhiên rộng lớn, có đủ đất đai cho cư dân Hà Nhì canh tác và thực hiện các nghi
lễ tôn giáo linh thiêng, theo truyền thống của dân tộc mình.
Trong sử thi Phùy Ca Na Ca, người Hà Nhì hình dung về nơi ở của tổ tiên
rất yên bình bên dòng sông Na Ha:
Nà Ma đầu nguồn
Nơi Hà Nhì sinh sống là Nà Ma đầu nguồn
Nơi bản Hà Nhì ở là Sùy P’hùy À Cò
Nơi bàn luận quyết định là Lé Lu À Khó
Nơi học hỏi lý lẽ là Sùy P’hùy À Cò
Ha Xa rộng to nước tưới bằng mười hai nhánh mương
Ở giữ bản Hà Nhì bảy nghìn hộ
Na Tro Tro Ứ bình yên đó
Là đất của tổ tiên người Hà Nhì ở đó.
15
Hay sự xung đột giữa người Hà Nhì và người Hán được lặp đi lặp lại như
muốn nhấn mạnh đến một vấn đề cốt tử của người Hà Nhì khi ấy: giữ đất. Đó là
hình ảnh của một làng chiến đấu với hệ thống phòng thủ khá nghiêm ngặt:
Có hàng rào đan bằng dây thép
Bao bọc bảo vệ khắp xung quanh
Bản ở giữa cũng bao hàng rào thép.Bảy mươi đôi cọc cắm đều nhau…
Anh Nguyễn Trọng Hiến, Phó Giám đốc bảo tàng tỉnh Lai Châu, cho hay
sử thi của người Hà Nhì Hoa rất khác so với các bộ sử thi lớn ở Tây Nguyên. Sử
thi Tây Nguyên thường khắc họa nhân vật điển hình với những hành động, việc
làm điển hình, đại diện cho ước mơ, khát vọng của tộc người. Nhưng sử thi của
người Hà Nhì Hoa lại khác.
là bên mâm cơm, trên nương, ngày lễ tết hay trong đám cưới mà không phải
thực hiện bất cứ kiêng kỵ nào.
“Hiện giờ, trên địa bàn tỉnh Lai Châu chỉ còn một nghệ nhân duy nhất hát
ngâm, hát kể được hai tác phẩm này. Tuy nhiên, nó cũng không còn đầy đủ.
Nghệ nhân đấy là Pờ Lóng Tơ. Khi nghệ nhân cung cấp hai tác phẩm này cũng
nói rằng tôi chỉ còn biết được đến 1 – 2/10 nội dung mà bố của ông ấy biết.
Ngày xưa tất cả mọi người đều có thể hát, tất cả mọi người đều có thể nghe. Và
họ có thể hát bất kỳ nội dung nào. Có thể trong đám cưới họ hát một quãng về
đám cưới, trong lúc làm nhà họ sẽ hát một quãng về làm nhà” .
2.1.3. Dân ca.
Văn hoá dân gian của dân tộc Hà Nhì rất phong phú, gồm nhiều điệu
múa, làn điệu dân ca, nhiều loại nhạc cụ độc đáo. Nền văn hoá dân gian này làm
giàu đời sống tinh thần của người Hà Nhì.
Người Hà Nhì sống miền núi cao, gần khu vực biên giới, nên ít chịu ảnh
hưởng từ văn hoá của các dân tộc khác. Các làn điệu dân ca, các điệu múa của
người Hà Nhì như sợi dây gắn kết cộng đồng, giúp một dân tộc dù chưa có chữ
viết, trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm nhưng vẫn lưu truyền được di sản văn
hoá truyền thống của riêng mình. Anh Lý Mở Chừ, dân tộc Hà Nhì ở huyện
Mường Tè, tỉnh Lai Châu, cho biết: "Các bài dân ca điệu múa của người Hà Nhì
rất quý. Người Hà Nhì di cư, bỏ lại phía sau nhiều thứ, không còn chữ viết riêng
của mình, nhưng những bài hát dân ca, điệu múa cứ được thế hệ này truyền đến
17
thế hệ kia. Từ thế hệ các cụ đến ông cha truyền lại cho con cháu, nhờ đó người
Hà Nhì giữ được bản sắc dân tộc đến ngày nay".
Nói đến di sản âm nhạc dân gian của người Hà Nhì, trước hết phải kể đến
các điệu hát đối, hát giao duyên. Các đôi trai gái Hà Nhì đến tuổi trưởng thành
tìm hiểu nhau thường thông qua lối hát đối, hát giao duyên để nói lên tâm tư,
mới; hát dệt vải... Những bài dân ca này thường được kết hợp với các màn múa
trong một số lễ hội đặc trưng của dân tộc Hà Nhì. Anh Lê Văn Thiết, cán bộ Bảo
tàng Dân tộc học Việt Nam, cho biết: "Các điệu hát múa của người Hà Nhì hầu
như để mô tả lại những phong tục tập quán, trong đó có điệu múa đặc sắc như
điệu múa se sợi. Đó là điệu múa diễn lại các động tác se sợi. Điều đó cho thấy
âm nhạc điệu múa phần nào phản ánh các phong tục tập quán. Còn trong lễ hội
Khô già già, lễ hội lớn nhất của người Hà Nhì, bao giờ cũng có điệu múa mang
tính chất tập thể. Đó là một dạng múa Saman giáo ( tức là điệu múa phục vụ
cho tôn giáo) đó là điệu múa kết hợp giữa âm nhạc và lời cúng của thày cúng".
Đời sống văn hóa của người Hà Nhì hiện có sự giao thoa với nền văn hoá
các dân tộc khác. Nhiều nhà nghiên cứu văn hoá dân gian thực sự ngạc nhiên khi
thấy trong sinh hoạt cộng đồng của người Hà Nhì đã xuất hiện những bài hát nội
dung mới, thậm chí những bài hát từ nước ngoài, được thể hiện bằng tiếng Hà
Nhì. Phải chăng bằng cách ấy, nét văn hóa truyền thống của người Hà Nhì tiếp
tục được lưu truyền trong cuộc sống mới.
2.1.4. Điệu múa của người Hà Nhì.
Trong qua trình lao động sản xuất, sinh hoạt văn hóa và cộng đồng người
Hà Nhì nơi đây đã sáng tạo ra các điệu múa phục vụ trong tín ngưỡng dân gian,
tín ngướng tâm linh, vì thế hầu hết các làn điệu múa của người Hà Nhì mang
tính tập thể. Nghệ thuật biểu diễn cũng rất đa dạng với các các điệu múa như:
múa trống, múa lên nương, múa dệt vải, múa đội mưa, múavào mùa, múa trông
trăng, múa giã bạn,… phản ánh các mặt đời sống sinh hoạt phong phú của bà
con. Đầu tiên phải kể đến múa chiêng.
Điệu múa úp chiêng là điệu múa tập thể nam nữ. Theo đó nam nữ kết hợp
thành một vòng tròn theo nhịp trống chiêng, tay cầm chiếc chiêng đồng để úp
bắt cá. Động tác này vừa mô phỏng việc tìm kiếm nguồn thức ăn vùa thể hiện sự
giao hòa giữa trời và đất, thiên nhiên cây cỏ và con người. Khi múa đội múa
bước chân quay mặt theo hướng vòng từ trái qua phải và ngược lại.
19
ống. Cách đầu mấu khoảng 25 cm, được tách ra theo chiều dọc ống thành nhiều
20
phần bằng nhau, cầm hai đầu ống ấn nhẹ làm phồng phần được tách ra, tạo thành
bộ phận phát âm. Khi thổi ngậm toàn bộ phần phát âm vào miệng rồi đặt lỗ phía
dưới ống vào giữa hai lòng bàn tay úp kín vào nhau tạo ra hộp cộng âm hình dẹt,
hơi thổi qua bộ phận phát âm làm rung những đoạn ra tách rời phát ra âm thanh.
Muốn cho âm thanh cao thấp khác nhau, người ta điều khiển lòng bàn tay lúc
phồng, lúc dẹt, các ngón tay khi mở ra, khi đóng vào.
Nhạc khí gẩy: Người Hà Nhì có nhạc khí gẩy duy nhất là chiếc Lakhư, là
nhạc khí dành riêng cho con trai sử dụng. Lakhư có 3 dây, trước kia là dây cước,
nay dùng kim loại. Hộp đàn không có hình dáng nhất định đục từ thân cây to. Mặt
đàn không khoét lỗ thoát âm và thường được làm bằng ruột cây tre, cây vầu đã
được tước mỏng và dát phẳng. Đàn để trơn, không gắn phím, dài khoảng 30-35 cm.
Đầu đàn có 3 trục vặn để lên dây. Ba dây tỳ lên đàn chặt ở giữa mặt hộp đàn.
Nhạc khí gõ: Bộ gõ gồm trống, chập cheng, thanh la sử dụng trong các ngày
hội, ngày tết biểu hiện sức mạnh tập thể với những tiết tấu khỏe mạnh chắc chắn
Mỗi khi tết đến xuân về nơi những cư dân người Hà Nhì đen sống dưới
chân rừng già nguyên sinh Ý Tý lại nô nức đón xuân vui tết bằng những lời ca
tiếng hát và những trò chơi dân gian độc đáo đặc trưng riêng của dân tộc vùng
cao. Đặc biệt trò chơi dân gian diễn ra trong dịp lễ tết được đông đảo mọi tầng
lớp, lứa tuổi tham gia rất sôi nổi, nhiệt tình tạo thành nét sinh hoạt văn hoá dân
gian đặc sắc.
Trò chơi quay cây “Pa lu gư”
Quay cây “Pa lu gư” là một trò chơi độc đáo và hấp dẫn mọi người chơi
cũng như người xem. Để chơi trò này mỗi người tham gia phải chuẩn bị cho
mình một đoạn ngọn cây hóp dùng làm dụng cụ quay.
Dụng cụ quay là ngọn cây hóp bánh tẻ có độ dẻo dai và bền. Để dụng cụ
chơi được lâu, sau khi lấy ngọn về người Hà Nhì hơ lửa đều chỗ tay cầm ở đầu
cầm cán quay mới mạnh và tốc độ vòng quay nhanh đến chóng mặt. Cứ thế cuộc
chơi tiếp diễn đến khi mọi người cùng mệt thì trò chơi kết thúc.
Đu dây “Agừ”
Đu dây “A gừ” là trò chơi mang tính nghi lễ, được tổ chức sau lễ cấm bản
và cúng rừng tháng giêng; thầy cúng và các gia đình cùng nhau làm dây và cột
đu để cho các thành viên, con cháu trong làng được dịp vui chơi ngày tết.
[A3;Tr.33].
22
Dây đu là loại dây có vỏ màu đỏ, đường kính 4-5 cm, có độ dai và bền sử
dụng được vài tháng. Người làm dây đu phải là ông thầy cúng chính của làng. Dây
đu được buộc vào hai cây cột trụ có khoảng cách một sải tay, cao khoảng 2,5 m. Để
tránh cho sự cọt sát giữa dây và thân cây trụ, khi buộc thầy cúng đệm lót rơm chỗ
tiếp xúc. Khi dựng dây đu xong, thầy cúng làm phép lấy lá cây ở khu rừng cúng
“Gạ ma gio” rồi cho lá cây này đu trước với ý nghĩa đưa các thần rừng tham gia vui
chơi trước, sau đó đến thầy cúng đu mới đến các thành viên khác.
Du dây có 2 cách chơi: Chơi đơn một người; chơi kép 2 người (nam – nữ)
Khi chơi một người: thân người đứng thẳng lấy đà kéo dây đu về phía
mình bước hai chân đứng lên bàn đạp, dùng sức nhún hai chân đẩy người lên
khỏi đu sẽ bay cao, khi lên cao cũng làm ngược lại. Muốn cho cao hơn vẫn tiếp
tục nhún lấy đà, chú ý phải nhún đều đều, cứ thế khi nào không muốn chơi nữa
tự hãm người lại bằng cách đứng thẳng người tự khắc đu sẽ chậm lại, đến lượt
người tiếp theo.
Khi chơi hai người (nam – nữ): cả hai người chơi đều bước lên bàn đạp
đối mặt vào nhau, dùng sức nhún hai chân. Cả hai người cùng tạo ra một hợp lực
đẩy đu lên cao, đu càng cao tiếng reo hò cổ vũ càng mạnh mẽ. Sau khi không
muốn chơi nữa cả hai người cũng đứng thẳng lại đu từ từ dừng lại và bước
xuống. Đu dây thường phải có đôi hoặc là đôi nam, đôi nữ và đôi nam nữ, họ tự
thi giữa các đôi xem đôi nào đu dây lên thật cao và thật nhanh thì đôi đó thắng
đà cho vòng đu quay, bên này lên bên kia xuống cùng nhau nhịp nhàng tạo đà đu
quay rất vui. Nếu như bên nào không chịu được phải xuống coi như chịu thua.
Tốp con gái đứng giữa đều véo tai bên thua, bắt các cậu con trai phải hát hoặc
thổi kèn kèn lá hoặc phải uống rượu.
Cách chơi thứ hai:
Tay bám vào sóng cầu đu, áp phần bụng dựa vào sóng cầu đu, cả hai bên
đều dùng chân đẩy mạnh xuống đất từ 4 đến 6 bước, miễn sao cho sóng cầu đu
quay tròn, lúc thuận, lúc nghịch, một bên ghìm xuống thấp bằng tầm chân; một
bên ôm chặt cầu đu bổng người lên cao, khi hết đà, bên cao đổi xuống, cứ như
vậy hai bên đổi nhau, nếu bên nào cũng khỏe như nhau thì sóng cầu đu quay tít
như con quay vậy. Cả hai bên đều có tài thì các thần năm ấy sẽ phù hộ cho dân
bản làm ăn gặp nhiều may mắn.
24
Đối với người Hà Nhì đen ở Lào Cai, chỉ có ngày tết mới dựng cột đu khi
hết tết người ta hạ cột đu vì cột đu và cách chơi nó mang tính tín ngưỡng phồn
thực. Ngày tết dựng cột đu mong muốn một năm mới người dân làm ăn sinh sôi
phát triển.
2.2. Giá trị văn hóa dân gian của người Hà Nhì
2.2.1. Giá trị lịch sử
Văn nghệ dân gian của người Hà Nhì có giá trị lịch sử cao, mang nhiều
nét đặc sắc của văn hóa dân tộc Việt Nam. Có nguồn gốc từ Trung Hoa người
Hà Nhì di cư sang khu vực giáp biên ở Tây Bắc và Đông Bắc, khoảng vài ba
trăm năm nay nên có nền văn nghệ dân gian lâu đời.
Văn nghệ dân gian của người Hà Nhì cũng được ra đời và phát triển cùng
với sựu hình thành phát triển của dân tộc. Văn nghệ của dân tộc Hà Nhì gồm
những câu truyện cổ tích, những sử thi về dân tộc… tất cả những nội dung trong
đó phản ánh đời sống lịch sử của dân tộc. Với những điệu múa như múa mặt