1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư trực tràng là ung thư thường gặp của đường tiêu hóa, là bệnh
phổ biến trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển. Theo tổ chức nghiên
cứu ung thư quốc tế ước tính mỗi năm trên thế giới có khoảng 572100 người
mắc ung thư đại trực tràng (trong đó ung thư trực tràng chiếm nhiều nhất). Ở
Việt Nam ung thư trực tràng đứng hàng thứ 5 sau ung thư phế quản, dạ dày,
gan, vú nữ. Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 7,5/100000 dân [9], [12], [17], [58],
[68].
Trong điều trị ung thư trực tràng, phẫu thuật vẫn là phương pháp điều
trị chính, các phương pháp điều trị khác có vai trò bổ trợ. Những khối u trực
tràng ở đoạn thấp ngay ngõ ra của ống tiêu hoá và liên quan với cơ quan niệu
và sinh dục xung quanh nên phẫu thuật có nhiều phức tạp. Chọn lựa phẫu
thuật là điều cân nhắc và thận trọng để làm sao bảo đảm lấy hết tổ chức ung
thư và hạn chế tái phát là mục tiêu hàng đầu của người thầy thuốc [17], [34].
Năm 1908, W. Ernest Miles là người mô tả và thực hiện phẫu thuật cắt
cụt trực tràng. Trong phẫu thuật này, trực tràng được cắt bỏ qua hai đường
bụng và tầng sinh môn: đoạn đại tràng sigma, trực tràng, hậu môn, các cơ thắt
và cơ nâng hậu môn được cắt và đưa ra qua đường tầng sinh môn, kết hợp với
nạo hạch rộng. Phẫu thuật này đã hạn chế được tái phát, di căn và tăng thêm
thời gian sống cho bệnh nhân [12], [34], [59], [68].
Phẫu thuật nội soi đại trực tràng được Jacobs bắt đầu năm 1991. Trải
qua gần hai thập kỷ đến nay phẫu thuật nội soi đã được áp dụng rộng rãi trên
toàn thế giới trong điều trị ung thư đại trực tràng. Phẫu thuật nội soi cắt cụt
trực tràng đường bụng tầng sinh môn đã từng bước khẳng định tính ưu việt
của nó: thì nội soi ổ bụng tránh được đường mở bụng dài, phẫu thuật nội soi
có thuận lợi khi tiến hành cắt toàn bộ mạc treo trực tràng vì nó giúp phẫu
2
1. Chỗ nối ràng sigma và trực tràng; 2. Chỗ nối trực tràng và ống hậu môn;
3. Đường giới hạn trực tràng cao và thấp..
Trực tràng dài khoảng 10 -12 cm, tiếp theo đại tràng sigma ở ngang mức
đốt sống S3. Đi xuống uốn cong theo chiều lõm của xương cùng, tới đỉnh xương
cụt thì quặt ra sau và xuống dưới gấp khúc thành một góc 900 [24].
1.1.1.2. Hình thể trong
Niêm mạc trực tràng thường có 3 nếp ngang:
- Nếp trên: ở gần nguyên ủy của trực tràng.
4
- Nếp giữa: ở ngay trên bóng trực tràng, các thớ cơ vòng ở đây dày hơn
ở các chỗ khác.
- Nếp dưới: khoảng 2,5 cm ở dưới nếp giữa [24].
1.1.1.3. Phúc mạc trực tràng
Phúc mạc chỉ phủ 2/3 trên của trực tràng, ở mặt trước xuống thấp hơn ở
hai bên.
Từ mặt trước trực tràng phúc mạc lật lên bàng quang ở nam hay tử
cung âm đạo ở nữ, tạo nên túi cùng trực tràng - bàng quang ở nam hay túi
cùng trực tràng - tử cung ở nữ. Điểm lật phúc mạc ở nam cao hơn, khoảng 7,5
cm trên hậu môn, và khoảng 5,5 cm ở nữ.
Ở trực tràng, phúc mạc dính rất lỏng lẻo với lớp cơ bởi một mô mỡ
nhão, cho phép độ co giãn rất lớn [24].
1.1.1.4. Liên quan của trực tràng
- Mặt sau: Liên quan với xương cùng cụt và các thành phần trước
xương cùng, đặc biệt có đám rối tĩnh mạch trước xương cùng.
- Mặt trước: Ở nam liên quan đến bàng quang, túi tinh, ống dẫn tinh,
niệu đạo, tuyến tiền liệt. Ở nữ liên quan với thành sau âm đạo, trực tràng và
thành sau âm đạo dính vào nhau thành vách trực tràng âm đạo, dễ bị rách khi
dưới là đường trắng.
- Phần dưới: được phủ bởi da, có các tuyến mồ hôi và tuyến bã [24].
6
1.1.2.3. Liên quan của ống hậu môn
- Ở sau: là dây chằng hậu môn cụt, đi từ hậu môn đến đỉnh xương cụt.
- Ở trước: là trung tâm gân đáy chậu ngăn cách với niệu đạo màng và
hành dương vật ở nam, và với phần dưới âm đạo ở nữ.
- Ở hai bên: là các hố ngồi trực tràng [24].
1.1.3. Các động mạch và tĩnh mạch của trực tràng và ống hậu môn
1.1.3.1. Động mạch trực tràng
- Động mạch trực tràng trên: Là nhánh tận của động mạch mạc treo
tràng dưới, cấp máu chủ yếu cho trực tràng, chia làm 2 ngành đi xuống 2 bên
của trực tràng. Động mạch trực tràng trên nối tiếp với các động mạch trực
tràng giữa và dưới trong thành ống hậu môn.
- Động mạch trực tràng giữa: Tách ra từ động mạch chậu trong, đi từ
thành chậu đến trực tràng, cấp máu cho các lớp áo cơ của phần dưới trực
tràng. Các động mạch trực tràng giữa nối tiếp với nhau, song nối tiếp nghèo
nàn với các động mạch trực tràng trên và dưới.
- Động mạch trực tràng dưới: Tách ra từ động mạch thẹn trong, chạy
qua tổ chức mỡ của hố ngồi trực tràng, phân nhánh cho khối mỡ đó, cho các
cơ thắt trong và cơ thắt ngoài hậu môn, cho niêm mạc ống hậu môn ở dưới
các van hậu môn và cho da quanh hậu môn.
- Động mạch cùng giữa: Tách ra từ sau chỗ chia đôi của động mạch
chủ bụng, đi xuống cho các xương cùng, cụt, cũng tham gia cấp máu cho
thành sau của chỗ nối tiếp hậu môn trực tràng và của ống hậu môn, nối tiếp
với các động mạch trực tràng trên và giữa [24].
trực tràng giữa từ động mạch hạ vị, nhưng phần lớn bạch huyết nhóm giữa đổ
về nhóm trên.
- Nhóm dưới
+ Vùng chậu hông nhận hạch bạch huyết của phần dưới bóng trực tràng
đổ vào các hạch nằm dọc các động mạch cùng bên và các hạch ở góc nhô.
+ Vùng đáy chậu đổ vào các hạch bẹn nông ở tam giác Scarpa [24].
1.1.5. Thần kinh của trực tràng
1.1.5.1. Thần kinh giao cảm
Thần kinh giao cảm còn gọi là thần kinh hạ vị chi phối cho trực tràng,
bàng quang, cơ quan sinh dục. Trong phẫu thuật cần bảo tồn được thần kinh
này để giảm thiểu về di chứng tiết niệu và sinh dục.
Từ rễ thần kinh thắt lưng L1, L2, L3 tạo thành thần kinh hạ vị trên, đi
xuống dưới và chia làm hai thân. Thân bên trái đi trước động mạch chủ gần
động mạch mạc treo tràng dưới, thân bên phải nằm giữa hai động mạch và
tĩnh mạch chủ đi xuống dưới rồi tham gia tạo thành đám rối thần kinh trước
xương cùng. Đám rối thần kinh trước xương cùng ở trên ụ nhô chia làm hai
9
thân thần kinh hạ vị dưới. Hai dây này đi sang hai bên, chạy song song ở phía
trong niệu quản cách niệu quản 1 - 2 cm, đi sau mạc Told rồi đi sau hai lá
trước xương cùng, kéo dài tới phía sau trên của mạc treo trực tràng rồi chia
các nhánh đi vào thành trực tràng [6], [24], [86].
1.1.5.2. Thần kinh phó giao cảm
Bắt nguồn từ các nhánh cùng S2, S3, S4 chi phối sự cương ở cả nam và
nữ [24].
1.1.5.3. Thần kinh sống
Là thần kinh tách ra từ cùng S3, S4, chui qua khuyết ngồi lớn ra vùng
mông rồi vào hố ngồi trực tràng qua khuyết ngồi bé chi phối vận động cơ thắt
Là lớp tổ chức liên kết chứa nhiều mạch máu thần kinh, đặc biệt có
đám rối tĩnh mạch trực tràng [4].
1.1.6.4. Lớp niêm mạc
- Biểu mô: Ở đoạn trên trực tràng là biểu mô trụ đơn với ba loại tế bào:
tế bào trụ mâm khía, tế bào đài tiết nhầy và tế bào nội tiết ruột. Tế bào nội tiết
ruột có khá nhiều ở vùng cột. Ở phía trên, tuyến chế nhày Liberkuhn càng ít
dần và hoàn toàn biến mất ở vùng cột. Biểu mô trụ đơn của bóng trực tràng, ở
vùng tiếp giáp với ống hậu môn, chuyển dần sang biểu mô vuông tầng rồi
biểu mô lát tầng không sừng hóa.
- Lớp đệm: Lớp đệm là mô liên kết, có nhiều hạch bạch huyết nằm
riêng rẽ, ở vùng cột có nhiều mạch máu kiểu hang. Các mạch máu này đổ vào
các tĩnh mạch trực tràng.
- Lớp cơ niêm [24].
1.2. Sinh lý hậu môn trực tràng
Cơ chế tháo phân được kiểm soát bởi hai yếu tố: cơ chế phản xạ và cơ
chế kiểm soát tự chủ.
11
1.2.1. Cơ chế phản xạ
- Khi phân làm căng bóng trực tràng, các xung động thần kinh tạo cảm
giác buồn đại tiện, trực tràng co rút lại và đẩy phân vào ống hậu môn, bó mu
trực tràng của cơ nâng hậu môn giãn ra, phân thoát ra ngoài.
- Thần kinh chỉ huy tháo phân ở đốt sống cùng (S2, S3, S4) gồm cảm
giác, phó giao cảm và điều tiết nhận cảm bản thể.
1.2.2. Cơ chế kiểm soát tự chủ
Được điều khiển ở đốt cùng S2, S3, S4, chi phối bởi thần kinh trung
ương. Nếu bị chấn thương tủy sống sẽ dẫn đến tình trạng rối loạn tháo phân.
Ung thư giai đoạn muộn phá hủy thần kinh gây đại tiện khó khăn, táo bón,
1.4. Giải phẫu bệnh học của ung thư trực tràng và phân chia giai đoạn
ung thư trực tràng
1.4.1. Giải phẫu bệnh học
1.4.1.1. Đại thể
- Thể loét sùi: Là thể thường gặp nhất, u sùi vào lòng trực tràng, phần
trung tâm hoại tử rụng đi và tạo thành ổ loét ở giữa u [12].
- Thể u sùi: Thể này ít gặp, khối u sùi vào trong lòng trực tràng, nhiều
múi, chân rộng, nền cứng, thường bị loét ở giữa u [12].
- Thể loét thâm nhiễm cứng: Rất ít gặp, loét to, bờ gồ lên, thành đứng
thẳng, đáy gồ ghề, dễ chảy máu, phát triển chiếm toàn bộ chu vi gây hẹp lòng
trực tràng [12].
1.4.1.2. Vi thể
Chia làm hai loại là ung thư biểu mô và ung thư tổ chức liên kết.
- Ung thư biểu mô
Là loại hay gặp nhất, chiếm 97%. Tùy theo mức độ biệt hóa tế bào và
cấu trúc của tổ chức u mà người ta chia ra các loại sau:
13
* Theo phân loại của WHO năm 2000, gồm có
• Ung thư biểu mô tuyến.
• Ung thư biểu mô tuyến tiết nhầy.
• Ung thư biểu mô tế bào nhẫn.
• Ung thư biểu mô tế bào nhỏ.
• Ung thư biểu mô tế bào vảy.
• Ung thư biểu mô tuyến vảy.
• Ung thư biểu mô thể tủy.
• Ung thư biểu mô không biệt hóa.
* Phân loại độ biệt hóa của Broders
xương, não [12].
1.4.2. Phân chia giai đoạn ung thư trực tràng [12], [34], [80]
1.4.2.1. Phân chia theo Dukes
Là phân loại cổ điển nhất được áp dụng phổ biến trong những năm của
thập niên 30, sau đó được bổ sung thêm giai đoạn D để chỉ những ung thư có
di căn xa.
•
Dukes A: Ung thư còn giới hạn ở thành trực tràng.
•
Dukes B: Ung thư vượt quá thành trực tràng nhưng chưa có di
căn hạch vùng.
•
Duckes C: Ung thư đã có di căn hạch vùng.
•
Duckes D: Ung thư đã có di căn xa.
1.4.2.2. Phân chia theo Astler – Coller (1954)
•
Giai đoạn A: u giới hạn ở niêm mạc.
•
• Tis: Ung thư còn khu trú tại biểu mô.
• T1: Ung thư xâm lấn tới lớp dưới niêm mạc.
• T2: Ung thư xâm lấn tới lớp cơ.
• T3: Ung thư xâm lấn hết lớp cơ đến dưới thanh mạc hoặc tới
thanh mạc hay mô mỡ quanh trực tràng, nhưng chưa xâm nhập
vào các tạng lân cận.
• T4: Ung thư xâm lấn vào các tạng, cấu trúc lân cận hay thủng.
16
* N : Hạch
• Nx: Không đánh giá được hạch vùng.
• N0: Chưa di căn hạch vùng.
• N1: Di căn 1- 3 hạch vùng.
• N2: Di căn 4 hạch vùng trở lên.
* M : Di căn xa
• Mx: Không đánh giá được di căn xa.
• M0: Không có di căn xa.
• M1: Có di căn xa.
* Phân chia giai đoạn theo TMN của UICC( 1997) và AJCC (2002)
Bảng 1.1. Phân chia giai đoạn theo TMN
Giai đoạn
T
N
M
4
0
0
IIIA
1-2
1
0
IIIB
3-4
1
0
IIIC
T Bất kỳ
2
0
tràng giúp thầy thuốc xác định các tính chất sau của khối u.
- Khoảng cách từ u đến rìa hậu môn, xác định u chiếm bao nhiêu phần
chu vi trực tràng.
- Tính chất di động của khối u, từ đó suy ra mức độ xâm lấn ra xung
quanh của khối u.
Tuy nhiên thăm trực tràng có thể nhầm với các thương tổn khác: polip,
lao, Crohn, u khác.
* Khám bụng và toàn thân: Phát hiện di căn gan, phổi, hạch bẹn, hạch
thượng đòn.
18
1.5.2. Cận lâm sàng
1.5.2.1. Soi trực tràng
Soi trực tràng thấy được hình ảnh đại thể của tổn thương, ít bị nhầm lẫn
kể cả các tổn thương nhỏ. Điển hình là u sùi, loét ở giữa, màu đỏ xẫm, gờ ổ
loét sần sùi, dễ chảy máu. Xác định được vị trí, kích thước u, khoảng cách từ
u đến rìa hậu môn. Có thể soi trực tràng bằng ống soi cứng hoặc ống soi mềm.
1.5.2.2. Sinh thiết qua soi trực tràng
Là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán và kiểm soát các bệnh lý ác tính
của đại trực tràng, nếu sinh thiết âm tính thì phải soi và làm lại sinh thiết.
1.5.2.3. Chụp khung đại tràng cản quang
Trên phim chụp cản quang đại trực tràng, ung thư trực tràng thể hiện là
một hình khuyết nham nhở hoặc một đoạn chít hẹp không đều. Chụp khung
đại tràng còn có thể phát hiện các tổn thương phối hợp ở đại tràng.
1.5.2.4. Định lượng kháng nguyên bào thai ung thư CEA, CA 19 - 9
Độ nhạy và độ đặc hiệu của CEA, CA 19-9 trong ung thư trực tràng đều
thấp, chúng ít khi tăng ở BN ung thư đại tràng kém biệt hoá. CEA, CA 19-9
cũng tăng trong một số trường hợp khác như: bệnh lý gan mật tuỵ, hút thuốc
tầng sinh môn.
- Năm 1873 Verneuil đưa ra kỹ thuật mở đường sau cắt bỏ xương cụt để
mổ cắt cụt trực tràng.
- Năm 1878 Volkmann cắt cụt trực tràng qua đường hậu môn.
- Năm 1908 Miles thực hiện ca phẫu thuật triệt căn đầu tiên phối hợp
đường bụng và tầng sinh môn.
- Năm 1920 Lockhart – Mummery cải tiến kỹ thuật Miles nhằm hạ tỷ lệ
tử vong do sốc, chia cuộc mổ làm hai thì.
- Năm 1921 Hartmann công bố kỹ thuật cắt bỏ u bằng đường mở bụng
đơn thuần, cắt u, nạo vét hạch mạc treo, đóng kín mỏm trực tràng, làm hậu
môn nhân tạo hố chậu trái.
- Năm 1932 Babcock đề xuất kỹ thuật mổ kéo tụt bảo tồn cơ thắt.
20
- Năm 1939 Dixon công bố kỹ thuật mổ cắt đoạn trực tràng qua đường
bụng trước, nối đại tràng – trực tràng còn lại. Phẫu thuật trở thành phương
pháp cơ bản để bảo tồn cơ thắt hậu môn.
- Năm 1950 Toupet đưa ra kỹ thuật đưa ra kỹ thuật mổ đường bụng –
hậu môn, lồng đầu đại tràng đã cắt vào lòng đoạn trực tràng còn lại qua lỗ
hậu môn.
- Năm 1971 Bancon cải tiến kỹ thuật Babcock thêm thì nong hậu môn,
cắt vòng niêm mạc từ đường lược phẫu tích niêm mạc một đoạn qua cơ tròn
rồi cắt ruột.
- Năm 1972 Park công bố kỹ thuật cắt trực tràng nối ngay đại tràng ống hậu môn qua đường mổ bụng - hậu môn.
- Năm 1987 Mallafosse bổ xung, cải tiến kỹ thuật Park đề xuất nối đại
tràng hậu môn kiểu tận bên để tạo bóng hình chữ J.
1.6.2. Các phương pháp phẫu thuật điều trị ung thư trực tràng
Các phẫu thuật ung thư trực tràng chia làm hai nhóm chính [12]
thiết tức thì để lấy hết phần mô bệnh. Kỹ thuật này chỉ định cho những ung
thư sớm, nằm trong khoảng 5 cm cách rìa hậu môn [12],[17], [34].
- Phẫu thuật Miles (cắt cụt TT qua đường bụng và tầng sinh môn)
+ Chỉ định: phẫu thuật này chỉ định cho những ung thư trực tràng mà
bờ dưới u cách rìa hậu môn dưới 6 cm.
+ Kỹ thuật: phẫu thuật thực hiện qua đường mổ bụng và tầng sinh môn,
bao gồm cắt bỏ toàn bộ trực tràng, ống hậu môn và cơ thắt, tổ chức mỡ xung
quanh và nạo vét hạch, cắt bỏ một phần đại tràng sigma, làm hậu môn nhân
tạo vĩnh viễn ở đầu trên đại tràng sigma [12], [17], [34], [68], [83].
- Phẫu thuật cắt đoạn trực tràng
+ Chỉ định: Ung thư trực tràng mà bờ dưới u cách rìa hậu môn trên 6 cm.
+ Cắt toàn bộ mạc treo trực tràng: được Head mô tả năm 1979, sau đó
kỹ thuật cắt bỏ toàn bộ mạc treo trực tràng nhanh chóng trở thành kỹ thuật
tiêu chuẩn để điều trị những ung thư trực tràng cách rìa hậu môn dưới 10 cm
có thể cắt bỏ được. Kỹ thuật này bao gồm thắt mạch sát gốc, phẫu tích tỉ mỉ
cắt bỏ toàn bộ mạc treo trực tràng, cho phép lấy đi một khối gồm mạc treo,
trực tràng kèm khối u và những tế bào di căn nằm trong đó.
+ Kỹ thuật: đối với các u cách rìa hậu môn trên 10 cm, sau khi cắt bỏ
đoạn trực tràng có u, đại tràng sigma, tổ chức tế bào xung quanh và nạo vét
hạch, việc lập lại lưu thông giữa đại tràng xuống và trực tràng được thực hiện
trong cùng một thì mổ bụng đơn thuần. Đối với những u cách rìa hậu môn 6
22
-10 cm, sau khi cắt bỏ đoạn trực tràng có u, việc lập lại lưu thông tiêu hóa
được thực hiện trong cùng một thì mổ với miệng nối đại trực tràng thấp hoặc
đại tràng - ống hậu môn qua đường mổ bụng đơn thuần hoặc qua đường bụng
phối hợp đường hậu môn (pull through). Trong trường hợp này, có thể làm
hậu môn nhân tạo tạm thời ở đại tràng ngang để bảo vệ miệng nối và hậu môn
- Ghi nhận sớm nhất về nội soi là của Hippocrates người Hy Lạp (460370 trước công nguyên), ông đã mô tả cách thức thăm khám trực tràng với 1
cái ống soi trực tràng giống như cái ống soi mà ngày nay đang sử dụng.
- Peter người Pháp năm 1600 đã chế ra gương lõm để phản chiếu và hội
tụ ánh sáng vào cơ quan cần quan sát.
- Năm 1901 Kelling đã sử dụng thiết bị soi bàng quang để soi vào ổ
bụng chó còn sống.
- Kỷ nguyên PTNS ổ bụng được mở ra vào năm 1911 bởi Hans
Christian Jacobaeur, ông đã báo cáo về soi ổ bụng và soi lồng ngực ở người
với 115 bệnh nhân trên tạp chí Munchener Medizinissche Wochenschrift.
- Năm 1938, Janos Veress đã chế tạo thành công loại kim bơm hơi đặc
biệt nhờ có một van an toàn ở đầu, mà khi chọc qua thành bụng đầu kim được
che lại tránh chọc vào mạch máu hay các tạng.
- Cùng với sự phát triển của nguồn ánh sáng, kỹ thuật bơm hơi cũng
ngày được phát triển và cải tiến. Khí ban đầu bơm vào ổ bụng là khí trời, oxy,
nitơ. Đến năm 1924, Richard Jollinkofer khuyên thay bằng CO 2 với nhiều ưu
điểm: an toàn khi sử dụng, hấp thu bởi phúc mạc tốt hơn. Ở nhiệt độ cơ thể
bình thường CO2 khuyết tán vào máu gấp 34 lần Nitơ có cùng thể tích.
- Năm 1933 C.Fervers báo cáo ca PTNS gỡ dính đầu tiên.
- Năm 1966, Hopkins đã chế ra ống soi dùng hệ thống thấu kính hình
que để dẫn ánh sáng. Nhờ vậy, ánh sáng được truyền qua gấp 80 lần so với hệ
thống thấu kính cũ. Ống kính Hopkins cho hình ảnh rõ nét, đẹp hơn và làm
giảm nguy cơ gây bỏng tổ chức.
- Đến những năm 80 của thế kỷ 20, với sự ra đời của camera điện tử,
hình ảnh được đưa lên màn hình rõ nét là yếu tố quan trọng thúc đẩy kỹ thuật
24
nội soi phát triển và trở thành một bước ngoặt cho sự tiến bộ của phẫu thuật
nội soi ổ bụng.
thần kinh tự động vùng chậu (PANP) theo Nguyễn Hoàng Bắc và cộng sự,
PTNS tỏ ra có nhiều ưu điểm và dễ thực hiện hơn so với mổ mở. Khả năng
tình dục không bị ảnh hưởng ở hầu hết bệnh nhân [1].
- Theo nghiên cứu của Phạm Đức Huấn và cộng sự từ tháng 1/2003 đến
10/2006, 66 bệnh nhân bị UTTT được điều trị bằng phẫu thuật nội soi bụng.
Không có tử vong sau mổ, tai biến biến chứng sau mổ chấp nhận được, kết
quả sớm sau mổ là khả quan [13].
- Hà Văn Quyết và cộng sự từ 9/2003 – 9/2007 đã tiến hành PTNS cho
116 trường hợp UTĐTT. Kết quả cho thấy phẫu thuật cắt UTĐTT nội soi là
phẫu thuật an toàn, tỷ lệ tử vong và biến chứng thấp. Ngoài ra phẫu thuật còn
có ưu điểm là ít đau, thời gian phục hồi nhu động ruột và sức khỏe sớm, sẹo
mổ nhỏ [29].
1.6.4. Chỉ định và kỹ thuật cắt cụt trực tràng bằng PTNS trong điều trị
UTTT [1], [2], [12], [31], [34], [70]
* Nguyên tắc phẫu thuật: ngoài các nguyên tắc chung của PTNS,
PTNS trong điều trị UTTT còn có nguyên tắc riêng nhằm tránh di căn tế bào
ung thư.
• Cố định trocart vào thành bụng.
• Không chạm vào khối u trong khi phẫu thuật.
• Thắt các mạch ở sát gốc.
• Biệt lập khối u trước khi đưa ra ngoài.
• Rửa ổ bụng và các vị trí đặt trocart bằng các dung dịch diệt khối u.
1.6.4.1. Chỉ định
• Các u trực tràng cách rìa hậu môn ≤ 6 cm.
• Kích thước khối u không quá lớn (khối u ≤ T3, đường kính u dưới 8 cm).