TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
NGUYỄN THỊ MỸ HIỆP
ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN MÓC Ở CHÓ TẠI
THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ THỬ HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ
Trung tâm Học liệu ĐH CầnTHUỐC
Thơ @TẨY
Tài liệu
TRỪhọc tập và nghiên cứu
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ THÚ Y
Cần Thơ, Tháng 7/2006
MỤC LỤC
Trung
Trang tựa
Trang duyệt
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục bảng
Danh mục hình
Tóm lược
Chương 1: Đặt vấn đề
Chương 2: Lược khảo tài liệu
10 Điều trị
10.1 Mebendazole
10.2 Pyrantel pomoat
10.3 Levamisole
10.4 Ivermectin
Trang iv
Trang
i
ii
iii
iv
vi
vii
viii
1
2
2
2
4
4
4
5
5
nghiên
6
7
7
8
9
19
2 Phương tiện thí nghiệm
19
2. 1 Dụng cụ
19
2.2 Hóa chất
20
3 Phương pháp thí nghiệm
20
3. 1 Kiểm tra phân để tìm trứng giun sán
20
3.1.1 Các bước tiến hành
20
3.1.2 Phương pháp Willis
21
3.1.3 Chỉ tiêu theo dõi
21
3. 2 Phương pháp Mac – Master (áp dụng để thử thuốc)
21
3.2.1 Cách tiến hành
22
3.2.2 Cách tính cường độ nhiễm
22
3.3 Phương pháp mổ khám từng phần của Viện sĩ Skrjabin
22
tâm3.3.1
Học
liệu
ĐH
Cần
26
2. Hiệu quả tẩy trừ
39
Chương 5: Kết luận và đề nghị
41
1 Kết luận
41
2 Đề nghị
41
Tài liệu tham khảo
42
Phần phụ chương
43
Trang v
cứu
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Phát đồ tẩy trừ.
Bảng 2: Tỉ lệ nhiễm chung.
Bảng 3: Tỉ lệ nhiễm và cường độ nhiễm giun móc theo lứa tuổi ở phương pháp
kiểm tra phân .
Bảng 4: Tỉ lệ nhiễm và cường độ nhiễm giun móc theo lứa tuổi theo phương pháp
mổ khám.
Bảng 5: So sánh tỉ lệ nhiễm và cường độ nhiễm giun móc theo giống chó ở
phương pháp kiểm tra phân.
Bảng 6: Tỉ lệ nhiễm và cường độ nhiễm giun móc giữa hai phương thức nuôi theo
phương pháp kiểm tra phân.
pháp kiểm tra phân.
Hình 8: Tỉ lệ nhiễm giun móc theo giới tính giữa hai phương pháp kiểm tra phân
và mổ khám.
Hình 9 : So sánh tỷ lệ nhiễm giun móc theo trạng thái phân ở phương pháp kiểm
tra phân.
Hình 10: So sánh tỉ lệ nhiễm giữa các loài giun móc ký sinh trên chó ở phương
pháp kiểm tra phân.
Hình 11:Tỷ lệ thành phần loài giun móc ký sinh ở chó ở phương pháp mổ khám.
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Hình 12: Kết quả tình hình nhiễm ghép của giun móc qua phương pháp kiểm tra
phân.
Hình 13: Kết quả tình hình nhiễm ghép giun móc qua phương pháp mổ khám.
Trang vii
TÓM LƯỢC
Qua kiểm tra 220 mẫu phân và mổ khám 30 con chó. Chúng tôi có một số
nhận xét như sau:
- Đối với phương pháp kiểm tra phân: Tình hình nhiễm giun móc ở Thành
phố Cần Thơ khá cao, chiếm tỉ lệ 60,45%. Trong đó chúng tôi nhận thấy:
+ Chó từ 1-4 tháng tuổi nhiễm giun móc với tỉ lệ 73,84%; chó từ 512 tháng tuổi nhiễm với tỉ lệ 59,46% và chó từ >12 tháng tuổi nhiễm với tỉ lệ
49,38%.
+ Tỉ lệ nhiễm cao 80,10% đối với giống địa phương; và giảm dần ở
giống lai 55,7% và giống ngoại chiếm tỉ lệ 45,56%.
+ Tỉ lệ nhiễm theo phương thức nuôi cho thấy chó nuôi thả rong
67,59% cao hơn đối với những con chó nuôi theo phương thức nhốt 53,57%.
+ Tỉ lệ nhiễm theo giới tính thì những con chó cái chiếm tỉ lệ
66,12% cao hơn so với những con chó đực 53,53%.
7 con chó, nhận thấy rằng thuốc Ivermectin có hiệu quả tốt hơn Levamisole.
Trang viii
Chương 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trung
Hiện nay việc nuôi chó không chỉ là tập quán của người dân mà còn là
nhu cầu phục vụ đời sống con người như nuôi chó để làm cảnh, làm bạn, bảo
vệ an ninh quốc phòng và tài sản người dân.
Do nuôi chó với mục đích đa dạng và phổ biến như vậy nên số lượng
chó nuôi ngày càng tăng đặc biệt chó nghiệp vụ và chó cảnh được nuôi nhiều ở
thành phố. Song song với số lượng chó nuôi tăng lên kéo theo các dịch bệnh ở
chó ngày càng nhiều. Trong các bệnh gây nguy hiểm cho chó thì bệnh giun
móc (Ancylostoma caninum, Ancylostoma braziliense, Uncinaria stenocephala )
ngoài ảnh hưởng đến chó nuôi là làm cho chó gầy còm, chậm lớn, giảm sức đề
kháng và làm tiền đề cho các vi khuẩn xâm nhập và gây hại. Bên cạnh đó bệnh
giun móc ở chó còn ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. (Monnig. H.O, 1949).
Xuất phát từ nhu cầu thực tế và từng bước bảo vệ sức khỏe cho đàn chó
nuôi, được sự chấp thuận của Bộ Môn Thú Y, Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học
Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ, chúng tôi thực hiện đề tài: “ĐIỀU TRA
tâm
Học
liệu
ĐH Cần
Tài TẠI
liệuTHÀNH
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trung
1 Tình hình nghiên cứu giun móc ở nước ngoài.
Islam; AWMS; HGB (1983), nghiên cứu sự lưu hành của giun sán ký
sinh ở chó tại Lusaka, Zambia. Giữa tháng 5/1980 và tháng 4/1982 đã kiểm tra
85 con chó nhà địa phương cho thấy có 40% chó bị nhiễm với một hay nhiều
loài giun sán ký sinh. Trong đó, loài Ancylostoma caninum (8%), Ancylostoma
braziliense (2%).
Sự lưu hành bệnh giun sán ký sinh ở đường tiêu hoá của chó trong vùng
nông thôn ở Negeria, theo các tác giả Basa- SS; Ogunkoya-AB; Ezeocoli- CD
(1983), tại Chori, Bắc Nigeria, đã kiểm tra 144 chó thì thấy có 61 con nhiễm
Ancylostoma caninum (42,4%). Tỉ lệ nhiễm có khuynh hướng cao trong mùa
mưa, Ancylostoma caninum lưu hành suốt cả mùa ẩm ướt và mùa khô.
Shien-YS; Jou-SR; Wong - CW; Ni-WJ; Lin-SY (1983) thấy rằng
những chó nuôi ở vùng Taipei, Đài Loan, trong số 4900 chó tại bệnh xá ở Đài
Loan thì hầu hết thường nhiễm bệnh ký sinh trùng vào giữa tháng 6/1978 và
tâm
Học
liệu
ĐH giun
Cầnmóc
Thơ
@ Tài
tập hết
vànhững
cứu
Trung
• Uncinaria stenocephala 41,17%
Theo Trịnh Văn Thịnh và Phạm Văn Khuê, 1982. Tỉ lệ nhiễm giun móc
ở chó săn là 75 – 82% . Tỉ lệ này tùy thuộc theo lứa tuổi và giống chó.
• Chó sơ sinh đến 4 tháng tuổi nhiễm 82%
• Chó 6 – 12 tháng tuổi nhiễm 75%
• Chó lớn nhiễm 74%
• Chó ngoại nhiễm 83%
• Chó nội nhiễm 63%
Theo Phạm Văn Khuê, 1967. Tỉ lệ nhiễm giun móc cao và thường gây
bệnh nhất là ở chó con, giun móc đẻ rất nhiều trứng, do vậy rất dể tìm thấy
trứng trong phân.
Theo nghiên cứu của nhiều tác giả như Trịnh Văn Thịnh, 1982; Lương
Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1996; Kolevatova.AL, 1959; Georgi.Jay. R,
1969; Fraser.CM, 1986.
• Ở 23 – 300 C thích hợp nhất cho trứng và ấu trùng phát triển
• Ở 12 – 170C toàn bộ trứng và ấu trùng ngừng phát triển
• Ở 400C trứng và ấu trùng bị diệt rất nhanh
Theo Nguyễn Văn Nghĩa (1998) tiến hành nghiên cứu tình hình nhiễm
giun móc ở Thành phố Cần Thơ, kết quả kiểm tra 280 mẫu phân và mổ khám
tâm
Học
ĐHnhư
Cần
@ Tài
tậpVàvàthành
cứu
Trung
Theo Văng Phước Hậu (2000), điều tra tình hình nhiễm giun sán ký sinh
ở đương tiêu hóa chó và thử hiệu lực thuốc tẩy Ivermectin trên chó tại thị xã
Vỉnh Long, tỉnh Vỉnh Long xét nghiệm 180 mẫu phân và thử nghiệm tẩy trừ 64
chó nuôi tại thị xã Vỉnh Long, tỉnh Vỉnh Long, nhận thấy tỉ lệ nhiễm giun sán
là 71,11%. Về thử hiệu lực thuốc Ivermectin 0.1% cho thấy hiệu quả 100%.
Theo Skrjabin.K.I, Petro ấu trùng chưa cảm nhiễm thì không rời khỏi
đóng phân, còn ấu trùng cảm nhiễm thì rời khỏi đóng phân và có khả năng
không những di chuyển thắng đứng theo ngọn cỏ.
3 Đặc điểm chó nuôi ở nước ta
3.1 Nguồn gốc và phân loại chó
Chó là một động vật có vú, ăn thịt. Được loài người nuôi dưỡng như là
người bạn đồng hành, cách đây ít nhất 12 ngàn năm. Là một trong những loài
vật được nuôi dưỡng sớm nhất, nuôi trong nhà. Theo Đac uyn tổ tiên của loài
chó ngày nay có nguồn gốc từ giống chó xám (canis pulus) sống rãi rác ở nhiều
nơi, tập trung nhiều nhất là ở vùng Bắc cực và được thuần hóa nhiều nơi trên
thế giới chứ không riêng ở vùng nào.
Thủy tổ của chúng ngày xưa được người ta nuôi để giữ gia súc. Có thể
đầu tiên con người huấn luyện chúng vào mục đích ấy.
Bề ngoài của những giống chó ngày nay không khác gì giống chó xám
ngàyHọc
xưa. Tuy
quáThơ
trình @
nuôiTài
Chó miền núi cao có tầm vóc to con, tai vểnh quen với khí hậu vùng
cao.
Trang 4
cứu
Trung
Ngoài ra, còn có những giống chó địa phương khác có mặt ở khắp các
vùng quê như chó Mực với bộ lông đen tuyền, chó Trắng, chó Vá, chó Đốm,
chó Khoang...dùng giữ nhà và lấy thịt.
3.2.2. Chó nhập nội được nuôi ở nước ta như
Chó Berger: thân hình cao to, tai vểnh chuyên làm nhiệm vụ giữ nhà,
canh kho tàng và làm nhiệm vụ an ninh quốc phòng....
Chó bông Nhật: đây là giống chó cảnh có bộ lông dài xoăn hoặc không.
Màu lông trắng tinh đôi khi có một vài đốm nâu, đen...Thân hình nhỏ nhắn,
hiền lành. Hiện nay được nuôi nhiều ở thành phố đáp ứng yêu cầu làm cảnh và
giữ nhà.
Chó xù Bắc Kinh: ngoại hình giống như chó Nhật nhưng tầm vóc nhỏ
hơn. Bộ lông dài, lượn sóng có màu trắng tinh hay vàng, nâu ...tính tình hiền
lành được dùng làm cảnh.
Nhìn chung, chó nuôi ở nước ta hiện nay rất đa dạng về giống và mục
đích sử dụng.
3.3 Một số hằng số sinh lý
Theo Hồ Văn Nam, 1982. Giáo trình chẩn đóan bệnh không lây ở gia
súc, nhà xuất bản Nông Nghiệp thì
Thân nhiệt bình thường của chó trưởng thành là 380C – 38,50C. Chó con
0
là 38.5
Thời gian mang thai 58 – 64 ngày
Chó mẹ có sữa trước khi đẻ 4 – 5 ngày
4 Sơ lược về giun móc và bệnh giun móc ở chó
Trang 5
cứu
Trung
Bệnh giun móc ở chó chủ yếu do các loài giun thuộc họ
Ancylostomatidae gây ra, là một trong những bệnh thường thấy và gây tác hại
cho nhiều loài gia súc đặt biệt là chó. Giun móc thường có ba loài
• Ancylostoma caninum
• Ancylostoma braziliense
• Uncinaria stenocephala
Hai lòai Ancylostoma caninum, Ancylostoma braziliense thuộc lớp
Nematoda, họ Ancylostoma, họ phụ Ancylostomatinae Looss, 1905, bộ phụ
Strongulata, giống Ancylostoma Dubini (1843).
4.1 Ancylostoma caninum
4.1.1 Sơ lược về Ancylostoma caninum
Ancylostoma caninum (Ercolani, 1859) Hall, 1913 đã tìm thấy ở ruột
non chó, cáo, chó sói đồng cỏ, chồn, gấu, và các loài thú rừng ăn thịt trên thế
giới. Có những báo cáo cho rằng ít thấy ở người và heo nhưng giá trị phát hiện
chưa được chắc chắn. Đây là loài giun móc ký sinh phổ biến ở chó tại các tiểu
bang của Mỹ. Chẳng hạn, Cooperider (1952) đã thấy chó nhiễm với tỉ lệ 86%,
trong số 50 chó tại bệnh xá thú y ở Goorgia, Mann (1955) chó nhiễm với tỉ lệ
22%, trong tổng số 100 chó thả rong tại New Jersey, Ehrenfor (1953) chó
nhiễm với tỉ lệ 51% trong tổng số 377 chó tại Ấn Độ và các vùng phụ cận,
đôi răng lớn hình chìa khóa cong về phía trong. Từ đáy bao miệng có lớp phủ
Trang 6
cứu
Trung
thực quản bằng chitine lồi lên, con đực có túi đuôi, con cái có âm hộ nằm ở
giữa thân sau.
Giun trưởng thành ký sinh ở ruột non, hút máu. Túi miệng bám chặt vào
niêm mạc làm tổn thương niêm mạc ngoài ra còn tiết độc tố có tác dụng ức chế,
phá hoại khả năng của cơ quan sinh huyết, phá vở hồng cầu, làm máu không
đông (Đỗ Dương Thái và Nguyễn Thị Minh Tâm, 1978; Trịnh Văn Thịnh,
1982).
4.1.2 Hình thái Ancylostoma caninum
Ancylostoma caninum: Bao miệng mỗi bên có ba đôi răng chia ba
nhánh, con đực dài 9 – 12 mm, đuôi phát triển có túi chitine, spicule dài bằng
nhau và bằng 0,74 – 0,87 mm, đọan cuối nhọn, bánh lái dài 0,13 – 0,21 mm,
âm hộ nằm 1/3 thân sau. Trứng hình bầu dục, hai đầu thon đều, có hai lớp vỏ
mỏng, trứng mới thải ra ngoài bên trong có 4 – 8 tế bào phôi. Kích thước
trứng 0,06 – 0,066 mm × 0,037 – 0,042 mm.
Mỗi giun cái có thể đẻ từ 7700 đến 28000 trứng trong một ngày
(Norman. D. Levin, 1977). Một cách tổng quát sự hiện diện của giun cái nhiều
hơn giun đực. Roche và Patek (1966), đã tìm thấy tỉ lệ 1.3:1.0 ở 57 chó, tỉ lệ
nhiễm có khuynh hướng gia tăng cao theo tuổi nhiễm và giảm ở vị trí gần cuối
đường tiêu hóa.
Sự phát
Ancylostoma
trong số họ có số lượng giun lần lượt sau 297, 125 và 104.
4.2.2. Về hình thái Ancylostoma braziliense.
Trang 7
cứu
Trung
Giun ký sinh ở ruột non chó, mèo, có khi ở người và hổ, báo. Loài này
nhỏ hơn Ancylostoma caninum. Bao miệng chỉ có một đôi răng không phân
nhánh. Con đực dài 6 – 6,75 mm, con cái dài 7 – 10 mm. Trứng giống như
Ancylostoma caninum nhưng kích thước lớn hơn. Trứng Ancylostoma
braziliense dài 0,075 – 0,095 mm × 0,041 – 0,045 mm.
Mỗi giun cái có thể đẻ được khoảng 4000 trứng trong một ngày
(Norman D. Levin, 1977).
4.3 Uncinaria stenocephala
4.2.1 Sơ lược về Uncinaria stenocephala
Uncinaria stenocephala thuộc lớp Nematoda, họ phụ Bunostomatinae
Looss, 1911; bộ phụ Ancylostoma, giống Uncinaria ( Fohlich, 1789), trong đó
loài điển hình là Uncinaria stenocephala (Railliet, 1884). Đặc điểm của giống
Uncinaria phần trước cong về phía lưng. Bao miệng hình phểu có hai mãnh
nghiền cắt phía bụng, hình bán nguyệt ở rìa miệng. Trong đáy bao miệng có hai
lưỡi mác phía gần bụng. Không có nón lưng.
Uncinaria stenocephala (Railliet, 1884) là loài giun móc ở thú ăn thịt
vùng Cực Bắc. Giun ký sinh ở ruột non chó, mèo, cáo, chồn và các thú ăn thịt
khác. Đây là loài đã tìm thấy ở Bắc Mỹ, Châu Âu và ở Úc. Theo Cameron
(1951) nó chỉ là loài giun móc ở chó tại Anh và ở Canada, Ehrenfor (1953)
thấyHọc
Bệnh giun móc ở chó là bệnh lây lan trực tiếp không qua vật chủ trung
gian, bệnh tiến triển qua hai giai đoạn
Trang 8
cứu
• Phát triển ở môi trường bên ngoài
• Phát triển bên trong cơ thể ký chủ
5.1 Phát triển ở môi trường bên ngoài
Ấu trùng giun móc phát triển ở bên ngoài theo sơ đồ sau:
Trứng
Hình thành ấu trùng trong trứng
Trứng nở
Ấu trùng giai đoạn 1
2 – 8 ngày
Lột xác lần 1
Trung
Ấu trùng giai đọan 2
Lột sát lần 2
Ấu trùng giai đoạn 3
(Georgi. Jay . R, parasitology for veterinarians, 1969)
Trứng theo phân thải ra ngoài gặp điều kiện nhiệt độ, ẩm độ thích hợp.
Sau 20 giờ đến một vài ngày hình thành ấu trùng trong trứng. Ấu trùng chui ra
5.2 Phát triển bên trong cơ thể
Giun trưởng thành
(Ký sinh ở ruột non)
Ấu trùng gây nhiễm L3
(sống trong phân, đất)
3 tuần
Di trú theo đường khí quản
L3 qua da
Di trú trong cơ thể chó mang
thai
Tử cung
(ngày thứ 11)
Di trú trong niêm mạc ruột
Trung
L3 qua
đường tiêu hóa
2 – 3 tuần
(Georgi. Jay . R, parasitology for veterinarians, 1969).
Ấu trùng
khi gia
nhập@
đường
Trung
sau đó về ruột lột xác hai lần. Sau 14 – 20 ngày trở thành giun trưởng thành và
đẻ trứng trong phân. (Dương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1996).
Trong khi cho con bú ấu trùng trong máu chó mẹ sẽ truyền qua sữa và
gây nhiễm cho chó con. (Trịnh Văn Thịnh, 1982; Fraser.C.M, 1986;
Kolevatova.AL., 1959).
6 Tác hại của giun móc
6.1 Về tác hại của giun móc đối với cơ thể vật chủ
Theo các tác giả Clarence (1996); Georgi. Jay. R. (1977); Đỗ Dương
Thái, Vi Kim Ngọc (1978), Trịnh Văn Thịnh, Phan Trọng Cung, Phạm Văn
Khuê và Phan Lục (1982) trong quá trình ký sinh giun móc gây ra những biến
đổi bệnh lý ở chó do hai yếu tố: tác động cơ học và ảnh hưởng độc tố.
Giun móc có bao miệng phát triển lại được trang bị các mảnh chitine do
đó mà giun bám chắc vào niêm mạc ruột gây chảy máu mao mạch. Ấu trùng và
giun trưởng thành còn phá huỷ các mô cuả cơ thể trong quá trình di chuyển của
chúng ở tổ chức ruột và tổ chức dưới da.
Kolevatora. A.I (1959) thấy trên lớp sừng của biểu bì có những lổ thủng
khi ấu trùng giun móc chui qua để xâm nhập vào cơ thể chó. Ngoài ra ấu trùng
còn thấy ở trong bao lông, theo chân lông vào da và lớp dưới da giữa các hạt
mỡ. Khi chui qua da, ấu trùng từ 6-9 giờ đã có thể xâm nhập vào dạ dày di
chuyển
theoliệu
tuầnĐH
hoàn Cần
máu vàThơ
phần @
lớn chúng
Trung
Theo Phạm Sĩ Lăng và Phan Địch Lân, 2001. Theo dõi và điều trị 147
trường hợp chó nghiệp vụ và chó cảnh, có 67 trường hợp ở thể cấp tính chiếm
tỉ lệ 46,60% và 80 trường hợp ở thể mãn tính, chiếm tỉ lệ 54,40%.
Chó bị bệnh giun móc thường xảy ra ở hai thể:
• Thể cấp tính: Thường thấy ở chó con từ 1 – 4 tháng tuổi. Chó nôn
mữa liên tục ăn kém hoặc bỏ ăn, tiêu chảy. Trường hợp nặng chó nôn ra máu
tươi, tiêu chảy nặng phân có lẫn máu tươi hoặc màu đen như bã cà phê, chó bị
rối loạn chức năng tiết dịch và co bóp của dạ dày dẫn đến viêm dạ dày ruột cấp.
Chó chết do tiêu chảy mất máu, mất chất điện giải, trụy tim.
• Thể mãn tính: triệu chứng thể mãn tính giống như thể cấp tính
nhưng thể hiện ở mứt độ thấp hơn và thời gian ngắn hơn. Chó có hội chứng
thiếu máu, chảy máu ruột, sau vài tháng triệu chứng này giảm đi chỉ còn hiện
tượng gầy còm, thiếu máu, thỉnh thoảng nôn khan.
Bệnh tích: mổ khám thấy giun cấm sâu vào niêm mạc ruột nhất là đoạn
không tràng. Ruột xuất huyết, niêm mạc ruột sưng và có chất dịch nhầy có khi
niêm mạc ruột viêm cata và loét, xuất huyết chảy máu. Gan có màu nâu sáng,
hóa mỡ.
8 Chẩn đoán
• Dựa vào triệu chứng lâm sàng.
tâm Học •liệu
Cần
@trứng
Tàigiun
liệumóc
học
và pháp
nghiên
Công thức
O
C
N
NHCO – OCH 3
N
H
Trung
10.1.1 Tính chất
Thuốc ở dạng bột vô định hình, màu vàng nhạt, tan rất ít trong nước và
dung môi hữu cơ. Không hút ẩm, ổn định ở không khí.
Khi uống do thuốc rất ít được hấp thu ở ống tiêu hóa nên ít tác dụng
phụ. Sau khi uống từ 2 – 4 giờ, thuốc đạt nồng độ tối đa trong huyết tương chỉ
khoảng 0,3% so với liều uống. Khi được hấp thu, thuốc gắn mạnh vào huyết
tương. Thời gian bán giã từ 6 đến 9 giờ. Nếu bị suy gan, thời gian bán giã thuốc
kéo dài. Thuốc được thải chủ yếu qua phân sau 24 giờ. Chỉ 5 – 10% liều uống
được thải qua nước tiểu.
Mebendazole là thuốc tổng hợp từ benzimidazole có tác động chống
giun sán rất rộng và ít tai biến.
10.1.2 Cơ chế
Ức chế
sự ĐH
tổng hợp
vi quản
của ký
sinhtập
trùngvà
Trung
Là dẫn xuất từ tetrahydropirimidin, rất có hiệu quả trên giun kim, giun
đũa, giun móc và không có tác dụng trên giun lươn.
10.2.1 Sự chuyển hóa
Pyrantel ở dạng tartrat được hấp thu tốt và chuyển hóa nhanh trên chó.
Thuốc đạt nồng độ hữu hiệu trong huyết tương sau 2 – 3 giờ. Có khoảng 40%
liều sử dụng được thải ra ngoài qua nước tiểu. Khoảng 50% lượng thuốc được
thải qua phân dưới dạng không biến đổi. Pyrantel dứơi dạng muối pamoat rất ít
được hấp thu phần lớn thải ra ngoài theo phân. Dạng này chỉ điều trị các loại
giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa.
10.2.2 Độ độc
Pyrantel pomoat rất an toàn. Trên chó có thể sử dụng liều 1,450 mg/kg
thể trọng mới có dấu hiệu biểu hiện độc. Thuốc có thể gây độc cho những con
đang mang thai.
10.2.3 Cơ chế
Thuốc có tác dụng lên dạng trưởng thành và chưa trưởng thành của ký
sinh trùng, nhạy cảm với thuốc ở đường ruột nhưng không tác động ở giai đoạn
di trú của ký sinh trùng.
Ức chế dẫn truyền sung động đến thần kinh cơ làm liệt cơ của giun và
nhờ nhu động ruột đưa giun ra ngoài cơ thể.
Pyrantel
như Thơ
là chất @
phong
tỏaliệu
khử cực
thần
kinhvà
Trang 15
cứu
Thuốc được hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa hay tiêm. Tiêm được hấp
thu nhanh và có nồng độ trong máu cao hơn. Thời gian bán thải lớn hơn 4 giờ.
Thuốc nhanh chống thải ra ngoài qua nước tiểu 46%, qua phân 32% trong 24
giờ đầu. Thải qua hơi thở dưới dạng nguyên vẹn hay biến đổi.
10.3.3 Tồn lưu
Thuốc chỉ có mặt trong thịt sau 3 ngày và 1 ngày trong sữa sau khi
ngừng điều trị
10.3.4 Cách dùng: cho uống.
Liều lượng: 7 – 12 mg/kg thể trọng, 1 lần trong ngày, liên tiếp 3 – 7
ngày (Donal. C. plumb, 1991).
Chú ý
• Không dùng cho gia súc bị suy gan, suy thận.
• Liều độc so với liều điều trị gấp 5 – 6 lần.
10.4 Ivermectin
Trung tâm
Công thức
Với Dihydroavermectin B1a thay R = C2H5
Với Dihydroavermectin B1b thay R = CH 3
Lactose
– 23 @
dihydro
Học
liệumacrocylique,
H
H
CH3
H
O
OH
O
H
HO
O
H
H
CH 3
H
10.4.1 Nguồn gốc
Được lấy ra từ nấm men Streptomyces avermitilis. Chất bột kết tinh,
màu vàng nhạt, không tan trong nước, nhưng tan mạnh trong dung môi hữu cơ.
Ivermectin là hổn hợp gồm 80% Dihydroavermectin B1a
và 20%
Dihydroavermectin B1b. Thuốc có tác dụng trị tất cả các giun tròn ký sinh.
Trang 16
liệtliệu
rồi chết.
tâm
Thơ
Tài
học tập và nghiên
Liều lượng: Chó 0,1 – 0,2 ml/kg thể trọng. Tiêm dưới da.
Trang 17
cứu
Chương 3
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
1
Sơ lược về Thành phố Cần Thơ
1.1 Thời gian và địa điểm tiến hành thí nghiệm
Thời gian: Từ ngày 27/03/2006 đến ngày 12/7/2006.
Đại điểm: Lấy mẫu ở hộ dân thuộc Thành phố Cần Thơ.
Được thực hiện tại Thành phố Cần Thơ. Trước khi tiến hành điều tra
tình hình nhiễm giun móc ở chó tại Thành phố Cần Thơ, chúng tôi tìm hiểu
một số đặc điểm của Thành phố Cần Thơ có liên quan đến tình hình nhiễm
giun móc ở chó tại nơi đây. Những đặc điểm bao gồm:
1.2 Điều kiện tự nhiên Thành phố Cần Thơ
Thành phố Cần Thơ là trung tâm đầu mối giao thông của 12 tỉnh Đồng
Bằng Sông Cửu Long, nơi tập trung đông dân cư, là trung tâm văn hóa khoa
học kỷ thuật và là nơi ngành trồng trọt và chăn nuôi phát triển.
đó chó nội chiếm tỉ lệ nhiều nhất, nhưng càng ngày người ta có xu hướng nuôi
tâm
liệu hơn.
ĐHNhưng
Cần hầu
Thơ
Tài
liệu
vàtiêm
nghiên
chó Học
ngoại nhiều
như@
chưa
quan
tâm học
nhiều tập
đến việc
ngừa
và tẩy giun sán.
Chăn nuôi chủ yếu sống trong nhà với chủ và thả rong, cách chăn nuôi
này thường gặp ở giống chó địa phương. Còn những giống chó ngoại chủ yếu
nuôi nhốt và bán nuôi nhốt.
2 Phương tiện thí nghiệm
2.1 Dụng cụ
- Cân
- Buồng đếm Mac – Master
- Cốc thủy tinh có mỏ:50 ml, 100ml
- Ống đong thủy tinh 60ml
- Đũa khuấy, đĩa petri