tự do hóa tài chính - Pdf 48

I)Cơ sở lý luận
1)Khái niệm
2)Bản Chất
3)Hạt nhân
Hạt nhân của tự do hóa tài chính là tự do hóa lãi suất : Trong tự do hố tài chính , lãi suất do thị trường
quyết định và phải là lãi suất thực dương vì chỉ khi đó các ngân hàng mới có thể cạnh tranh để thu hút
các nguồn tiết kiệm. Lãi suất thực dương cũng thúc đẩy người đi vay đầu tư có hiệu quả và nhờ đó
tăng hiệu quả của tồn bộ nền kinh tế.
Cần thiết phải kiểm sốt q trình tự do hố lãi suất , gắn liền với các cơ cấu :
Cơ cấu lại các khoản nợ khó đòi trong bảng cân đối ngân hàng.
Tiến hành tư nhân hố một số ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước.
Áp dụng các biện pháp kích thích cạnh tranh lành mạnh trong khu vực ngân hàng.
>> Lãi suất trong các giao dịch bán bn được tự do hóa trước tiên, tiếp theo là lãi suất cho vay và
cuối cùng là lãi suất tiền gửi . Trật tự này nhằm bảo đảm cho các ngân hàng có lợi nhuận và các doanh
nghiệp, người dân có thời gian thích nghi với tự do hố.
4)Tích cực và hạn chế
a) Tích cực Q trình này giúp tạo ra một mơi trường minh bạch, linh hoạt và hiệu quả cho
hệ thống tài chính, thu hút đầu tư, kích thích sự cạnh tranh lành mạnh, mang lại động lực phát
triển, khả năng tiếp cận cơng nghệ mới cho các tổ chức tài chính trong nước cũng như cơ hội sử
dụng các dịch vụ tài chính đa dạng, chất lượng cao cho người dân nước bản địa.
a. Tự do hố tài chính sẽ tăng thêm áp lực cạnh tranh làm cho khu vực dịch vụ tài chính
hoạt động có hiệu quả và ổn định hơn, đồng thời giúp các tổ chức tài chính nội địa có điều kiện
cải thiện năng lực quản lý.
b. Tự do hố tài chính sẽ làm tăng thêm chất lượng các dịch vụ tài chính được cung cấp (do
sự độc quyền bị loại bỏ). Người tiêu dùng có thể được hưởng những sản phẩm dịch vụ mới, đa
dạng, tiện ích với chi phí và thời gian ít nhất.
c. Tự do hố các dịch vụ tài chính đem đến nhiều cơ hội cho việc chuyển giao cơng nghệ và
làm giảm thiểu những rủi ro có tính hệ thống.
d. TỰ do hố các dịch vụ tài chính tạo điều kiện cho việc thiết lập một chính sách kinh tế vĩ
mơ có hiệu quả hơn phù hợp với những điều kiện trong một nền kinh tế mở, trên cơ sở đó thực
hiện phân phối nguồn lực một cách có hiệu quả trên cơ sở khai thác tối đa lợi thế kinh tế trong

năm 70, khủng hoảng tiền tệ ở Mexico năm 1994 - 1995 và Thailand năm 1997 .Những cuộc
khủng hoảng như vậy đã làm cho chính phủ của các nước Đông Nam á tỏ ra thận trọng khi cân
nhắc vấn đề cải cách, mở cửa và tự do hoá tài khoản vốn.
Tuy nhiên, theo nhiều nhà nghiên cứu, việc mở cửa thị trường tài chính, bản thân nó thực
chất không phải là nguyên nhân sâu xa dẫn đến khủng hoảng tài chính - ngân hàng . Việc cải cách
hệ thống tài chính và tự do hoá có chăng chỉ lật tẩy và làm trầm trọng thêm những yếu kém trong
thẻ chế và các chính sách tài chính vĩ mô vốn dĩ đã tiềm ẩn, và do đó làm tăng thêm rủi ro của
việc dẫn đến khủng hoảng tài chính. Những cải cách tài chính theo hướng mở cửa đã diễn ra ở
những nước này thực chất không gây cản trở hoặc làm phương hại đến lợi ích thực thụ, mà chỉ
góp phần phơi bày những điểm yếu của hệ thống tài chính nội địa trước những điều kiện của hệ
thống tài chính quốc tế mà thôi.
Năm 1995, hai nhà nghiên cứu Kamisky và Reinhart và một số nhà nghiên cứu khác đã xác
định một loạt các nhân tố đằng sau những vụ đổ vỡ ngân hàng trên thế giới. Những nhân tố này
gồm: sự không ổn định có tính vĩ mô như sự thất thường của hoạt động thương mại; tính áp đặt
2
trong chính sách tỷ giá và lãi suất; sự bùng nổ của hoạt động cho vay; sự sụt giá tài sản, sự du
nhập vốn một cách ồ ạt; sự chuẩn bị chưa kỹ lưỡng để sẵn sàng tiến hành mở cửa, và sự khơng
tn thủ tính logic và trình tự của những cải cách tài chính.
Nói cách khác, ngun nhân chính của các cuộc khủng hoảng tài chính lại chính là những
yếu kém tiềm ẩn của hệ thống ngân hàng, sự thiếu lành mạnh của hệ thống chính sách quản lý vĩ
mơ, sự thiếu vắng của một chế độ giám sát, kiểm tra có hiệu quả và sự sai lệch trong đường lối
cải cách, chứ khơng phải xuất phát từ bản thân q trình tự do hố tài chính.
Thứ hai: tài chính thường được coi là cơng cụ quản lý chiến lược và là lĩnh vực đặc biệt
cần được nắm giữ bởi Nhà nước để tập trung thực hiện những mục đích quan trọng của một quốc
gia. Việc mở cửa thị trường tài chính có thể có nguy cơ làm xao nhãng hoặc thiếu tập trung trong
việc điều hành để thực hiện những mục tiêu đó vì các tổ chức, doanh nghiệp nước ngồi sẽ khơng
quan tâm đến một mục đích nào khác hơn là mục đích lợi nhuận. Đặc biệt, trong điều kiện hệ
thống tài chính nội địa có khả năng cạnh tranh kém, nền tài chính có nguy cơ bị thống trị bởi các
tổ chức, doanh nghiệp tài chính nước ngồi thì quyền lực kiểm sốt, khống chế và điều khiển thị
trường tài chính của Nhà nước sẽ dần bị thu hẹp lại, và do đó có thể phương hại đến mục tiêu

a)Trung Quốc
Cũng giống một số nước khác, vào năm 1994, Trung Quốc đã cố định tỷ giá 8,28 nhân dân tệ đổi 1
đơla Mỹ. Với tỷ giá này, đồng nhân dân tệ đã bị định giá thấp, nhưng tạo được lợi thế xuất khẩu gia
tăng. Kể từ đó thặng dư mậu dịch và dữ trữ ngoại hối liên tục gia tăng. Con số kỷ lục được thiết lập
vào năm 2006 với thặng dư ngoại thương lên đến 177,6 tỷ đơla (08/01/2007), dự trữ ngoại hối vượt
1.000 tỷ đơla.Vào ći tháng 7/2005 Trung Quốc đã quyết định bỏ chế độ tỷ giá cố định, cho phép
đồng Nhân dân tệ dao động linh hoạt hơn. Nhưng điều này có vẻ vẫn chưa làm hài lòng các chính trị
gia cũng như các nhà đầu tư. Thực tế cho thấy, sau 18 tháng, đồng Nhân dân tệ chỉ tăng giá vào
khoảng 6%, thấp hơn mức người ta kỳ vọng rất nhiều.
Khơng phải ngẫu nhiên mà Trung Quốc có được vị thế như hiện nay mà song song với q trình cải
cách kinh tế, họ đã thực hiện một q trình cải cách và tự do hóa tài chính một cách hợp lý qua 5 giai
đoạn khác nhau mà bắt đầu bằng việc tự do hóa lần đầu tiên trong những năm 1978-1986, đến giai
đoạn tự do hóa và mở cửa ngành tài chính sau khi gia nhập WTO vào năm 2001.
Trong q trình tự do hóa tài chính của mình, khơng phải lúc nào cũng sn sẻ đối với Trung Quốc,
sau cuộc khủng hoảng năm 1997, sức ép phá giá lên đồng Nhân dân tệ rất nhiều, nhưng nhờ sức mạnh
sẵn có của nền kinh tế cộng với một lượng ngoại tệ dữ trữ tương đối lớn (gần 150 tỷ đơla) mà Trung
Quốc đã thành cơng trong việc duy trì chính sách tỷ giá của mình.Điều đáng chú ý ở đây là trong vòng
10 năm qua, Trung Quốc đã tung ra số Nhân dân tệ bằng 40% cung tiền để mua vào gần 1.000 tỷ đơla
giá trị ngoại tệ mạnh, nhưng lạm phát bình qn chưa đến 1%, trong khi tốc độ tăng cung tiền lên đến
16% và tốc độ tăng dữ trữ ngoại hối trên 24%. Với vị thế của mình, Trung Quốc đang thực hiện một
tiến trình cải cách tỷ giá hối đối và tự do hóa tài chính một cách chủ động.
Đối với Trung Quốc đã xây dựng lộ trình tự do hóa tài chính dựa trên cách tiếp cận của ADB (ADB
dựa vào rủi ro để đánh giá và xây dựng lộ trình tự do hóa tài chính với mục tiêu cuối cùng là tự do hóa
tài khoản vốn ). Trình tự mở cửa thị trường tài chính của Trung Quốc được xây dựng trên cơ sở thừa
nhận sự yếu kém của hệ thống tài chính ngân hàng, đánh giá mức độ rủi ro và thực hiện tự do hóa thận
trọng, đầu tiên là khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngồi, tiếp theo là đầu tư gián tiếp nước ngồi
vào TTCK, cuối cùng là tự do hóa các khoản vay nợ nước ngồi, cụ thể là:
- Giải quyết nợ xấu để hạn chế rủi ro cho các ngân hàng;
- Xây dựng thể chế để có hệ thống luật pháp cơng khai minh bạch;
- Từng bước tự do hóa tài chính nội địa;

quả khôn lường.
Sau cuộc khủng hoảng này, tuy có một số biện pháp xiết chặt, nhưng nhìn chung tài khoản vốn vẫn coi
như được tự do cộng với một cái mới là tỷ giá được thả nổi. Sự lo lắng đã biến thành hành động cụ thể
khi mà vào ngày 18/12 ào./2006, Thái Lan đã quyết định áp dụng các biện pháp hành chính nhằm hạn
chế đồng tiền đổ vào.
Hậu quả tức thời là ngay ngày thứ Ba hôm sau, thị trường chứng khoán sụt giảm 15%, mức cao nhất
kể từ năm 1990.
Một trong những sai lầm lớn nhất gây ra cuộc khủng hoảng năm 1997 là việc Thái Lan đã mở tài
khoản vốn quá sớm làm cho một dòng nợ, nhất là nợ ngắn hạn khổng lồ đổ vào kết hợp với chính sách
cố định tỷ giá ở mức cao, đồng tiền kém sức cạnh tranh, thâm hụt thương mại gia tăng làm cho vấn đề
trầm trọng hơn.
c)Kinh nghiệm của các nước cho thấy:
- Để đảm bảo hiệu quả, các kiểm soát phải toàn diện và cần được tiến hành một cách bắt buộc đồng
thời với cải cách và điều chỉnh chính sách cần thiết. Hiệu quả của những kiểm soát này dường như bị
hạn chế trong những thị trường phức tạp;
- Bên cạnh những tác động tích cực, các biện pháp kiểm soát có thể dẫn đến phản ứng tiêu cực hơn
từ các thị trường tài chính quốc tế và làm suy giảm lòng tin của các nhà đầu tư quốc tế;
- Các kiểm soát không có tác dụng bảo vệ kéo dài khi phải đối mặt với động cơ tránh kiểm soát,
nhất là chênh lệch thu nhập hấp dẫn và kỳ vọng lớn của thị trường vào việc giảm tỷ giá hối đoái;
- Khả năng kiểm soát hoạt động thị trường nước ngoài có thể là phương tiện để hạn chế luồng vốn
vào và ngăn chặn các áp lực đầu cơ;
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status