Lời mở đầu
Công nghiệp hoá và hiện đại hoá nhằm phát triển nền kinh tế quốc gia là
mục tiêu mà nhà nước và nhân dân Việt Nam đang cố gắng thực hiện trong nỗ
lực chung nhằm đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo đúng xu thế
phát triển của thế giới. Để thúc đẩy sự phát triển của một nền kinh tế cần có
nhiều yếu tố như : cơ sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật phát triển, một nền sản xuất
hiện đại và đội ngũ lao động có trình độ. Tất cả những yếu tố này tuy có tính
chất hoàn toàn khác nhau nhưng đều có một điểm chung là có thể tạo ra qua quá
trình đầu tư của xã hội. Muốn có cơ sở hạ tầng thì cần có đầu tư trong hoạt động
xây dựng, có khoa học kỹ thuật phát triển cần đầu tư nghiên cứu ứng dụng, để
có đội ngũ lao động trình độ cao thì phải đầu tư cho giáo dục và dạy nghề... Vậy
đầu tư có vai trò quan trọng với nền kinh tế là tạo ra động lực cho phát triển kinh
tế xã hội và thúc đẩy quá trình phát triển của một quốc gia.
Để có được một kết quả tốt thì cần một quá trình nghiên cứu kỹ lưỡng và
thực hiện đầu tư tốt. Hai tiêu chuẩn chính để có thể đánh giá một quá trình đầu
tư có hiệu quả hay không là xem chúng có tạo ra hiệu quả về mặt tài chính &
kinh tế xã hội không. Một quá trình đầu tư được xem là có hiệu quả về mặt tài
chính nếu sau khi đưa vào hoạt động nó đem lại cho chủ đầu tư một khoản thu
lớn hơn chi phí bỏ ra; một dự án xem là có hiệu quả về kinh tế- xã hội nếu nó
đem lại lợi ích cho xã hội-cộng đồng như tạo việc làm cho người lao động, tăng
thu nhập cho quốc gia. Một dự án có thể chỉ có hiệu quả về tài chính hoặc kinh
tế-xã hội nhưng cũng có dự án có hiệu quả cả về tài chính và kinh tế-xã hội.
Thông thường trong hai kết quả thì kết quả về mặt tài chính thường được coi
trọng hơn và nó là mục tiêu chính của hầu hết các hoạt động đầu tư trong xã hội.
Như vậy việc phân tích chỉ tiêu tài chính có vai trò rất quan trọng trong quá trình
lập một dự án đầu tư nó là tiền đề cho việc đánh giá hiệu quả, lựa chọn dự án và
là cơ sở cho tính toán chỉ tiêu kinh tế-xã hội.
Trong quá trình lập một dự án đầu tư phân tích hiệu quả tài chính dự án đầu
tư là một vấn đề quyết yếu đối với chất lượng của một dự án đầu tư. Do vậy
đánh giá tài chính luôn được giành một mối quan tâm đặc biệt của các chủ đầu
1
Với các kết quả phân tích sẽ là các giải pháp mà em xin đưa ra tuy vẫn
còn mang nặng tính lý thuyết trong cũng là nỗ lực bước đầu trong quá trình tiếp
cận thực tế của bản thân.
2
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào quy trình phân
tích tài chính dự án tại Công ty Tư vấn đầu tư xây dựng mỏ và công nghiệp cùng
với việc xem xét đánh giá qua hai dự án thực tế được lập tại công ty là : “ Đầu
tư mở rộng mỏ than Kế Bào”, “ Dự án mua sắm thiết bị cho mỏ than Đèo
Nai”.
Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mac-Lênin cùng với sự kết hợp với các chủ trương, chính sách
của chính phủ của Tổng công ty than Việt Nam... để phân tích. Việc tính toán
trong đề tài đựơc thực hiện theo đúng quy trình phân tích, xử lý số liệu thống kê
kết hợp với sử dụng các trương trình trong Microsolf Excel để tính toán nhằm
đảm bảo tính chính xác và thống nhất của dữ liệu đưa ra.
Em đã cố gắng chọn ví dụ trong đề tài để đảm bảo tính điển hình cho quá
trình phân tích tài chính dự án tại công ty nhưng không đại diện cho tất cả mà
tuỳ điều kiện thực tế có thể có sai khác một vài điểm mà trong khuôn khổ của đề
tài không trình bày hết được.
Kết cấu của đề tài được chia ra làm ba phần chính ngoài lời mở đầu và kết luận
ra đó là:
CHƯƠNG I : CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH THEO LOẠI HÌNH DỰ ÁN TẠI
CÔNG TY TƯ VẤN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG MỎ VÀ CÔNG NGHIỆP
CHƯƠNG III : MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI
CHÍNH THEO LOẠI HÌNH DỰ ÁN TẠI CÔNG TY TƯ VẤN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG MỎ
VÀ CÔNG NGHIỆP
Sau cùng là phụ lục và danh mục các tài liệu đã sử dụng trong đề tài.
Đầu tư phát triển mang tính chất lâu dài, các nguồn lực tiền, vật tư, lao động
cần huy động lớn
4
Thời gian từ lúc tiến hành đầu tư cho đến khi các thành quả đầu tư phát huy
tác dụng thường kéo dài nhiều tháng, năm. Do đó trong quá trình đầu tư phải
huy động một số vốn lớn và để nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu
tư, không tham gia vào quá trình chu chuyển, nên nó không sinh lợi cho nền
kinh tế. Đây là cái giá phải trả khá lớn của đầu tư phát triển.
Quá trình vận hành các kết quả đầu tư cho đến khi thu hồi được vốn hoặc
cho đến khi thanh lý tài sản do vốn đầu tư tạo ra cũng thường kéo dài trong
nhiều năm. Nên không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của
các yếu tố về tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế.
Những kết quả tạo ra từ hoạt động đâu tư phát triển có vai trò quan trọng
với nền kinh tế
Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu dài
nhiều năm, có khi hàng trăm hàng nghàn năm và thậm chí tồn tại vĩnh viễn.
Điều này nói lên giá trị lớn lao của các thành quả đầu tư phát triển.
Những thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây
dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng nên. Do đó các điều kiện về
địa lý, địa hình tại đó ảnh hưởng đến quá trình thực hiện đầu tư cũng như tác
dụng sau này của các kết quả đầu tư.
Đầu tư phát triển là hoạt động mang tính rủi ro.
Hoạt động đầu tư một mặt là sự đánh đổi lợi ích ở hiện tại và quá trình thực
hiện diễn ra trong một thời gian dài không cho phép nhà đầu tư lường trước hết
những thay đổi có thể xảy ra trong quá trình thực hiện đầu tư so với dự tính. Do
các kết quả và hiệu quả của thành qủa đầu tư chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu
tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý của không gian.
Để đảm bảo cho công cuộc đầu tư phát triển đạt được hiểu quả kinh tế xã
Như đã trình bày ở trên đầu tư là quá trình sử dụng nhiều nguồn lực cả vật
chất và trí tuệ, lao động với các kết quả được hình thành và tồn tại lâu dài nên
ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh của một
doanh nghiệp nói riêng và quốc gia nói chung vì vậy đầu tư theo dự án là một
bước tối ưu hoá công cuộc đầu tư để thực hiện tốt các kế hoạch phát triển của
doanh nghiệp, địa phương hay quốc gia.
6
Để lập được một dự án đầu tư thì chủ đầu tư cần phải thực hiện theo một
trình tự quy định từ việc tìm kiếm cơ hội đầu tư , lập nghiên cứu tiền khả thi
đến lập nghiên cứu khả thi ... trải qua một quá trình như vậy giúp chủ đầu tư có
điều kiện để đánh giá một các chính xác về tính khả thi của dự án tạo điều kiện
cho chủ đầu tư tiết kiệm chi phí vì nếu dự án không có tính khả thi sẽ dừng lại
ngay ( giảm các chi phí không cần thiết) tránh dự án kém hiệu quả gây lãng phí.
Ngoài ra với chủ đầu tư việc lập dự án còn có tác dụng giúp họ xin được giấy
phép đầu tư hoặc giấy phép hoạt động, thuận tiện nếu dự án có nhập khẩu máy
móc- thiết bị hay muốn xin các khoản ưu đãi đầu tư nếu là các dự án thuộc dạng
được ưu đãi.
Muốn đầu tư một dự án các đơn vị thường không đủ năng lực tài chính
hoặc muốn san sẻ rủi ro cho các đơn vị khác nên thường bên cạnh nguồn vốn
chủ sở hữu một dự án đầu tư thường có thêm vốn vay của các đơn vị hoặc vốn
cổ phần thông qua phát hành cổ phiếu trái phiếu nên dự án đầu tư chính là cơ sở
pháp lý cho việc vay vốn hoặc xin phép phát hành cổ phiếu của các đơn vị.
Dự án đầu tư là một kết quả của quá trình nghiên cứu cẩn thận và kỹ lưỡng
của các yếu tố thị trường, đầu vào-đầu ra sản phẩm... nên khi đầu tư theo dự án
giúp hạn chế rủi ro mà một dự án có thể gặp phải hoặc có thể thay đổi phương
án khi gặp rủi ro vì khi lập dự án đã tính đến các yếu tố rủi ro vậy dự án vẫn có
thể đạt được các mục tiêu đã định.
Dự án đầu tư cũng là cơ sở để đơn vị tổ chức theo dõi, quản lý, kiểm tra
trong quá trình thực hiện đầu tư và cũng là cơ sở để bố trí nguồn lực cho các giai
đoạn của dự án.
liên quan như lãi suất, doanh thu, chi phí... nhưng các yếu tố này phát sinh ở các
thời điểm khác nhau nên trước khi xem xét nội dung của phân tích tài chính
chúng ta phải xem xét một số khái niệm có liên quan là :
3.1.1. Giá trị thời gian của tiền
Chúng ta thấy ở các thời điểm khác nhau với cùng một khối lượng tiền tệ
thì lượng hàng hoá mua đựơc là không bằng nhau đó là do sự thay đổi giá trị của
tiền qua các giai đoạn. Như vậy tiền có giá trị về mặt thời gian và chịu ảnh
hưởng của các nhân tố sau:
8
Do ảnh hưởng của lạm phát điều này biểu hiện sự thay đổi giá trị của tiền
theo thời gian
Do ảnh hưởng của các yếu tố ngẫu nhiên : Giá trị thời gian của tiền biểu
hiện những giá trị gia tăng hoặc giảm đi theo thời gian do ảnh hưởng của các
nhân tố ngẫu nhiên. Chẳng hạn trong sản xuất nông nghiệp giá trị sản xuất trong
năm thời tiết thuận lợi cao hơn trong năm có thiên tai.
Do thuộc tính vận động và khả năng sinh lợi của tiền : Trong nền kinh tế
thị trường đồng vốn luôn luôn vận động để đem lại lợi ích cho chủ kể cả gửi
ngân hàng hay dùng để đầu tư... như vậy sự thay đổi của một khoản tiền sau một
thời gian cũng phản ánh giá trị thời gian của tiền và ở đây giá trị thời gian của
tiền biểu hiện qua lãi tức. Lãi tức được xác định bằng tổng số vốn đã tích luỹ
theo thời gian trừ đi vốn đầu tư ban đầu.
Chính vì có sự khác nhau về giá trị của tiền theo thời gian nên khi thực hiện
công việc phân tích tài chính một dự án đầu tư người ta phải thực hiện quy đổi
các khoản tiền về cùng một giai đoạn để tiện cho việc đánh giá hiệu quả thông
thường đó là giai đoạn thực hiện đầu tư.
Tính chuyển về mặt bằng hiện tại:
Tính chuyển về mặt bằng tương lai:
Trong đó:
PV(present value): giá trị hiện tại của tiền
FV(future value): giá trị tương lai của tiền
n
: giá trị lãi suất theo năm
r
t
: giá trị lãi suất theo các kỳ hạn khác ( tháng, quý, 6 tháng..)
10
∑
∑
=
=
=
m
k
Vk
m
k
VkRk
I
I
r
1
1
( )
11
−+=
m
tn
rr
r
m: số kỳ hạn trong năm
♦ Vốn sản xuất : Chi phí nguyên vật liệu, điện, nước...
11
1)1)(1((%)
−++=
r
cohoi
fr
♦ Vốn lưu thông : Thành phẩm tồn kho, sản phẩm dở dang, hàng hoá bán
chịu, vốn bằng tiền...
Yêu cầu:
- Tổng vốn đầu tư cần được dự tính theo các giai đoạn của quá trình thực hiện
đầu tư, căn cứ vào độ thực hiện đầu tư, các công việc chủ yếu trong phân tích kỹ
thuật.
- Xác định nguồn tài trợ cho dự án và khả năng đảm bảo vốn từ mỗi nguồn về
mặt số lượng và tiến độ.
- Huy động vốn cho dự án phải đảm bảo đủ về số lượng, đúng về thời hạn cần
bỏ vốn, mức lãi suất có thể chấp nhận của dự án.
- Về các nguồn huy động cho dự án phải đảm bảo tính pháp lý, cơ sở thực tiễn.
3.2.2.Lập các báo cáo tài chính cho từng năm cũng như cả đời dự án
Báo cáo tài chính giúp cho chủ đầu tư thấy được tình hình hoạt động tài
chính của dự án và nó là nguồn số liệu giúp cho việc tính toán phân tích các chỉ
tiêu phản ánh mặt tài chính của dự án
Thông thường với một dự án đầu tư thường có các loại báo cáo tài chính sau:
Dự tính doanh thu từ hoạt động của dự án ( bao gồm doanh thu do bán sản phẩm
chính, sản phẩm phụ, phế liệu...) và cung cấp dịch vụ cho bên ngoài. Doanh thu
dự án được tính cho từng năm hoạt động của dự án và dựa vào kế hoạch sản
xuất và tiêu thụ hàng năm để xác định.
Biểu mẫu:
Chỉ tiêu
Dự tính mức lỗ lãi của dự án:Trên cơ sở dự tính về doanh thu và chi phí người
ta tiến hành tính lỗ lãi hàng năm của dự án. Đây là chỉ tiêu quan trọng vì nó
phản ánh kết quả hoạt động sản xuất dịch vụ trong từng năm của đời dự án.
Chỉ tiêu
Năm hoạt động
1 2 .... n
1.Tổng doanh thu chưa có VAT
2.Các khoản giảm trừ
3.Doanh thu thuần (1-2)
4.Tổng chi phí sản xuất
5.Tổng lợi nhuận trước thuế (3-4)
6.Thuế thu nhập doanh nghiệp
7.Lợi nhuận thuần sau thuế ( 5-6)
Bảng dự trù cân đối kế toán: Nó mô tả tình hình tài chính hoạt động kinh doanh
của dự án thông qua cân đối tài sản và nguồn vốn hoạt động trong từng năm hoạt
động của dự án nó giúp cho chủ đầu tư phân tích đánh giá được khả năng cân
bằng tài chính của dự án.
Chỉ tiêu
Năm hoạt động
1 2 ... n
TÀI SẢN
A.Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
I.TIỀN
II.Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
III.Các khoản phải thu
IV. Hàng tồn kho
V.Tài sản lưu động khác
VII.Chi phí sự nghiệp
B.Tài sản cố định- đầu tư dài hạn
I.Tài sản cố định
Chỉ tiêu lợi nhuận thuần được tính cho từng năm hoặc từng giai đoạn hoạt
động của đời dự án. Chỉ tiêu này có tác dụng so sánh giữa các năm hoạt động
của dự án và để tính chỉ tiêu lợi nhuận thuần, lợi nhuận bình quân cho cả đời dự
án.
15
Trong đó:
O
i
: là doanh thu thuần năm i
C
i
: là chi phí sản xuất ở năm i bao gồm tất cả các khoản có liên
quan đến sản xuất kinh doanh ở năm i: chi phí quản lý, chi phí tiêu
thụ sản phẩm, chi phí quản lý hành chính, chi phí khấu hao, chi phí
trả lãi vốn vay, chi phí khác....
Chỉ tiêu lợi nhuận thuần từng năm có tác dụng so sánh quy mô lãi giữa
năm của chính dự án đó không có tác dụng so sánh giữa các dự án. Để so sánh
giữa các dự án phải sử dụng chỉ tiêu tổng lợi nhuận thuần hoặc lợi nhuận bình
quân từng năm hoặc từng giai đoạn của đời dự án.
Trong đó:
Wi : Lợi nhuận thuần năm i ở thời điểm năm i
W
ipv
: Lợi nhuận năm i ở thời điểm hiện tại
r : Tỷ suất chiết khấu
Để đánh giá đầy đủ quy mô lãi của cả đời dự án trong phân tích tài chính
thường sử dụng chỉ tiêu thu nhập thuần.
.Thu nhập thuần của dự án
Thu nhập thuần của dự án là thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi các khoản
chi phí của cả đời dự án. Bởi vậy chỉ tiêu này bao gồm không chỉ tổng lợi nhuận
NPV : lợi nhuận của dự án sau thuế
B
i
: là các khoản thu năm thứ i. Nó có thể là doanh thu năm thứ i, giá
trị thanh lý TSCĐ ở các thời điểm trung gian (khi các tài sản hết
tuổi thọ theo quy định) và ở cuối đời dự án, VLĐ bỏ ra ban đầu và
thu về ở cuối đời dự án.
C
i
: khoản chi phí năm i. Nó có thể là chi phí vốn đầu tư ban đầu để
tạo ra TSCĐ và TSLĐ ở thời điểm đầu và tạo ra TSCĐ ở các thời
điểm trung gian, chi phí hằng năm của dự án (gồm cả các loại thuế
và lãi vay, không tính khấu hao).
n : đời của dự án.
r : lãi suất chiết khấu được lựa chọn (thường được dùng là chi phí vốn)
Chi phí sử dụng vốn phản ánh tỷ lệ lãi tối thiểu mà người cung cấp
vốn đầu tư yêu cầu.
I
v0
: là VĐT ban đầu(gồm cả chi phí đầu tư thay thế,vận hành,bảo
dưỡng)
17
∑
+
=
−
n
i
i
r
trọng để đánh giá DAĐT. Dự án được chấp nhận khi NPV
≥
0. Khi đó tổng các
khoản thu của dự án
≥
tổng các khoản chi phí sau khi đưa về mặt bằng hiện tại.
Ngược lại dự án không được chấp nhận khi NPV< 0.
Chỉ tiêu NPV còn được sử dụng như tiêu chuẩn tốt nhất để lựa chọn các dự
án loại trừ nhau.
*Ưu điểm:
Phản ánh đầy đủ các khía cạnh của chi phí và kết quả của dự án.
NPV của dự án được biểu hiện bằng một đại lượng tuyệt đối, cho phép
đánh giá được quy mô lợi ích của dự án.
*Nhược điểm:
NPV chỉ mới là đại lượng tuyệt đối, không phản ánh được mức sinh lãi
của dòng vốn đầu tư (tức là tỉ lệ sinh lời). Có thể một dự án có NPV nhỏ
hơn NPV của một dự án khác nhưng hiệu quả tương đối (lợi nhuận thu
được từ một đồng vốn đầu tư vào dự án) lại cao hơn.
Độ tin cậy của NPV phụ thuộc vào khả năng lựa chọn lãi suất chiết khấu
r. Khi r thay đổi thì NPV thay đổi. Dự án thường phải chọn những khoản
chi phí lớn trong những năm đầu, khi vốn đầu tư được thực hiện, và các
lợi ích (thu nhập) chỉ xuất hiện trong những năm sau, khi dự án đi vào
hoạt động. Bởi vậy khi lãi suất tăng giá trị hiện tại của dòng thu nhập sẻ
giảm nhanh hơn giá trị hiện tại của chi phí và do đó NPV sẽ giảm xuống.
Khi r vượt qua một mức nào đó, NPV sẽ chuyễn từ dương sang âm. Do
vậy NPV không phải là tiêu chuẩn tốt nếu không xác định được r thích
hợp. Trong khi đó việc xác định r là một vấn đề khó khăn.
c/ Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư hay hệ số hoàn vốn(RR-return
rate):
Hệ số hoàn vốn nói lên mức độ thu hồi vốn đầu tư ban đầu từ lợi nhuận
19
Ivo
Wipv
RRi=
Ivo
W
RR
pv
___
____
=
Ivo
W
_____
RR
=
_____
RR
_____
RR
_____
RR
_____
RR
Chỉ tiêu lợi ích-chi phí được xác định bằng tỷ số giữa lợi ích thu được và
chi phí bỏ ra.Lợi ích và chi phí của dự án có thể tính về thời điểm hiện tại hoặc
thời điểm tương lai. Việc quy về thời điểm tương lai để tính chỉ tiêu này ít được
sử dụng. Bởi vậy, chỉ tiêu B/C thường được xác định theo công thức sau:
Trong đó:
B: các khoản lợi ích thu được từ dự án
Ci
Bi
C
B
n
i
i
n
i
i
r
r
==
∑
+
∑
+
=
=
∑
+
∑
+
==
=
n
i
i
n
i
Sử dụng chương trình vi tính có phần mềm tính toán.
Thử dần các giá trị chiết khấu vào vị trí r trong công thức
tính đến khi cho kết quả đúng đó chính là IRR cần tìm.
Xác định IRR thông qua đồ thị.
Xác định chỉ tiêu IRR bằng phương pháp nội suy: tức là
phương pháp xác định một giá trị cần tìm giữa hai giá trị đã chọn. Theo phương
pháp này cần tìm hai tỷ suất chiết khấu r
1
và r
2
(r
2
> r
1
) sao cho tương ứng với r
1
ta có NPV
1
>0; ứng với r
2
ta có NPV
2
<0. IRR cần tìm (ứng với NPV=0) sẽ nằm
giữa hai tỷ suất chiết khấu r
1
và r
2
. Việc nội suy giá trị thứ ba(IRR) giữa hai tỷ
suất chiết khấu trên được thực hiện theo công thức sau:
)
Trong đó: r
2
>r
1
và r
2
-r
1
≤
5%
NPV
1
> 0 gần 0, NPV
2
< 0 gần 0
*Ưu điểm:
Thuận lợi trong tính toán, không gặp phải khó khăn đối với việc lựa chọn
lãi suất chiết khấu r như NPV.
Phản ánh được tỷ lệ sinh lời của bản thân dự án và tạo cơ sở thuận lợi cho
việc đánh giá, lựa chọ dự án( so sánh giữa các dự án với nhau, so sánh với
lãi suất Ngân hàng, với chi phí vốn yêu cầu).
*Nhược điểm:
Có thể có dự án không tồn tại bất kỳ IRR nào (khi lợi ích thuần (Bi-Ci)
trong tất cả các năm của dự án đều dương) hoặc ngược lại, âm đủ lớn vào
các năm sau thời kỳ đầu tư ban đầu do những khoản đầu tư thay thế,
những biến cố bất thường...) gây khó khăn cho việc đánh giá dự án.
Có thể dẫn đến các quyết định không đúng trong việc so sánh, lựa chọn
các loại dự án loại trừ nhau.
=
∆
i-1
(1+r)
Khi
∆
i
→
0 thì i →T.
Thời gian thu hồi vốn đầu tư được xác định theo phương pháp cộng dồn hoặc trừ
dần xét về bản chất chỉ là một.
*Ưu điểm:
Thể hiện thời gian thu hồi lại số vốn đã bỏ ra đầu tư. T càng nhỏ càng tốt,
vì vốn đầu tư mau chóng thu hồi sẽ được tái đầu tư và T càng nhỏ hạn chế
được mức độ rủi ro trong điều kiện cạnh tranh gay gắt ngày nay.
T là phương pháp có độ tin cậy cao vì T thường là những năm đầu khai
thác dự án, mức độ bất trắc ít hơn những năm sau. Các số liệu dự báo đối
với các năm đầu có độ tin cậy cao hơn nư năm sau. Nó được sử dụng
nhiều để thẩm định.
*Hạn chế:
23
→≥ Ivo
pvDW
T
i
∑
=
+
1
)(
Doanh thu dự án tại điểm hoà vốn là:
24
Y
1
=x.p
Chi phí tại điểm hoà vốn là:
Y
2
=x.v+f
Do doanh thu và chi phí bằng nhau tại điểm hoà vốn:
Y
1
=Y
2
↔x.p = x.v+f
Từ đó ta có:
Đây là công thức xác định điểm hoà vốn theo đơn vị hiện vật
Từ đó ta có công thức điểm hoà vốn tính theo giá trị:
Trong đó:
x: số sản phẩm bán được tại điểm hoà vốn
p: giá một đơn vị sản phẩm bán được bình quân cả đời dự án
v: biến phí cho một đơn vị sản phẩm
f: Tổng định phí cho cả đời dự án
Nếu dự án có nhiều loại sản phẩm ta có công thức tính :
Trong đó:
25
vp
f
x
−
=
m
i
m
i
i
i
i
i
i
h
p
x
p
x
p
v
o
f
1
1
1