TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA ĐỌC
ĐẾN KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
NGÀNH NGỮ VĂN, KHOA SƯ PHẠM –
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
M S : 14.05.SP
Chủ nhiệm đề tài: LÂM TRẦN SƠN NGỌC THIÊN CHƯƠNG
AN GIANG, 04-2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA ĐỌC
ĐẾN KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
NGÀNH NGỮ VĂN, KHOA SƯ PHẠM –
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
M S : 14.05.SP
Chủ nhiệm đề tài: LÂM TRẦN SƠN NGỌC THIÊN CHƯƠNG
Cán bộ phối hợp: TS. Lê Thị Linh Giang
CV. La Thị Kim Bách
KTV. Hà Lan Vi
AN GIANG, 04-2016
Hành chính tổng hợp, Thư viện Trường Đại học An Giang và các phòng ban khác đã
tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình.
Tác giả cũng chân thành cảm ơn Lãnh đạo Khoa Sư phạm, các đồng nghiệp
trong Bộ môn Ngữ văn, các giảng viên tham gia phản biện và góp ý cho đề tài. Nhờ
đó mà tác giả có điều kiện sửa chữa và trau chuốt cho đề tài hoàn thiện hơn.
Tác giả
ời cảm ơn sâu sắc, đến các bạn sinh viên ngành Ngữ văn và
sinh viên khối ngành Tự nhiên của Khoa Sư phạm đã nhiệt tình tham gia thực hiện
điều tra khảo sát để
hoàn thành trong thời gian sớm và đạt kết quả tốt nhất.
An Giang, ngày 23 tháng 03 năm 2016
Người thực hiện
Lâm Trần Sơn Ngọc Thiên Chương
ii
TÓM TẮT
Mục đích nghiên cứu này là tìm ra các yếu tố của văn hóa đọc ảnh hưởng đến
kết quả học tập của sinh viên Khoa Sư phạm nhằm hướng đến nâng cao kết quả học
tập của người học và nâng cao chất lượng đào tạo. Mẫu nghiên cứu bao gồm 363
sinh viên Khoa Sư phạm, Trường Đại học An Giang. Người tham gia hoàn thành
bảng hỏi gồm 2 phần: thông tin cá nhân của sinh viên và sự đánh giá mức độ ảnh
hưởng của các yếu tố văn hóa đọc (thói quen đọc, sở thích đọc, kỹ năng đọc) đối với
kết quả học tập của sinh viên. Kết quả thu được từ phân tích thống kê cho thấy sinh
viên đều khẳng định thói quen đọc, sở thích đọc, kỹ năng đọc là những yếu tố hình
thành văn hóa đọc. Kết quả thống kê từ các phân tích tương quan cho thấy rằng 3 yếu
tố của văn hóa đọc có ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên. Những khuyến
nghị và giải pháp, dựa trên kết quả nghiên cứu, được đề xuất.
Người thực hiện
Lâm Trần Sơn Ngọc Thiên Chương
v
MỤC LỤC
Trang
CHƢƠNG 1. GIỚI THIỆU ........................................................................................ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................................... 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................................. 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu ........................................................................................... 2
1.4 Nội dung nghiên cứu ............................................................................................ 3
1.5 Những đóng góp của đề tài................................................................................... 3
1.5.1 Đóng góp về mặt khoa học............................................................................ 3
1.5.2 Đóng góp về công tác đào tạo ....................................................................... 3
CHƢƠNG 2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU............................................ 4
2.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu ............................................................................... 4
2.2 Lược khảo vấn đề nghiên cứu .............................................................................. 6
2.2.1 Tình hình nghiên cứu .................................................................................... 6
2.2.2 Khái niệm và cơ sở lý thuyết của đề tài ........................................................ 7
2.2.2.1 Khái niệm Văn hóa đọc ........................................................................ 7
2.2.2.2 Nội dung của Văn hóa đọc ................................................................... 9
2.2.2.3 Vị trí, vai trò của Văn hoá đọc ........................................................... 13
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến Văn hóa đọc. ..................................................... 14
2.2.3.1 Môi trường xã hội ................................................................................ 14
2.2.3.2 Lứa tuổi ............................................................................................... 15
2.2.3.3 Trình độ văn hóa .................................................................................. 15
2.2.3.4 Sự phát triển của khoa học công nghệ ................................................. 15
phạm ............................................................................................................................ 51
4.3.1 Về thói quen đọc ......................................................................................... 51
4.3.2 Về sở thích đọc ........................................................................................... 54
4.3.3 Về kỹ năng đọc .......................................................................................... 55
CHƢƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP ............................................................ 58
5.1 Kết luận .......................................................................................................... 58
5.2 Giải pháp ........................................................................................................ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 64
vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Đặc điểm mẫu trong nghiên cứu chính thức ................................... 26
Bảng 3.2. Thống kê số lượng SV được ph ng vấn .......................................... 28
Bảng 4.1. Thống kê lý do thích/không thích đọc sách..................................... 38
Bảng 4.2. Thống kê điểm trung bình về năng lực tạo lập văn bản của SV Khoa
Sư phạm trước và sau khi được giảng viên hướng dẫn ................................... 38
Bảng 4.3. Thống kê thời gian đọc trung bình mỗi ngày của SV ngành Ngữ văn
.......................................................................................................................... 40
Bảng 4.4. Thống kê tần suất đến Thư viện mỗi tuần của SV ngành Ngữ văn. 40
Bảng 4.5. Thống kê mục đích đến Thư viện .................................................... 41
Bảng 4.6. Tương quan về năng lực tạo lập văn bản của SV ............................ 48
Bảng 4.7. Thống kê mô tả về năng lực tạo lập văn bản của SV ...................... 50
Bảng 4.8. Thống kê về lí do mà SV ngành Ngữ văn và SV khối ngành Tự
nhiên ................................................................................................................. 54
Bảng 4.9. So sánh ĐTB tự đánh giá của SV ngành Ngữ văn và SV khối ngành
Tự nhiên về phương pháp đọc tài liệu. ............................................................ 55
Bảng 4.10. So sánh ĐTB tự đánh giá của SV ngành Ngữ văn và SV khối
ngành Tự nhiên về kỹ năng đọc ....................................................................... 56
ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐHAG
Đại học An Giang
ĐTB
Điểm trung bình
GV
Giảng viên
HS
Học sinh
KTĐG
Kiểm tra đánh giá
KQHT
Kết quả học tập
SP
một hoạt động văn hoá của con người thông qua việc đọc sách báo, tài liệu để tiếp nhận
và xử lý thông tin, tri thức một cách khoa học và bổ ích. VHĐ góp phần to lớn vào việc
bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, hình thành và phát triển nhân cách con người. Vậy tại
sao VHĐ hiện nay đang được đặc biệt quan tâm? Thực tế của xã hội hiện nay cho thấy,
việc đọc sách online, sách điện tử (e-book), báo điện tử, học trực tuyến (e-learning)…,
đang trở nên phổ biến hơn. Mua sách báo giấy lậu giá rẻ, nhanh chóng, dễ dàng hơn so
với việc đến thư viện và tìm kiếm mất thời gian và công sức nhưng nhiều lúc không
th a mãn yêu cầu của mình. Do vậy, người ta lo ngại VHĐ bị “xuống cấp”, bị “lấn át”
và đang bị mai một dần hay “đọc” sẽ vẫn thắng “xem”, VHĐ không bao giờ triệt tiêu?
Phát triển VHĐ hiện nay không phải là làm tăng số lượng sách, báo trong xã hội mà làm
tăng hiệu quả chất lượng sử dụng chúng. Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã xây dựng
dự thảo đề án “Phát triển VHĐ trong cộng đồng giai đoạn 2011-2020”. Để phát triển
VHĐ cho cộng đồng UNESCO cũng sáng lập ngày Sách Quốc tế là ngày 23 tháng 4
hàng năm để cổ vũ phong trào đọc sách và xây dựng thói quen đọc sách trên toàn Thế
giới. Quyết định và lời kêu gọi này của UNESCO được nhiều quốc gia hưởng ứng trong
đó có Việt Nam. Ngày 23 tháng 4 cũng là “Ngày Đọc sách Việt Nam” nhằm khơi dậy
phong trào đọc sách và VHĐ ở Việt Nam. Như vậy, phát triển VHĐ luôn là vấn đề có
tính chiến lược của mọi quốc gia trong việc nâng cao dân trí, phát triển bền vững nguồn
nhân lực. Để thực hiện thành công công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
Đảng và Nhà nước đã xác định rất rõ cùng với Khoa học và Công nghệ, Giáo dục và
đào tạo là quốc sách hàng đầu. Vì vậy, Giáo dục và đào tạo đã và đang được đổi mới
toàn diện, đặc biệt là giáo dục đại học. Đổi mới giáo dục đại học là nhiệm vụ cấp bách
được xác định trong nhiều chủ trương của Đảng và Nhà nước (Nghị quyết số:
14/2005/NQ-CP Về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn
2006 – 2020; Nghị quyết số: 29-NQ/TW (khóa XI) ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản
và toàn diện về giáo dục và đào tạo). Phương thức đào tạo theo niên chế đang được
chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ, lấy người học làm trung tâm đòi h i người
học phải tự học tập, tự nghiên cứu là chính. Người thầy chỉ là người hướng dẫn, định
hướng, dạy cho phương pháp học, phương pháp nghiên cứu.
Để minh chứng cho việc tự học, đọc và nghiên cứu trong trường học là cực kì
nâng cao VHĐ cho SV ngành Ngữ văn - Khoa Sư phạm, góp phần cải thiện KQHT của
họ.
1.3 ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Yếu tố VHĐ ảnh hưởng đến KQHT của SV ngành Ngữ văn- Khoa Sư phạm Trường ĐHAG.
2
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung vào 03 nội dung chính:
Một là, tìm hiểu các yếu tố của VHĐ có ảnh hưởng đến KQHT của SV ngành
Ngữ văn;
Hai là,so sánh mức độ ảnh hưởng của VHĐ của SV ngành Ngữ văn và SV khối
ngành Tự nhiên Khoa Sư phạm;
Ba là, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao VHĐ cho SV ngành Ngữ văn-Khoa Sư
phạm, góp phần cải thiện KQHT của họ.
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
1.5.1 Đóng góp về mặt khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp bức tranh tổng thể về VHĐ của SV
Ngữ văn - Khoa Sư phạm - Trường Đại học An Giang.
Xác định được những yếu tố nào của VHĐ có ảnh hưởng đến KQHT của SV,
nghiên cứu đã đánh giá mức độ ảnh hưởng của VHĐ đến KQHT của SV ngành Ngữ
văn - Khoa Sư phạm - Trường Đại học An Giang. Qua đó, góp thêm cơ sở khoa học cho
việc đổi mới phương pháp dạy học đại học.
1.5.2 Đóng góp về công tác đào tạo
Cơ sở lý thuyết cũng như kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo
hữu ích cho GV, SV trong quá trình giảng dạy và học tập.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp Ban Giám hiệu,Thư viện, Khoa,
Bộ môn vận dụng vào quá trình quản lí, đào tạo giúp nâng cao VHĐ cho SV, từ đó cải
thiện KQHT của họ. Trên cơ sở đó, Trường sẽ có những giải pháp để góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo.
thức, các nhà quản lý, doanh nhân bàn thảo và đề xuất nhiều các giải pháp, khuyến nghị
để duy trì và phát triển VHĐ. Một số trang thông tin điện tử về VHĐ đã được thiết lập
và trở thành diễn đàn để những người yêu sách, quan tâm tới VHĐ trao đổi chia sẻ
những cuốn sách hay, phương pháp, kỹ năng đọc, hoặc là cầu nối giữa tác giả, tác phẩm
với người đọc. Cụ thể, chúng ta đã xây dựng được nhiều mô hình VHĐ:
Tủ sách dòng họ, Nguyễn Quang Thạch, 14 năm miệt mài theo đuổi “sự nghiệp”
đưa sách về nông thôn với mong muốn cung cấp cho người dân sống ở nông thôn cả
nước được tiếp cận với tri thức rộng lớn của nhân loại góp phần nâng cao VHĐ cũng
như đời sống tinh thần cho người dân. Từ năm 1997, Nguyễn Quang Thạch đã thiết kế
rất nhiều mô hình thư viện khác nhau nhưng mô hình đạt yếu tố tự nhân rộng và được
cho là hợp lí nhất là mô hình Tủ sách dòng họ. Cho đến nay, anh đã xây dựng được gần
100 tủ sách với gần 10.000 đầu sách ở hơn 20 tỉnh, phục vụ hàng ngàn độc giả ở nông
thôn Việt Nam.
4
Câu lạc bộ sách, ở nước ta đã hình thành rất nhiều câu lạc bộ sách, trong đó tiêu
biểu là câu lạc bộ Người yêu sách Nguyễn Huy Tưởng (TP. HCM), câu lạc bộ yêu sách
Thái Hà (Hà Nội). Cho đến nay, câu lạc bộ này đã thu hút được hàng trăm bạn đọc khắp
mọi miền đất nước làm cộng tác viên thân thiết và hàng ngàn bạn đọc đã tìm đến đọc
sách tại câu lạc bộ. Theo Phạm Thế Cường - chủ nhiệm câu lạc bộ một trong những
điểm yếu của VHĐ là thiếu sự gắn kết giữa những người đọc sách để cùng nhau chia sẻ
và bình phẩm về những sách hay có giá trị. Vì vậy, câu lạc bộ sách này đã tổ chức gặp
gỡ, giao lưu với các tác giả, tác phẩm được yêu thích; các nhà phê bình nhằm tôn vinh,
thúc đẩy thói quen đọc sách trong cộng đồng.
Thƣ viện lƣu động – Bánh xe tri thức, đây là kết quả hợp tác giữa Thư viện Hà
Nội và Quỹ Quốc tế Singapore với sự hỗ trợ của tập đoàn Keppel Land tại Việt Nam.
Dự án được triển khai thực hiện tại các địa phương ngoại thành Hà Nội, khoảng 4000
trẻ em được hưởng lợi từ dự án này.
tập, sách chữ,...xu hướng văn hóa nghe - nhìn đang có phần lấn lướt VHĐ. Thời gian
dành cho lướt web, chơi game, xem truyền hình của HS, SV tương đối cao tới 55%.
Môi trường đọc: Môi trường đọc chưa thật sự đáp ứng nhu cầu đọc đa dạng, luôn
thay đổi của cộng đồng, đặc biệt ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải
đảo - nơi mà trình độ dân trí còn thấp, đời sống vật chất, văn hóa nghèo nàn rất cần đến
ánh sáng tri thức, thông tin để nâng cao dân trí, để cải thiện cuộc sống của mình. Mạng
lưới thư viện, tủ sách công cộng đã phát triển nhưng chất lượng tổ chức và hoạt động
chưa đáp ứng được các nhu cầu đọc của người dân, đặc biệt mạng lưới thư viện cơ sở.
Vốn sách báo ít, không được bổ sung thường xuyên, cơ sở vật chất nghèo nàn, cán bộ
thiếu, kinh phí hoạt động thấp, thậm chí không được cấp v.v…Thư viện lưu động - một
mô hình phục vụ VHĐ cho người dân ở cơ sở hết sức có hiệu quả về mặt xã hội cũng
như hiệu quả kinh tế nhưng chưa được quan tâm đầu tư. Thư viện - một công cụ phục
vụ đắc lực cho công tác giảng dạy, học tập trong nhà trường chưa được quan tâm đúng
mức, đặc biệt mạng lưới thư viện các trường phổ thông hết sức nghèo nàn, yếu kém.
Việc giáo dục thói quen đọc, kỹ năng đọc: Giáo dục thói quen đọc, kỹ năng đọc –
một vấn đề có tính chất quyết định tới việc hình thành VHĐ vẫn chưa được quan tâm.
Gia đình, nhà trường, thư viện chưa phát huy được vai trò quan trọng trong việc hình
thành thói quen đọc, hướng dẫn kỹ năng cũng như định hướng đọc cho trẻ em.
(Trích đề án: Phát triển VHĐ trong cộng đồng giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn
2030, trang 13, 14 .2010.)
Từ thực trạng nêu trên, nhóm nghiên cứu mong muốn có một công trình nghiên
cứu nhằm tìm ra các giải pháp giúp nâng cao hơn nữa VHĐ cũng như KQHT cho SV.
Để có căn cứ thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát tìm hiểu các nghiên
cứu có liên quan đến VHĐ.
2.2 LƢỢC KHẢO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.2.1 Tình hình nghiên cứu
VHĐ gần đây đã được nhiều người đề cập với ý nghĩa là một hoạt động văn hoá
của con người thông qua việc đọc sách báo, tài liệu để tiếp nhận và xử lý thông tin, tri
thức một cách khoa học và bổ ích. VHĐ góp phần to lớn vào việc bồi dưỡng, nâng cao
nghệ thông tin” của Nhóm SV khoa Công tác xã hội, trường Đại học Lao động – Xã hội
năm 2011.
Về vấn đề phát triển VHĐ, nhiều tác giả đã nghiên cứu như: “VHĐ trong thanh
niên hiện nay” của học viên Nguyễn Thị Khánh Hòa, Luận văn thạc sỹ Khoa Văn hóa
học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009;
“Nghiên cứu đánh giá nhu cầu đọc sách để định hướng xuất bản sách phục vụ bạn đọc,
góp phần phát triển VHĐ tại các vùng miền” của tác giả Đỗ Kim Thịnh, Cục Xuất bản Bộ Thông tin và Truyền thông, đề tài khoa học năm 2009; “Tăng cường và mở rộng
phong trào đọc sách báo ở nông thôn tỉnh Hậu Giang” của tác giả Võ Thị Thu Hương,
Luận văn Thạc sĩ Khoa học Thư viện, Trường Đại học Văn hoá, năm 2006; “Thực trạng
VHĐ của thanh thiếu niên tại Bình Dương hiện nay” của học viên Nguyễn Văn Thục,
đề tài nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn cấp tỉnh, năm 2011; “Phát triển VHĐ
cho SV Học viện Cảnh sát nhân dân” của học viên Đỗ Thu Thơm, chuyên ngành Khoa
học Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011. Các công trình nghiên cứu trên đều
đi từ thực trạng VHĐ và mục đích cuối cùng là đưa ra những giải pháp, chiến lược
nhằm phát triển VHĐ, khẳng định vai trò VHĐ trong đời sống xã hội. Như vậy, đề tài
“Ảnh hưởng của VHĐ đến KQHT của SV ngành Ngữ văn- Khoa Sư phạm - Trường
Đại học An Giang” đi sâu tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến VHĐ và các yếu tố của
VHĐ ảnh hưởng đến KQHT của SV ngành Ngữ văn - Khoa Sư phạm - Trường Đại học
An Giang để từ đó đưa ra định hướng, giải pháp phát triển VHĐ cho SV là một hướng
nghiên cứu mới.
2.2.2 Khái niệm và cơ sở lý thuyết của đề tài
2.2.2.1 Khái niệm Văn hóa đọc
VHĐ - một bộ phận của văn hóa - là một trong những động lực thúc đẩy sự hình
thành nên con người mới, những công dân có hiểu biết, có trí tuệ để có thể thích ứng với
sự phát triển của xã hội hiện đại – xã hội dựa trên nền tảng của nền kinh tế tri thức. Như
vậy, để hiểu về VHĐ trước hết cần làm rõ khái niệm về văn hóa. Đây là khái niệm rộng
7
với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần
viên hiện nay”, quan niệm đọc đến một mức độ, trình độ nhất định nào đó thì mới được
coi là VHĐ.
Trần Thị Thanh Vân (2013) cho rằng VHĐ là sự tổng hợp của mọi phương thức,
hình thức ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân, mỗi nhà quản lý
và của cộng đồng xã hội nhằm hoàn thiện nhân cách, hoàn thiện xã hội. Ứng xử đọc, giá
trị đọc, chuẩn mực đọc được tạo nên bởi ba yếu tố quan trọng đó là thói quen đọc, sở
thích đọc và kỹ năng đọc. Tham gia vào hoạt động VHĐ không chỉ có cá nhân là những
người sáng tạo, bảo quản, phổ biến giá trị văn hóa mà còn có nhiều thiết chế như thư
viện, viện nghiên cứu, hội nghề nghiệp, bảo tàng, nhà trường, xuất bản, phát thanh
truyền hình và những người làm công tác xã hội,...tạo nên một hạ tầng cơ sở vật chất –
8
công nghệ cho các hoạt động VHĐ. Như vậy, phát triển VHĐ là những hoạt động của
con người để biến đổi việc tiếp nhận thông tin (ứng xử, giá trị và chuẩn mực tiếp nhận
thông tin) của con người nhằm giúp họ nâng cao khả năng tiếp nhận và tiếp tục tạo ra
những giá trị vật chất và tinh thần (văn hóa) cao hơn hướng tới chân, thiện, mỹ với mục
đích hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống con người.
Nguyễn Hữu Viêm (2013) cho rằng: VHĐ là một khái niệm có hai nghĩa, một
nghĩa rộng và một nghĩa hẹp:
+ Ở nghĩa rộng, đó là ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân,
của cộng đồng xã hội và của các nhà quản lý và cơ quan quản lý Nhà nước.
Như vậy, VHĐ ở nghĩa rộng là sự hợp thành của ba yếu tố, hay chính xác hơn là
ba lớp như ba vòng tròn không đồng tâm, ba vòng tròn giao nhau.
+ Ở nghĩa hẹp, đó là ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân. Ứng xử,
giá trị và chuẩn mực này cũng gồm ba thành phần: thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ
năng đọc.
Ngày nay, với sự bùng nổ công nghệ thông tin, con người ngày càng tiếp xúc với
các phương tiện truyền thông hiện đại, nhiều ý kiến lo ngại rằng văn hoá nghe -nhìn sẽ
nhóm, xã hội) đối với việc tiếp nhận và sử dụng tài liệu nhằm duy trì và phát triển các
hoạt động sống của con người. Nói cách khác, nhu cầu đọc là thái độ của chủ thể với
việc đọc như một hoạt động sống không thể thiếu được. Yêu cầu đọc là biểu hiện cụ thể
của nhu cầu đọc. Khi người đọc đã xác định được đối tượng tài liệu cụ thể th a mãn
được nhu cầu của mình thì họ đưa ra yêu cầu tương ứng. Yêu cầu tương tự sẽ lặp đi lặp
lại nhiều lần ở những đối tượng cụ thể khác nhau. Tuy nhiên, cũng có trường hợp đặc
biệt, yêu cầu đọc không phản ánh nhu cầu mà xuất phát từ những yêu cầu công việc đột
xuất. Ví dụ để thực hiện bài tập của một môn học ở một thời điểm cụ thể nào đó.
Nhu cầu đọc bắt nguồn từ yêu cầu tiếp nhận thông tin khi con người tham gia các
hoạt động sống khác nhau, nhưng nó chỉ thực sự hình thành với điều kiện chủ thể có
khả năng giải mã thông tin được mã hóa trong tài liệu. Khi đòi h i đối với việc đọc trở
nên cấp bách, thường xuyên, nhu cầu đọc xuất hiện. Nhu cầu đọc bao giờ cũng gắn liền
với số lượng và chất lượng tài liệu được lưu hành trong một xã hội cụ thể. Thư viện là
nơi lưu trữ và truyền tải tri thức thông qua vốn tài liệu và công tác phục vụ bạn đọc. Vì
vậy, nhu cầu đọc là nguồn gốc của hoạt động thư viện. Hoạt động thư viện không thể
tồn tại và phát triển ở những nơi không có nhu cầu đọc, thói quen đọc và sở thích đọc.
Thói quen đọc
Thói quen là một chuỗi phản xạ có điều kiện do rèn luyện mà có. Phản xạ có điều
kiện là những hành vi (nếp sống, phương pháp làm việc) được lặp đi lại nhiều lần trong
cuộc sống và rèn luyện (học tập, làm việc), đó là những hành vi định hình trong cuộc
sống và được coi là bản chất thứ hai của con người nhưng nó không sẵn có mà là kết
quả của việc sinh hoạt, học tập, rèn luyện, tu dưỡng của mỗi cá nhân trong cuộc sống
hằng ngày, tuy vậy thói quen cũng có thể bắt nguồn từ một nguyên nhân đôi khi rất tình
cờ hay do bị lôi kéo từ một cá thể khác. (Wikipedia, 2013. Khái niệm thói quen).
Sở thích đọc
Sở thích hay còn gọi là thú vui, thú tiêu khiển là những hoạt động thường xuyên
hoặc theo thói quen để đem lại cho con người niềm vui, sự phấn khởi trong khoảng thời
gian thư giãn, sở thích cũng chỉ về sự hứng thú, thái độ ham thích đối với một đối tượng
nhất định. (Wikipedia, Khái niệm sở thích, 2013).
Mỗi người đều có lối sống, thói quen và sở thích riêng rất khác nhau và việc thay
chủ đích và định hướng rõ ràng. (Bùi Trọng Giao, 2013).
Vậy, kỹ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay
một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết
quả mong đợi. Kỹ năng đọc là một loại kỹ năng mềm, phương thức giúp người đọc có
thể tiếp nhận thông tin một cách nhanh nhất. Cùng với nhu cầu đọc, hứng thú đọc thì kỹ
năng đọc là yếu tố quan trọng cấu thành VHĐ.
Nếu xét theo tổng quan thì kỹ năng phân ra làm 3 loại: Kỹ năng chuyên môn, kỹ
năng sống và kỹ năng làm việc. Nếu xét theo liên đới chuyên môn kỹ năng bao gồm: kỹ
năng cứng, kỹ năng mềm và kỹ năng hỗn hợp.
Ninh Thị Kim Thoa (2006) trong bài viết: “Giáo dục người sử dụng trong thư viện
đại học” cho rằng: kỹ năng đọc là thành tố quan trọng nhất trong cấu trúc VHĐ, là khả
năng hiểu, lĩnh hội và cảm thụ tác phẩm, biến tri thức, kinh nghiệm trong sách thành tri
thức, kinh nghiệm của bản thân để có thể vận dụng một cách nhuần nhuyễn, sáng tạo
trong khi tiến hành các hoạt động sống khác nhau. (Ninh Thị Kim Thoa, 2006, tr.112).
Kỹ năng đọc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tri thức, kinh nghiệm, năng lực và
mục đích đọc của mỗi cá nhân. Trong đó, mục đích đọc là yếu tố quan trọng trong việc
lựa chọn phương pháp đọc phù hợp với yêu cầu đọc. Từ đó, sẽ giúp các bạn tránh được
đọc tràn lan, tốn công sức và quản lý thời gian đọc sách hợp lý.
11
Để VHĐ trở thành trở thành một chuẩn mực phải có kỹ năng đọc. Kỹ năng đọc là
sự thể hiện tổ hợp những thao tác tư duy được xác lập thành thói quen ứng xử đọc. Các
thao tác tư duy đó là:
- Lựa chọn có ý thức đề tài hoặc những vấn đề cần đọc cho bản thân, biết vận
dụng thành thạo các cách đọc khác nhau đối với từng loại tài liệu đọc (tài liệu nghiên
cứu, tài liệu phổ thông, tài liệu giải trí,...).
- Biết định hướng nguồn tài liệu cần thiết cho bản thân, trước hết trong các thư
mục và mục lục thư viện, các nguồn tra cứu như: bách khoa thư, từ điển giải nghĩa, các
12
Văn hóa ứng xử với tài liệu chính là thái độ và hành động của người đọc đối với
tài liệu trong quá trình đọc. Những biểu hiện này phụ thuộc vào tính cách và nhận thức
của mỗi cá nhân bao gồm các thái độ: giữ gìn, khai thác/sử dụng đúng mục đích, không
có hành vi làm hư tổn tài liệu. Ngoài ra, văn hóa ứng xử với tài liệu còn thể hiện qua tư
thế đọc, nơi lưu giữ tài liệu.
Sinh viên tiếp xúc với tài liệu thường xuyên trong quá trình học tập, nghiên cứu,
thói quen đọc ảnh hưởng rất lớn đến văn hóa ứng xử với tài liệu của mỗi người. Vì vậy,
ngoài việc hình thành thói quen đọc sách hàng ngày, bản thân mỗi người cần tạo cho
mình một thái độ trân trọng tài liệu - sản phẩm trí tuệ của nhân loại.
2.2.2.3 Vị trí, vai trò của Văn hoá đọc
Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của VHĐ đối
với sự phát triển của đất nước trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đánh giá
cao tầm quan trọng của VHĐ, trong kỳ họp lần thứ 28 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc
tại Paris (ngày 25/10 – 16/11/1995), UNESCO (Tổ chức Văn hoá, Giáo dục, Khoa học
Liên hợp quốc) đã quyết định chọn ngày 23/4 hàng năm làm “Ngày Sách và Bản quyền
Thế giới” (World Book and Copyright Day), trong đó nêu rõ mục tiêu và các thành phần
tham gia ngày tôn vinh những giá trị của sách và sự đóng góp của các tác giả cho sự ra
đời của các tác phẩm bất hủ. Ngày này được tổ chức hàng năm tại mỗi quốc gia nhằm
bảo đảm cho mọi người khám phá và th a mãn sở thích đọc của mình, đồng thời là dịp
để tôn vinh những tác giả đã có nhiều đóng góp cho sự tiến bộ văn hóa, văn minh xã hội
của nhân loại. Tại Việt Nam, Ngày Đọc sách thế giới được tổ chức hằng năm do Hội
đồng Anh (British Council) khởi xướng từ năm 1996, Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà
Nội – Lespace cũng có nhiều hoạt động có ý nghĩa thiết thực để tuyên truyền cho VHĐ
nhằm khuyến khích, đưa phong trào đọc sách báo trở thành nét đẹp văn hóa của người
Việt trong thời kỳ giao lưu và hội nhập. Đề cao tầm quan trọng của sách báo và tri thức
trong đời sống, sự kiện ngày đọc sách thế giới ở Việt Nam đang trở thành nét văn hóa,