Khóa luận một số giải pháp phát triển thị trường sức lao động ở việt nam hiện nay - Pdf 48

LỜI MỞ ĐẦU
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ một cơ cấu kinh tế cũ sang cơ cấu kinh tế
mới hợp lí vừa là điều kiện vừa là mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia. Từ năm
1986, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới trên tất cả các lĩnh vực và thu
được những thành công đáng kể nhưng nhìn chung nước ta vẫn là một nước
nông nghiệp, nền kinh tế chưa có bước phát triển vững chắc, còn gặp nhiều khó
khăn đặc biệt trong khu vực nông thôn. Một trong những nguyên nhân chủ yếu
là chúng ta chưa có một thị trường sức lao động nông nghiệp nông thôn phát
triển để đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khu vực
này. Một thị trường sức lao động phát triển cả về số lượng và chất luợng không
những giúp tăng trưởng kinh tế, thuận lợi cho quá trình chuyển dịch mà còn
đảm bảo cho quá trình chuyển dịch ổn định, bền vững.
Đây chính là lí do để em lựa chọn đề tài “Một số giải pháp phát triển thị
trường sức lao động ở Việt Nam hiện nay”.
Đề tài gồm 3 chương
Chương 1: Vai trò của thị trường sức lao động đối với quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Chương 2: Thực trạng thị trường sức lao động đối với quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta.
Chương 3: Giải pháp phát triển thị trường sức lao động phục vụ quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.

3


Chương 1
VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1.1. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn
Sự phát triển của một nền kinh tế gắn với sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế,

ngành bao gồm hoạt động của thợ thủ công chuyên nghiệp và không chuyên
nghiệp, các doanh nghiệp tư nhân,các công ty trách nhiệm hữu hạn, các hợp tác
xã, các tổ hợp, tổ chức sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp, các xí nghiệp
quốc doanh chế biến lương thực, thực phẩm hoặc các xí nghiệp công nghiệp
khác có quy mô vừa và nhỏ mà hoạt dộng của nó trực tiếp gắn với kinh tế trên
địa bàn nông thôn.
Công nghiệp nông thôn bao gồm: công nghiệp chế biến nông, lâm thuỷ
sản, sản xuất công cụ thường, công cụ cải biến và sửa chữa máy móc trong nông
thôn, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, ngành thủ công mỹ nghệ

5


Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã
hội, các ngành nghề công nghiệp tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn được phát
triển thành các ngành nghề độc lập nhưng có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động
kinh tế khác ở nông thôn. Ngành này có xu hướng tăng tỉ trọng trong cơ cấu
kinh tế nông nghiệp nông thôn.
+ Dịch vụ: là một bộ phận của ngành dịch vụ cả nước, là một bộ phận cấu
thành kinh tế lãnh thổ nông thôn. Dịch vụ nông thôn bao gồm nhiều loại: ngân
hàng, tín dụng, bưu điện, thông tin liên lạc, cung ứng điện nước, và tiêu nước,
sửa chữa máy móc và công cụ sản xuất; cung ứng giống cây trồng, gia súc,
phòng trừ sâu bệnh cây trồng gia súc, khám chữa bệnh gia súc...
Những hoạt động dịch vụ đầu vào đầu ra ngày càng được mở rộng, tỉ trọng
của nó trong cơ cấu nông nghiệp nông thôn ngày càng lớn hơn.
- Cơ cấu các thành phần kinh tế: Bao gồm nhiều thành phần kinh tế khác
nhau như thành phần kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, tư nhân họ gia đình.
Trong đó hộ gia đình và các trang trại gia đình đóng vai trò quan trọng để sản
xuất nông sản phẩm.
- Cơ cấu kinh tế vùng là sự phân công lao động theo lãnh thổ. Sự phân

1.1.2.2. Một số vấn đề có tính quy luật trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp nông thôn

7


Dù là cơ cấu kinh tế của cả nước hay cơ cấu kinh tế nông thôn đều mang
tính khách quan, một cơ cấu kinh tế hợp lý, bao giờ cũng phù hợp với quy luật
vận động khách quan của nền kinh tế. Con người thông qua nhận thức quy luật
khách quan tìm ra phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả nhất.
Trong thời đại ngày nay, khi xây dựng một cơ cấu kinh tế của một nước, không
thể không xem xét mối quan hệ của nó với thế giới bên ngoài. Sự phát triển đan
xen, cũng như sự phân công lao động quốc tế, sự thâm nhập kinh tế giữa các
nước với nhau, đều chỉ rõ tính đa dạng phương pháp và tính quốc té của một cơ
cấu kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường mở cửa, nếu không chú ý đúng mức
đến đặc trưng này sẽ hạn chế sự phát huy các nội lực bên trong.
Trên cơ sở nghiên cứu các đặc trưng của cơ cấu kinh tế và các nhân tố ảnh
hưởng đến sự hình thành cơ cấu kinh tế, ta thấy một số vấn đề có tính quy luật
trong việc xác lập và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn như sau:
- Cơ cấu kinh tế nông thôn cần được xác lập và dịch chuyển theo hướng
từ một nền nông nghiệp độc canh chuyển sang một nền nông nghiệp đa canh,
phát triển sản xuất hàng hoá với ngành nghề đa dạng, Tỷ trọng nông nghiệp
ngày càng giảm và tỷ trọng các ngành công nghiệp và tiểu thủ nghiệp và dịch
vụ càng tăng.
- Nông nghiệp hàng hoá chỉ có thể phát triển với sự tác động mạnh mẽ của
công nghiệp. Công nghiệp hoá nông nghiệp là một tất yếu.

8



với mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm... nhằm tạo ra thế chủ động và hành
lang an toàn thực phẩm, nâng cao thu nhập, xoá đói giảm nghèo, xây dựng xã
hội nông thôn nước ta văn minh hiện đại.
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu nông thôn nước ta
- Chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá;
từng bước hình thành các vùng, tiểu vùng sản xuất chuyên môn hoá, khôi phục
và phát triển các làng nghề, các tụ điểm công nghiệp – thương mại – dịch vụ cho
nông thôn, tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,
dịch vụ trong cơ cấu kinh tế nông thôn.

10


- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá hiện
đại hoá: phát triển công nghiệp chế biến và bảo quản nông – lâm – thuỷ sản,
phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ có tính chất
trực tiếp phục vụ sản xuất nông- lâm – ngư nghiệp hoặc sử dụng nguyên liệu
của các ngành này. Cân phải đưa máy móc thiết bị hiện đại vào thay thế lao
động thủ công và công cụ lao động thô sơ nhưng chủ yếu là nâng cao trình độ
kĩ thuật và công nghệ bằng cách nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ mới
nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và năng suất lao động, đồng thời phù hợp
lao động thủ công
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn trên cơ sở phát huy vai trò và tác
dụng tích cực của mọi thành phần kinh tế trong nông thôn.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn trên nguyên tắc bảo đảm khai thác
hợp lí, có hiệu quả các nguồn tài nguyen và bảo vệ môi trường sinh thái.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn cần phải lựa chọn các vùng ưu tiên,
ngành ưu tiên để đầu tư phát triển có hiệu quả.

11

nhiều nhân tố trên thị trường khác nhau ở mức độ khác nhau. Trong đó, thị
trường sức lao động với tư cách là một bộ phận hợp thành hữu cơ của chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông
thôn nói riêng đã đóng vai trò quan trọng trong việc xác lập và hình thành một
cơ cấu kinh tế hợp lí.
Thị trường sức lao động là một không gian của sự trao dổi tiến tới thoả
thuận giữa người sở hữu sức lao động và người cần có sức lao động để sử dụng.
Kết quả của quá trình trao đổi thoả thuận đó là tiền công được xác lập cùng với
điều kiện làm việc cho một công việc cụ thể. Đó chính là sự mua và bán về sức
lao động giữa hai chủ thể.

13


Thị trường sức lao động phát triển cả về số lượng và chất lượng sẽ đảm bảo
đáp ứng nhu cầu về nguồn lực con người cho các ngành nghề sản xuất kinh
doanh một cách kịp thời, đầy đủ với chất lượng cao và giá cả hợp lí. Mỗi một
ngành sản xuất kinh doanh, mỗi một doanh nghiệp đều có yêu cầu khác nhau về
yếu tố lao động tuỳ theo đặc điểm sản xuất của ngành, của doanh nghiệp: một số
ngành, lĩnh vực có công nghệ hiện đại, công nghệ cao đòi hỏi trình độ chuyên
môn người lao động rất cao, một số ngành khác chỉ cần những kĩ thuật đơn
giản… Vì vậy khi xây dựng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế vào bất cứ ngành nào,
không một doanh nghiệp nào lại không xem xét, phân tích và đánh giávề khả
năng cung ứng của thị trường sức lao động. Thị trường sức lao động cùng với
yếu tố lao động càng phát triển và hoàn thiện sẽ thúc đẩy quá trình tăng trưởng,
phát triển kinh tế, do đó làm sâu sắc thêm quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không thể có được một chính sách
chuyển dịch cơ cấu kinh tế đáng kể nếu không có các điều kiện hỗ trợ cần thiết
về mặt nguồn lực con người.


1.2.2. Thị trường sức lao động phục vụ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp nông thôn
Như ở trên chúng ta đã tìm hiểu, thị trường sức lao động đã vô cùng cần
thiết cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nền kinh tế quốc dân; nhưng trong
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế vai trò của thị trường này còn quan trọng
hơn rất nhiều. Nông nghiệp, nông thôn là lĩnh vực chỉ sử dụng hai nguồn lực
chính là đất đai và lao động. Đất đai là yếu tố thụ động và bị giới hạn, nguồn lực
lao động quyết định đến việc sử dụng đất đai có hiệu quả do vậy trong chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn cần đặc biệt chú trọng đến phát triển
thị trường sức lao động.

16


Thị trường sức lao động và yếu tố nguồn lao động là nhân tố đầu vào
không thể thiếu được trong nông nghiệp, nông thôn. Đây là lĩnh vực ở trình độ
thủ công lạc hậu, trình độ khoa học công nghệ còn rất thấp cho nên huy động số
lượng lớn lao động vào quá trình phát triển. Bên cạnh đó, để thực hiện thành
công quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng
công nghiệp hoá - hiện đại hoá, đòi hỏi thị trường sức lao động phải phát triển
về chất lượng, đặc biệt là về trình độ kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm nghề
nghiệp, tính năng động sáng tạo của nguồn lao động. Trình độ học vấn của
người lao động sẽ cho họ khả năng lĩnh hội được những kiến thức, kinh ngiệm
sản xuất kinh doanh từ các chương trình khuyến nông, khả năng làm được
những ngành nghề mới xuất hiện trong quá trình chuyển dịch. Một khi thị
trường sức lao động phát triển, cung cấp được những lao động có trình độ
chuyên môn, kĩ thuật cao phù hợp với nhiều ngành nghề mới hiện nay, các vùng
nông thôn và các vùng phụ cận sẽ thu hút được nhiều doanh nghiệp, các liên
doanh với nước ngoài tiến hành sản xuất kinh doanh ở đây. Từ đấy thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh chóng. Do vậy thị trường sức lao động (xét cả

5,73%, doanh nghiệp tư nhân 80,08%. Kinh tế hộ gia đình ở nông thôn là chính.
2.1.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong nông nghiệp nông thôn
Cơ cấu nông-lâm nghiệp- thuỷ sản đã có sự chuyển dịch theo hướng hiệu
quả, tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích
18


- Cơ cấu giữa trồng trọt và chăn nuôi tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát
triển chăn nuôi, đưa chăn nuôi trở thành ngành chính trong nông nghiệp.Tỷ
trọng chăn nuôi tăng từ 16,5% năm 2000,16,8% năm 2001 lên 17,5% năm 2002
- Ngành thuỷ sản đã chuyển hoạt động sản xuất kinh doanh sang cơ chế thị
trường, thực hiện tự cân đối tự trang trải, vừa phát triển đánh bắt ven và xa bờ,
vừa phát triển nuôi trồng, tạo ra những chuyển biến lớn trong cơ cấu kinh tế
thuỷ sản và kinh tế nông nghiệp vùng ven biển. Tỷ trọng của thuỷ sản trong tổng
giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp – thuỷ sản đã tăng từ 10,9% năm 90, lên
13,4% năm 1995, 15,6%năm 2000, 17,4% năm 2001 và 17,8% năm 2002. Tỷ
trọng giá trị sản xuất nuôi trồng trong tổng giá trị sản xuất thuỷ sản đã tăng từ
31,9% năm 1995, lên 36,2% năm 2000, 43,7% năm 2001 và 47,2% năm 2002
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, chuyển từ lâm nghiệp nhà nước sang lâm
nghiệp xã hội. Nhà nước giao khoán rừng cho các hộ quản lí, gắn trách nhiệm
người bảo vệ, quản lí tài nguyên rừng với lợi ích do rừng đem lại, kết hợp trồng
rừng với trồng cây công nghiệp, làm vườn và chăn nuôi, góp phần tạo ra sự bền
vững về sinh thái và xã hội để phát triển rừng. Trên 1 triệu ha đất lâm nghiệp đã
được giao cho các hộ gia đình hơn 5 triệu ha cho các tổ chức kinh tế xã hội quản
lí. Tuy nhiên tỷ trọng lâm nghiệp trong cơ cấu giá trị toàn ngành nông nghiệp
vẫn nhỏ bé và ngày càng có xu hướng giảm. Năm 1991 là 7,99%, năm 1995 là
6,41%, năm 1997 là 5,5%.

19


Khai thác

Nuôi
trồng

1990

1,9 (100)

1,6 (82,5)

1,4

2,4

2,8 (6,6)

3,7 (10,9)

-4,9

9,0

1991

4,1 (100)

2,7 (81,4)

3,3


6,5 (100)

6,6 (82,3)

6,8

5,6

-1,0 (5,7)

9,3 (12,0)

8,1

12,1

1994

6,8 (100)

4,9 (80,9)

4,7

5,6

3,3 (5,4)

21,7 (13,7)


5,3

13,6 (14,1)

17,2

6,1

1997

6,4 (100)

7,0 (81,7)

7,0

7,8

-3,2 (4,8)

6,3 (14,1)

7,3

4,1

1998

4,9 (100)


10,0

2000

7,3 (100)

5,4 (80,2)

5,3

6,4

4,9 (4,2)

19,3 (15,6)

9,9

40,4

2001

4,9 (100)

2,6 (78,5)

2,3

4,2

20


Nguồn: Kinh tế 2002-2003 Việt Nam và thế giới- Thời báo kinh tế Việt Nam

Trong cơ cấu kinh tế nông thôn, các ngành phi nông nghiệp (công nghiệp,
ngành nghề và dịch vụ) tăng dần từ dưới 10% năm 1989 lên 30% năm 1999
trong GDP nông thôn. Trong nông nghiệp đang hình thành các mô hình kinh tế
trang trại, mô hình kinh tế vườn + ao + chuồng + rừng đã và đang tạo ra nhiều
nông, lâm, thuỷ sản có giá trị tiêu dùng và xuất khẩu. Thời kì 1991-1995, trong
tổng số 10 mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn nhất thì nông lâm thuỷ sản có 6 mặt
hàng, đó là thuỷ sản, gạo, cà phê, cao su, hạt điều và lạc nhân.
2.1.2. Chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế trong nông nghiệp
nông thôn
Kinh tế hộ nông dân trở thành đơn vị tự chủ sản xuất kinh doanh, người
nông dân đã bắt đầu tính toán và quyết định cơ cấu sản xuất cây con, ngành
nghề, gắn với quyền làm chủ đất đai đồng ruông, vườn đồi. Điều đó cho phép
tạo ra nghiều nông sản hàng hoá. Kinh tế hợp tác và kinh tế quốc doanh trong
nông nghiệp cũng đã đổi mới cả về nội dung và tổ chức hoạt dộng.
Hộ gia đình là cơ sở của kinh tế hộ gia đình cá thể, không chỉ có trong
nông nghiệp mà còn trong cả lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp. Kinh tế hộ gia đình
cá thể nói chung và hộ gia đình nông dân cá thể mang tính chất tự cấp, tự túc.
Tính đến năm 2000, cả nước có đến hơn 12 triệu hộ nông dân cá thể. Hình thức
hộ gia dình cá thể đang có sự chuyển biến sâu sắc, là nguồn bổ sung cho các
hình thức kinh doanh.

21


Kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã là

giữa luân canh cây lúa với đa dạng các cây công nghiệp ngắn ngày, trồng rau,
trồng các cây có giá trị kinh tế cao. Vùng đồng bằng ven biển và mặt nước có
thể cải tạo kết hợp phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản.
- Nhà nước đã có những chương trình đầu tư trọng điểm khai thác tiềm
năng và thế mạnh của các vùng kinh tế – sinh thái trong cả nước, taok động lực
thúc đẩy kinh tế của các vùng.
- Trong nông thôn đã phục hồi và chấn hưng các làng nghề truyền thống,
phát triển đa dạng các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, thủ công mỹ nghệ
truyền thống và một số ngành mới như chế biến nông sản, sản xuất vật liệu xây
dựng, may mặc… Thay đổi kết cấu các ngành sản xuất trong nông thôn theo
hướng “ly nông bất ly hương”.
- Trông khu vực nông thôn các hoạt động dịch vụ cũng được mở mang, bao
gồm cả dịch vụ phục vụ sản xuất, dịch vụ công cộng và đời sống
* Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn vẫn còn tồn tại
những bất cập sau:

23


Cơ cấu kinh tế nông thôn nói chung và cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh
tế ngành nông nghiệp nói riêng còn chuyển biến rất chậm. Hiện nay có khoảng
80% số hộ nông thôn sống chủ yếu bằng nghề nông. Trong cơ cấu GDP nông
thôn, tỷ trọng nông nghiệp vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối. Cơ cấu kinh tế nông
nghiệp chưa thoát khỏi tình trạng độc canh tự cấp tự túc, trình độ sản xuất hàng
hoá vẫn còn thấp, tính chất quảng canh còn khá phổ biến và hiệu quả sản xuất
thấp. Sản xuất hàng hoá còn kém phát triển, nhiều vùng, nhiều địa phương,
trồng trọt chăn nuôi theo hướng tự cấp tự túc là chính.
Trong sản xuất nông nghiệp, trồng trọt thuần nông vẫn còn là phổ biến.
Trong trồng trọt, lương thực vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, còn cây ăn quả, cây
công nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ. Thuỷ sản có phát triển nhưng chưa tương xứng



Để phục vụ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn,
thị trường sức lao dộng nông nghiệp nông thôn đã bước đầu hình thành và thu
được những kết quả đáng khích lệ. Trước đây, nền nông nghiệp nước chủ yếu là
thuần nông, ngày nay trình độ của người lao động nông nghiệp, nông thôn đã
phát triển có thể đáp được nhiều ngành nghề khác của thị trường. Hoạt động của
thị trường này bắt đầu trở nên sôi động.Mặc dầu tỷ lệ còn thấp song chủ kinh tế
hộ gia đình hoặc chủ các công việc đã bước đầu thuê mướn lao động thường
xuyên. Xét về mặt số lượng, nguồn cung ứng lao động ở nông thôn nước ta rất
dồi dào. Lao động nông thôn chiếm hơn 3/4 lao động của cả nước. Hiện nay có
khoảng 30 triệu lao động và hàng năm có thêm gần 1 triệu lao động bổ sung. Số
nhân khẩu từ 15 tuổi trở lên chiếm 70% năm 2000.Số nhân khẩu trong độ tuổi
lao động là 69,1% chiếm tỷ lệ cao so với tổng lực lượng lao động trong cả nước.
Lao động nông thôn hầu hết là những người rất cần cù chịu khó và do mức sống
còn nghèo nên họ khát khao được làm việc thậm chí chỉ với mức lương rất thấp.
Đây là một nguồn lực rất đáng quý cho quá trình chuyển dịch nếu chúng ta biết
tận dụng tốt.

26


Xét về mặt chất lượng. Trong những năm vừa qua, tuy chất lượng lao động
nông nghiệp, nông thôn còn yếu kém nhưng đã được nâng cao từng bước. Năm
1997, tỷ lệ chưa biết chữ ở nông thôn là 5,94%, tốt nghiệp trung học cơ sở là
33,1% và tốt nghiệp trung học phổ thông là 9,47%. Năm 2000 tỷ lệ tương ứng là
4,79%, 34,59% và 11,18%. Tỷ lệ sử dụng quỹ thời gian lao động ở nông thôn
đang ngày càng tăng. Tỷ lệ này năm 2002 là 75,29% tăng 0,99% so với năm
2001. Số liệu thống kê hàng năm cho thấy, tỷ lệ lao động nông thôn có việc làm
thường xuyên đã qua đào tạo từ công nhân kĩ thuật trở lên hàng năm đều tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status