Lý luận về hàng hóa sức lao động của C. Mác với thị trường sức lao động ở Việt Nam hiện nay - Pdf 23

LỜI MỞ ĐẦU
Chủ nghĩa tư bản ra đời gắn với sự phát triển ngày càng cao của sản xuất
hàng hóa. C.Mác đã nói rằng trong chế độ tư bản chủ nghĩa, để đạt được giá trị
thặng dư, nhà tư bản bắt buộc phải tìm ra trên thị trường một loại hàng hóa mà
bản thân giá trị sử dụng của nó có một thuộc tính đặc biệt là nguồn gốc sinh ra
giá trị, đó là hàng hóa sức lao động. Đối với đất nước ta đang trong thời kì quá
độ lên và xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa thì sẽ tạo nên một thị trường lao động bình đẳng là điều
hết sức quan trọng bởi nó ảnh hưởng đến sự thịnh vượng chung của toàn xã hội.
Do đó, em xin chọn đề tài “ Lý luận về hàng hóa sức lao động của C. Mác
với thị trường sức lao động ở Việt Nam hiện nay” để làm bài tập học kì.
Trong bài viết, do lượng kiến thức có hạn, em rất mong nhận được sự góp ý của
thầy cô, để bài viết được hoàn thiện hơn.
NỘI DUNG
1. Khái quát chung về hàng hóa và thị trường sức lao động của C.Mác
Sự biến đổi giá trị của số tiền cần phải chuyển hóa thành tư bản không thể
xảy ra trong bản thân số tiền ấy mà chỉ có thể xảy ra từ hàng hóa được mua vào
(T - H). Hàng hóa đó không thể là một hàng hóa thông thường, mà phải là một
hàng hóa đặc biệt, mà giá trị sử dụng của nó có đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá
trị. Thứ hàng hóa đó là sức lao động mà nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường.
1.1. Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa.
Sức lao động đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong thân thể một con
người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con người
phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích.
Trong bất kỳ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản
xuất. Nhưng không phải trong bất kỳ điều kiện nào, sức lao động cũng là hàng
hóa. Sức lao động chỉ có thể trở thành hàng hóa trong những điều kiện lịch sử
nhất định sau đây:
Thứ nhất, người có sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ
được sức lao động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một
hàng hóa.

lao động là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn công thức chung của tư bản.
Chính đặc tính này đã làm cho sự xuất hiện của hàng hóa sức lao động trở thành
điều kiện để tiền tệ chuyển hóa thành tư bản.
1.3. Tiền công – giá cả của hàng hóa sức lao động trong chủ nghĩa tư bản
• Bản chất của tiền công:
Tiền công là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động, là giá
cả của hàng hóa sức lao động. Tuy vậy, dễ có sự lầm tưởng, trong xã hội tư bản,
tiền công là giá cả của lao động. Bởi nhà tư bản trả tiền công cho công nhân sau
khi công nhân đã lao động để sản xuất ra hàng hóa và tiền công được trả theo
thời gian lao động (giờ, ngày, tuần, tháng) hoặc theo số lượng hàng hóa đã sản
xuất được. Cái mà nhà tư bản mua của công nhân không phải là lao động, mà là
sức lao động. Tiền công không phải là giá trị hay giá cả của lao động, mà chỉ là
giá trị hay giá cả của hàng hóa sức lao động.
• Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế:
2
Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán
sức lao động của mình cho nhà tư bản.
Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa tư
liệu tiêu dùng và dịch vụ mà người công nhân mua được bằng tiên công danh
nghĩa của mình.
Tiền công danh nghĩa là giá cả hàng hóa sức lao động, nó có thể tăng lên
hay giảm xuống tùy theo sự biến động trong quan hệ cung – cầu về hàng hóa
sức lao động trên thị trường. Trong một thời gian nào đó, nếu tiền công danh
nghĩa vẫn giữ nguyên, nhưng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ tăng lên hay
giảm xuống thì tiền công thực tế giảm xuống hay tăng lên.
2. Thị trường sức lao động ở Việt Nam hiện nay
2.1. Thực trạng của thị trường sức lao động ở Việt Nam hiện nay
2.1.1.Thuận lợi của thị trường sức lao động
Nhờ có sự nỗ lực điều chỉnh các chính sách việc làm và điều tiết thị
trường nên thị trường sức lao động nước ta đã có một số những chuyển biến

Sự chuyển dịch lao động trong những năm gần đây diễn ra theo hướng
tích cực hơn: Do ảnh hưởng của tiến trình hội nhập kinh tế và nhất là dưới tác
động của cơ chế thị trường mở cửa, nền kinh tế nước ta đã từng bước chuyển
sang công nghiệp và hiện đại. Nó kéo theo sự thay đổi mọi mặt của đời sống xã
hội cũng như cơ cấu lao động trên thị trường. Dịch vụ và công nghiệp dịch vụ
trong vài năm trở lại đây đã có những khởi sắc đáng kể. Vì vậy nó cũng thu hút
được rất nhiều lao động trong các ngành nghề kinh tế khác tạo sự chuyển dịch
cơ cấu lao động nói chung.
.Thứ tư: Về giá cả sức lao động ( tiền lương/ tiền công )
Hiện nay, cả nước có trên 4,145 triệu cơ sở kinh tế, hành chính, sự
nghiệp, thu hút gần 17 triệu lao động vào làm việc, có khoảng 219 khu công
nghiệp được thành lập, phân bố trên 54 tỉnh/thành phố. Các doanh nghiệp trong
các khu công nghiệp thu hút trên 1 triệu lao động.
Tiền lương và thu nhập của người lao động có xu hướng tăng, khoảng
10% - 20%/năm, đời sống của người lao động được cải thiện. Theo số liệu điều
tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê, năm 2006, thu nhập bình
quân một lao động trong doanh nghiệp nhà nước là 2.633 nghìn đồng/tháng,
doanh nghiệp dân doanh là 1.488 nghìn đồng/tháng, doanh nghiệp vốn đầu tư
nước ngoài là 2.175 nghìn đồng/tháng; năm 2008 thu nhập bình quân tăng lên
tương ứng ở các loại hình doanh nghiệp là 3.530 nghìn, 1.860 nghìn và 2.750
nghìn đồng/tháng.
Việc phát triển thị trường lao động nước ta trong thời gian qua đã thu
được những thành quả nhất định. Cần phải khẳng định rằng, nền kinh tế thị
trường định hướng Xã hội chủ nghĩa mà nước ta đang xây dựng là giai đoạn
phát triển cao của nền kinh tế nhiều thành phần. Về mặt phát triển kinh tế, Việt
Nam đang chuyển từ sản xuất hàng hóa đơn giản lên sản xuất hàng hóa Xã hội
chủ nghĩa, trong đó, có vận dụng những thành tựu của sản xuất hàng hóa tư bản
chủ nghĩa. Yếu tố cơ bản phân biệt sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa với sản
xuất hàng hóa theo định hướng Xã hội chủ nghĩa là khả năng phát huy vai trò
tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân của hàng hóa sức lao động. Đây cũng

người đến độ tuổi lao động. Đó là hậu quả của việc bùng nổ dân số.
Cấu trúc nguồn nhân lực Việt Nam phân bổ rất bất hợp lý, có tới gần 80%
lực lượng lao động ở nông thôn, mà ở đây việc làm không đầy đủ và thất nghiệp
có thể lên tới 30%. Những lao động này tự do đi đến các thành phố và những
khu công nghiệp mới với mục đích tìm kiếm việc làm, điều đó còn làm tăng hơn
nữa về cung sức lao động. Nông dân là những người lao động không có chuyên
môn, vì vậy phải luôn sẵn sàng chấp nhận những việc làm có thu nhập thấp, do
vậy lại càng làm tăng thêm sự cạnh tranh tiêu cực trên thị trường lao động.
Nhìn chung mức tiền công lao động rất thấp, sự lạc hậu giữa đồng lương
thực tế của người lao động Việt Nam so với mức tiền công lao động ở các nước
trong khu vực ngày càng tăng. Mức lương trung bình hàng tháng của người lao
động Việt Nam khoảng từ 25-35 USD (tức là gần 1USD/ngày), trong khi đó ở
Thái Lan hơn 6 USD/ngày (chứ chưa so sánh với những nước có nền kinh tế thị
trường phát triển cao).
2.2. Một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao giá trị sức lao
động ở Việt Nam hiện nay.
2.2.1.Một số phương hướng và nguyên tắc.
Nước ta là một đất nước mà chế độ chính trị là Xã hội chủ nghĩa, do vậy, nền
kinh tế thị trường dù được phát triển thì vẫn phải theo những định hướng nhất
5
định và các chính sách phát triển để đảm bảo không lệch hướng con đường mà
Nhà nước ta đã lựa chọn. Vì hàng hóa sức lao động là một loại hàng hóa đặc
biệt, nên việc phát triển nó cần tuân theo một vài nguyên tắc:
Thứ nhất, tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường lao động trong nước
và trong điều kiện hội nhập quốc tế.
Thứ hai, bảo đảm phân bố lao động đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế,
phát triển mạnh thị trường lao động chính thức, đặc biệt chú trọng phát triển
doanh nghiệp trong các đô thị lớn, các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công
nghiệp, khu chế xuất, hỗ trợ lao động trong khu vực phi chính thức để giảm sự
chia cắt giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng kinh tế, giữa các loại hình

phát triển nguồn nhân lực mới đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Đó là những
người biết nắm bắt và sử dụng có hiệu quả những phương tiện kỹ thuật hiện đại;
những người có năng lực sáng tạo trong nghiên cứu khoa học, trong quản lý vĩ
mô và vi mô…Tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với hệ thống giáo dục.
Có sự phối hợp chặt chẽ hơn trong hoạch định giữa chính sách đào tạo bồi
dưỡng và chính sách điều chỉnh cơ cấu nhất là cấp địa phương. Giữa các bên
tham gia thị trường lao động phải phối hợp thống nhất với nhau về nhu cầu đào
tạo và khả năng đào tạo để kết quả giáo dục mang lại hiệu quả cao nhất.
Xã hội hóa công tác đào tạo: Giáo dục dạy nghề với mục đích tạo sự cân
đối trong tổng thể thị trường sức lao động nên phải được xem là công việc
chung của toàn xã hội. Cần có một cơ chế nhất quán giữa người học, nhà trường
và đơn vị sử dụng sức lao động để giáo dục được đồng bộ, thống nhất hơn. Nên
hạn chế những quá trình đào tạo lao động mà thị trường đang dư thừa như lao
động trong các khối ngành kinh tế, giáo dục.
Giá cả sức lao động: Giá cả sức lao động có nhiều biến động đáng quan
tâm và nó luôn có những biến đổi rất khó lường. Cần thiết phải xem xét kỹ
lưỡng vấn đề tiền lương cho công nhân nhất là trong nền kinh tế thị trường ngày
càng phát triển như hiện nay.
Không nên duy trì những quan niệm lỗi thời đối với khu vực phi chính
quy. Nhà nước phải đưa ra những chính sách để cải thiện các mối quan hệ xã
hội giữa các khu vực và tháo gỡ những rào cản đối với sự phát triển tự do theo
định hướng của kinh tế tư nhân. Thành phần kinh tế này nếu được hỗ trợ hoạt
động và có sự phối hợp của kinh tế nhà nước thì sẽ tạo ra mối quan hệ hài hoà
giữa các khu vực kinh tế tạo cơ hội việc làm cho người lao động.
KẾT LUẬN
Như vậy cần áp dụng triệt để lý luận của C.Mác vào thực tiễn để có thể
tạo ra được nguồn nhân lực đảm bảo cả về chất lẫn lượng, phục vụ cho việc phát
triển kinh tế của đất nước trên con đường hội nhập, đưa đất nước tiến lên công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Cần phải
nhấn mạnh lại rằng: một đất nước chỉ thực sự phát triển khi thị trường sức lao

9
Thực trạng thiếu hụt lao động kỹ thuật lành nghề => Đầu tư, phát triển
chất lượng cao hỗ trợ tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam.
Bất cập về tiền lương
10
Quần áo đồng phục, bảo hộ lao động trong nước là một thị trường hết sức
quan trọng và có tiềm năng lớn.
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status