1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hoạt động giáo dục đạo đức là hoạt động có mục đích, có kế hoạch, có tổ
chức được thực hiện qua các hoạt động giáo dục của nhà trường, góp phần quan
trọng vào sự hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của học sinh, hướng
tới phát triển năng lực cho người học ở nhà trường nói chung và nhà trường
Tiểu học nói riêng. Giáo dục đạo đức là một bộ phận quan trọng không thể thiếu
được trong toàn bộ quá trình giáo dục.
Luật giáo dục năm 2005 đã xác định mục tiêu của giáo dục tiểu học là:
“Giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn
và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học
sinh tiếp tục học bậc Trung học cơ sở”. [21]
Nghị quyết Hội nghị trung ương 8, khóa XI về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 29-NQ/TW) một lần nữa định hướng
mục tiêu cụ thể đối với giáo dục phổ thông: “Tập trung phát triển trí tuệ, thể
chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng
khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống,
ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào
thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt
đời”. [1]
Trong những năm gần đây, đất nước ta có những bước chuyển mình
lớn trong công cuộc đổi mới và đã đạt được những thành tựu to lớn rất đáng
tự hào về phát triển kinh tế cũng như xã hội, văn hóa - giáo dục. Song bên
cạnh đó, do tác động của nền kinh tế thị trường trong thời kỳ hội nhập đã ảnh
hưởng không nhỏ tới việc giáo dục đạo đức trong nhà trường nói chung và
trường tiểu học nói riêng gặp nhiều trở ngại. Phương tiện nghe nhìn ngày
càng phát triển làm cho trẻ dễ dàng tiếp cận thông tin, những mặt trái cũng
nhanh chóng xâm nhập vào nhận thức của các em. Bên ngoài xã hội trong gia
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý HĐGDĐĐ cho học sinh trường tiểu học.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý HĐGDĐĐ cho HS các trường TH ở thành phố Bắc Giang,
tỉnh Bắc Giang.
4. Giả thuyết khoa học
Quản lý HĐGDĐĐ cho HS tiểu học ở thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc
Giang đã đạt được những kết quả đáng kể song vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế
chưa phù hợp với yêu cầu đặt ra trong công tác đổi mới giáo dục. Nếu đề xuất
được các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ phù hợp thì sẽ góp phần nâng
cao được chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh các trường tiểu học ở
thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về GDĐĐ và quản lý HĐGDĐĐ cho học
sinh tiểu học.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý HĐGDĐĐ cho HS
tại các trường tiểu học ở thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang hiện nay.
- Đề xuất biện pháp quản lý HĐGDĐĐ cho học sinh gắn với tình hình
thực tiễn các trường tiểu học ở thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Khảo nghiệm biện pháp đã xây dựng.
6. Phạm vi nghiên cứu.
Nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lý HĐGDĐĐ cho học sinh
các trường tiểu học ở thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang từ năm học 2015
– 2016 đến nay, và sẽ tiến hành khảo sát: CBQL, GVCN, GVBM, TPT, phụ
huynh và học sinh ở 17 trường TH thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
3
ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Ở nước ngoài
Ở phương Đông, từ thời cổ đại, Khổng Tử (551-479 TCN) trong các tác
phẩm: “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc Xuân Thu” đã rất xem trọng việc GDĐĐ. Ông
quan niệm GDĐĐ có tính hệ thống về phương pháp giáo dục cũng như về tâm lý
giáo dục. Theo Khổng Tử, sự hiểu biết không phải là sinh ra đã có sẵn mà phải trải
qua một quá trình học tập, rèn luyện khá công phu. Ông chủ trương coi việc rèn
luyện đạo đức là ưu tiên số một. Khổng Tử đặt lên hàng đầu nhân cách và đạo đức
của người dạy. Trong học thuyết: “Nhân-Trí-Dũng” do mình xây dựng, ông lấy
4
“nhân” (lòng thương người) làm yếu tố hạt nhân, là đặc điểm cơ bản nhất của con
người. “Lễ trị” (lấy “lễ” để ứng xử ở đời) là một trong những chủ trương nổi tiếng
của Khổng Tử về GDĐĐ vẫn còn truyền lại đến ngày nay.
Hiroike Chikuro (1866-1938) - người khai sinh Moralogy (Đạo đức
học) Nhật Bản cho rằng GDĐĐ không phải là dạy mà là "gợi mở, nuôi
dưỡng", không chỉ đơn thuần là truyền đạt kiến thức mà làm lay động tâm
hồn người học, khiến bản thân người học thấy mình ngày một trưởng thành
hơn. GDĐĐ không gói gọn cánh cổng nhà trường mà lan rộng đến toàn xã
hội. GDĐĐ không chỉ là công việc của nhà trường mà rất cần sự phối hợp từ
nhiều phía, của gia đình và xã hội.
Ở phương Tây, nhà triết học Mỹ John Dewey (1859-1952) cho rằng
giáo dục đạo đức gắn với giáo dục dân chủ, tự do, tiến bộ, với các giá trị đạo
đức và thẩm mỹ là một "quá trình liên tục".
Nhà triết học Socrat (470-399 TCN) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu
biết quy định lẫn nhau. Có được đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết, do vậy chỉ sau
khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức. Đồng thời, ông cũng quan niệm,
tái tạo nguồn lực cho xã hội. Quản lý nhà trường là một loại hình đặc thù của
quản lý giáo dục và là cấp độ quản giáo dục vi mô.
Khi bàn về quản lý nhà trường, tác giả Phạm Minh Hạc đã đưa ra các
định nghĩa về quản lý nhà trường là: "Quản lý nhà trường là thực hiện đường
lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận
hành theo nguyên lí giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo
đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh".[11]
1.2.2. Đạo đức và giáo dục đạo đức
1.2.2.1. Đạo đức
Đạo đức là những quy tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội
được hình thành và phát triển trong cuộc sống. Những quy tắc, những chuẩn
mực đạo đức đó được mọi người, được xã hội thừa nhận và tự giác thực hiện.
1.2.2.2. Giáo dục đạo đức
“Giáo dục đạo đức là những tác động sư phạm một cách có mục đích,
có hệ thống và có kế hoạch của nhà giáo dục tới người được giáo dục (học
sinh) để bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất đạo đức (chuẩn mực, hành
vi đạo đức) phù hợp với yêu cầu của xã hội”.
1.2.3. Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là quá trình tác động, là quá trình
lãnh đạo có chủ đích của chủ thể quản lý (CBQL giáo dục các cấp) tác động đến
đối tượng quản lý (hoạt động GDĐĐ) cho học sinh ở các cơ sở giáo dục nhằm
đạt mục tiêu giáo dục đề ra dựa trên chính sách pháp luật và chuẩn hiện có.
1.3. Nhà trường tiểu học trong bối cảnh hiện nay
1.3.1. Bối cảnh hội nhập quốc tế
1.3.2. Nền kinh tế thị trường
1.3.3. Đặc điểm của nhà trường tiểu học
* Mục tiêu giáo dục tiểu học
Mục tiêu giáo dục tiểu học trong thời kỳ hội nhập là giúp học sinh hình
thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức,
trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học bậc
đúng đắn.
* Quản lý mục tiêu các giá trị đạo đức là: chuyển hoá những nguyên
tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức nhân cách
cho học sinh, hình thành ở học sinh thái độ đúng đắn trong giao tiếp, ý thức
tự giác thực hiện các chuẩn mực của xã hội, thói quen chấp hành các quy
định của pháp luật.
Tóm lại, quản lý các mục tiêu phát triển các giá trị đạo đức là bồi
dưỡng các phẩm chất đạo đức, rèn luyện các thói quen đạo đức ở HS, từ đó
hình thành, phát triển hoàn thiện nhân cách các em.
1.4.2. Quản lý nội dung giáo dục đạo đức
Nội dung GDĐĐ cho học sinh rất rộng, bao quát nhiều vấn đề thuộc
nhân sinh quan mà tựu chung nhất là xoay quay trục "chân - thiện - mỹ" và
truyền thống văn hóa dân tộc, địa phương. Do đó, quản lý nội dung giáo dục
cần căn cứ vào các nhóm chuẩn mực đạo đức của xã hội (về nhận thức tư
tưởng, chính trị, về nghĩa vụ công dân, hướng vào những đức tính hoàn thiện
bản thân, hướng vào tính nhân văn, lợi ích cộng đồng, xây dựng môi trường
sống) bám sát vào nội dung chương trình các môn học và tổ chức các hoạt
động giáo dục khác kết hợp với giáo dục văn hóa, truyền thống dân tộc, địa
phương.
1.4.3. Quản lý chương trình, tài liệu, học liệu phục vụ cho giáo dục đạo
đức
Chương trình, tài liệu, học liệu phục vụ cho GDĐĐ được quản lý trên
cơ sở kế hoạch, chương trình kế hoạch chung của Bộ, Sở GD&ĐT và theo
tình hình thực tế của địa phương, của từng trường. CBQL phải đảm bảo sao
cho hoạt động giáo dục tại trường vừa đáp ứng được chương trình, tài liệu,
học liệu của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT vừa phải có sự sáng tạo riêng ở đơn vị
mình đồng thời phải có sự thống nhất từ trên xuống dưới. Việc quản lý
7
tập lẫn nhau. Thay đổi các hình thức tổ chức các chuyên đề, các kinh nghiệm
giáo dục đạo đức đưa lên sử dụng các học liệu để dạy tại trường mình.
1.4.5. Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của giáo viên và học sinh
Giáo viên chủ nhiệm lớp, GVBM, TPT có vai trò rất quan trọng, ảnh
hưởng trực tiếp đến công tác GDĐĐ. Để làm tốt công tác GDĐĐ, bên cạnh
tình yêu thương và trách nhiệm dành cho học sinh thì người GVCN, GVBM,
TPT cần xây dựng được một kế hoạch GDĐĐ phù hợp dựa vào kế hoạch của
ngành, của trường. Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của
GVCN, GVBM TPT chính là quản lý kế hoạch hoạt động GDĐĐ cho học
sinh của GVCN, GVBM, TPT. Quản lý kế hoạch hoạt động GDĐĐ càng chi
tiết, cụ thể và thường xuyên thì hiệu quả công tác GDĐĐ càng cao. Bên cạnh
đó CBQL cần quản lý việc tổ chức kế hoạch đề ra, xem xét tiến độ thực hiện,
8
kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch đã đặt ra để nhắc nhở, đôn đốc, hỗ
trợ GVCN, GVBM, TPT thực hiện tốt kế hoạch đã đặt ra.
Tăng cường đội ngũ giáo viên có kiến thức, chuyên môn, kỹ năng, kinh
nghiệm bằng cách bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho người giáo viên.
Do sự bùng nổ của thông tin học sinh tiếp cận thông tin quá nhiều, dạy
học sinh đạo đức cần thông qua tấm gương, thông qua mẫu hành vi, dư luận
xã hội, bản thân GVCN, GVBM, TPT, là tấm gương để GDĐ cho học sinh
noi theo. Phụ huynh học sinh tham gia cùng nhà trường trong các hoạt động
trải nghiệm sáng tạo, tham quan, giao lưu, các ngày lễ, các tiết học cùng con
để kết hợp với nhà trường GDĐĐ cho học sinh. Ngoài ra, các đoàn thể trong
nhà trường như Chi bộ nhà trường, Công đoàn, Đoàn thanh niên ,.. với các
hoạt động của mình đã tác động rất lớn tới nhận thức và hành động của HS
góp phần hình thành nhân cách cho HS.
1.4.6. Quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội
dựng cơ chế bảo quản, sử dụng nguồn kinh phí và cơ sở vật chất một cách
hợp lý, đúng mục tiêu, tiết kiệm.
Quản lý công tác bồi dưỡng CBGV trong việc GDĐĐ cho HS rất
phong phú. Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cho CBGV một cách
thường xuyên hoặc theo chuyên đề; phát động phong trào tự học, tự bồi
dưỡng trong CBGV; thực hiện nghiêm túc các đợt bồi dưỡng do cấp trên tổ
chức, phân công GV có kinh nghiệm hỗ trợ, giúp đỡ những GV trẻ; định kì
kiểm tra, đánh giá công tác này để rút kinh nghiệm thực hiện tốt hơn.
Thi đua, khen thưởng là biện pháp tác động tích cực đến đội ngũ
CBGV trong HĐGDĐĐ cho HS. Đồng thời nó còn là sự kích thích tinh thần
học tập, rèn luyện đạo đức cho HS. Do đó là quản lý phải thường xuyên phát
động phong trào thi đua - khen thưởng trong CBGV và học sinh; quản lý chỉ
đạo một cách sát sao, chặt chẽ công tác này.
Môi trường sư phạm là yếu tố ảnh hưởng đến quá trình GDĐĐ cho học
sinh. Môi trường sư phạm lành mạnh, trong sáng sẽ tác động tốt đến quá trình
rèn luyện đạo đức cho học sinh.
Đối với CBGV, NV: Hiệu trưởng chỉ đạo xây dựng tập thể sư phạm
đoàn kết, thân ái, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; xây dựng nền nếp, kỉ cương
trong giảng dạy; trong sinh hoạt tập thể, thực hiện dân chủ hóa trường học;
phối hợp tốt các lực lượng trong và ngoài nhà trường; giáo viên phải tôn
trọng, yêu thương học sinh; thường xuyên chăm lo cảnh quan sư phạm xanh sạch - đẹp.
Đối với học sinh: Nhà quản lý tổ chức quản lý chỉ đạo việc xây dựng
nền nếp, kỷ cương trong học tập, sinh hoạt, rèn luyện; xây dựng mối quan hệ
bạn bè thân ái giữa HS với HS; giáo dục học sinh lòng biết ơn, tôn trọng thầy
cô giáo, người lớn tuổi…
1.4.8. Quản lý công tác đánh giá hoạt động giáo dục đạo đức trong nhà
trường tiểu học
Việc đánh giá hoạt động GDĐĐ này đòi hỏi Hiệu trưởng phải xây
dựng chuẩn đánh giá ngay từ đầu và việc đánh giá phải đảm bảo tính khách
trường phải xác định rõ mục tiêu, nắm vững nội dung, phương pháp GDĐĐ
cho HS huy động được các lực lượng tham gia một cách tích cực và có hiệu
quả trong công tác này. Để quản lý công tác GDĐĐ của HS ở các trường tiểu
học được tốt thì bên cạnh việc nắm vững những vấn đề về lý luận, Hiệu
trưởng phải đánh giá một cách khách quan, khoa học về thực trạng quản lý
công tác giáo dục đạo đức ở trường tiểu học từ đó đưa ra những biện pháp
quản lý có tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay.
Chương 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC Ở THÀNH PHỐ BẮC GIANG,
TỈNH BẮC GIANG
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và giáo dục tiểu học
thành phố Bắc Giang
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.3. Giáo dục tiểu học thành phố Bắc Giang
2.2. Vài nét về hoạt động khảo sát
* Mục đích khảo sát
* Nội dung khảo sát
* Khách thể khảo sát
- Khảo sát một số thành viên các trường TH ở thành phố Bắc Giang gồm:
30 CBQL là Hiệu trưởng và Phó hiệu trưởng; 50 giáo viên chủ nhiệm; 30
giáo viên bộ môn; 17 Tổng phụ trách Đội; 100 học sinh; 50 phụ huynh.
- Đối tượng để phỏng vấn sâu: Hiệu trưởng
* Cách thức tiến hành
* Địa bàn khảo sát
11
ham chơi, vi phạm trật tự ATGT, chơi game,…do vậy cần phải nhắc nhở,
giáo dục thường xuyên học sinh.
* Đánh giá các hoạt động giáo dục đạo đức các nhà trường,
Các hoạt động GDĐĐ rất hiệu quả. Các ý kiến đã đánh giá cao như:
Mục tiêu giá trị đạo đức (81.1%). Hình thức GDĐĐ học sinh tiểu học
(75.6%); Phương pháp GDĐĐ cho HS tiểu học (66.9%). Còn những nội dung
còn lại cũng đạt mức từ 59.8% đến 57.5%. Công tác thi đua khen thưởng
(59.8%); Các điều kiện hỗ trợ hoạt động GDĐĐ (57.5%). Như vậy các nội
dung được đánh giá là quan trọng để GDĐĐ cho học sinh chưa thường xuyên
điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới việc GDĐĐ cho học sinh.
Việc thực hiện các HĐGDĐĐ: Qua khảo sát, tác giả thấy một số nội
dung xếp ở mức độ thực hiện tốt như: Các điều kiện hỗ trợ HĐGDĐĐ; Hình
12
thức GDĐĐ cho HSTH; Một số hoạt động thực hiện tương đối tốt như:
Phương pháp GDĐĐ cho HSTH (66.9%); Mục tiêu giá trị đạo đức (65.3%).
Tuy nhiên một số nội dung thực hiện chưa tốt như: Công tác thi đua khen
thưởng (57.5%); Khi HS và phụ huynh được hỏi, đa số các ý kiến cho rằng:
Hình thức GDĐĐ học sinh còn áp đặt, chưa phong phú, chưa gây hứng thú
cho học sinh; Tài liệu phục vụ cho HĐGDĐĐ còn nghèo nàn, chưa áp dụng
triệt để Công nghệ vào dạy học; Phương pháp GDĐĐ có đổi mới nhưng còn
chậm. Xây dựng mục tiêu GDĐĐ chưa bắt kịp với xu thế hội nhập hiện nay.
Công tác thi đua khen thưởng còn chiếu lệ, hình thức. Điều đó cho thấy
chúng ta cần quan tâm tới đổi mới phương pháp và hình thức GDĐĐ, thực
hiện mục tiêu giá trị đạo đức; tài liệu, học liệu phục vụ công tác GDĐĐ học
sinh,…
2.3.2.Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức trong các trường tiểu
học
13
2.3.3. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến nội dung quản lý
Qua bảng 2.9 có thể rút ra nhận xét: trong số 13 nội dung có ảnh hưởng
tới GDĐĐ học sinh tiểu học ta thấy các lực lượng có tầm quan trọng nhất là:
Gia đình; Cán bộ đội ngũ làm công tác GDĐĐ; Điều kiện cơ sở vật chất,
nguồn lực, chương trình, vấn đề môi trường giáo dục trong nhà trường; Hình
thức tổ chức GDĐĐ trong trường; Hội phụ huynh; Năng lực quản lý của
Hiệu trưởng. Kết quả này chứng tỏ gia đình và nhà trường có ảnh hưởng rất
lớn tới việc GDĐĐ học sinh.
Các tổ chức xã hội cũng được đánh giá có ảnh hưởng quan trọng đến
GDĐĐ cho HS như: Truyền thống văn hóa nhà trường; Chính quyền địa
phương; Hội khuyến học; Dòng họ địa phương; Đài phát thanh địa phương;
Địa bàn dân cư; Các cơ sở kinh tế, cơ sở văn hóa. Đây là những lực lượng mà
nhà trường cần phải kết hợp chặt chẽ để GDĐĐ cho HS có như vậy hiệu quả
GDĐĐ sẽ được nâng cao.
Qua khảo sát tác giả thấy gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình có vai
trò quan trọng trong việc GDĐĐ học sinh. Nhưng trong thực tế không ít các
cha mẹ học sinh còn phó mặc con cho nhà trường, không quan tâm thường
xuyên đến việc học, đến rèn luyện phẩm chất đạo đức của con em, có nhiều
phụ huynh không đi họp cho con nên thông tin 2 chiều có phần ảnh hưởng.
Đội ngũ làm công tác GDĐĐ hoạt động tích cực luôn là tấm gương cho học
sinh noi theo, nhưng đội ngũ này còn thiếu chưa đáp ứng được nhu cầu
GDĐĐ hiện nay.
Một số lực lượng giáo dục khác chưa thật sự kết hợp tốt, còn nhiều hạn
chế trong việc GDĐĐ học sinh như các cơ sở kinh tế, văn hóa; chính quyền
địa phương; truyền thống văn hóa nhà trường, các đội ngũ này chưa đáp ứng
được đòi hỏi công tác GDĐĐ học sinh. Thời gian học tập và sinh hoạt của
học sinh tiểu học đa số là ở trường, thời gian còn lại của các em là gia đình và
xã hội. Nếu nhà trường không phối hợp tốt với chính quyền địa phương, địa
Tiểu kết chương 2
Công tác GDĐĐ cho học sinh ở các trường tiểu học thành phố Bắc
Giang, tỉnh Bắc Giang trong những năm gần đây đã đạt được những kết quả
tốt. Các trường tiểu học đều quan tâm đến công tác GDĐĐ cho HS: có thành
lập ban chỉ đạo, có kế hoạch hoạt động, có tổ chức triển khai, giao nhiệm vụ
cụ thể tới từng bộ phận trong nhà trường để cùng GDĐĐ học sinh. Tuy
nhiên, các trường tiểu học vẫn có những học sinh chưa ngoan, còn vi phạm
đạo đức,... Nguyên nhân cơ bản là công tác quản lý GDĐĐ cho học sinh còn
hạn chế, các nội dung quản lý GDĐĐ chưa phù hợp. Để khắc phục tình trạng
này đòi hỏi đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý phải tìm tòi, nghiên cứu tìm
ra những biện pháp để nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh, hạn chế tình
trạng học sinh yếu kém về hạnh kiểm. Đó là nội dung mà tác giả sẽ tập trung
làm rõ trong chương tiếp theo của luận văn.
Chương 3
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC Ở THÀNH PHỐ BẮC
GIANG, TỈNH BẮC GIANG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
3.1. Các nguyên tắc xây dựng biện pháp
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu giáo dục tiểu học
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa
3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho HS các
trường tiểu học ở thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
3.2.1. Biện pháp 1. Đẩy mạnh công tác truyền thông các trường TH trong
công tác giáo dục đạo đức học sinh.
15
Khai thác các trang mạng về cách GDĐĐ cho học sinh để vận dụng dạy
học cho trường trong thành phố.
Lập trang website trao đổi kinh nghiệm về quản lý HĐGDĐĐ cho học
sinh cho phù hợp với điều kiện từng trường.
Tổ chức hoạt động các phong trào thi đua trong nhà trường hướng tới
tuyên truyền các hành vi, thói quen đạo đức để giáo dục học sinh.
Xây dựng kế hoạch đẩy mạnh công tác truyền thông đối với nhà trường
như sử dụng kênh mạng để tuyên truyền công tác GDĐĐ giữa các nhà
trường.
Phối hợp chặt chẽ với loa truyền thanh, đài địa phương để tuyên truyền
tấm gương người tốt việc tốt, về nội dung an toàn giao thông, chăm sóc nghĩa
trang liệt sĩ, mẹ Việt Nam anh hùng,…
16
Sử dụng trang website của trường để tuyên truyền công tác GDĐĐ học
sinh, cũng như phối hợp chặt chẽ giữa các trường trong công tác GDĐĐ như
đưa những hoạt động trải nghiệm sáng tạo, tham quan di tích lịch sử, thăm
làng nghề truyền thống giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc,…
Sử dụng sổ liên lạc điện tử trong công tác giáo dục học sinh để gia
đình, xã hội có những việc làm kịp thời điều chỉnh những hành vi lệch chuẩn
của con em mình.
Có kế hoạch tổ chức các HĐGDĐĐ cho HS như học và làm theo đạo
đức Hồ Chí Minh, kể chuyện tấm gương Bác Hồ, Chúng em học và làm theo
lời Bác Hồ dạy. Vượt khó trong học tập, giúp đỡ bạn trong học tập.
Đối với CBQL phải nắm vững các văn bản của cấp trên về công tác
GDĐĐ cho HS, quán triệt CBGV, NV, HS và cha mẹ học sinh một cách đầy
đủ kịp thời; chỉ đạo vận động các lực lượng trong nhà trường cùng tham gia
thực hiện công tác GDĐĐ cho HS có hiệu quả hơn.
17
Nhằm phát triển các giá trị đạo đức là bồi dưỡng các phẩm chất đạo
đức, rèn luyện các thói quen đạo đức ở họ sinh, từ đó hình thành, phát triển
hoàn thiện nhân cách các em.
3.2.2.2. Nội dung và cách thức thực hiện
Đối với BGH xây dựng kế hoạch phát triển mục tiêu GDĐĐ dựa trên
chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa - hiện
đại hóa hội nhập quốc tế được chia thành năm nhóm phản ánh các mối quan
hệ chính mà con người phải giải quyết đó là: nhận thức tư tưởng chính trị;
hướng vào sự hoàn thiện bản thân; quan hệ với con người và dân tộc khác;
xây dựng môi trường sống; quan hệ đối với công việc.
Có kế hoạch chia theo từng giai đoạn đạt tới từng mục tiêu giáo dục
đạo đức trong tình hình mới.
Triển khai các kế hoạch cho các trường thực hiện, chuẩn bị các nguồn
lực về con người, điều kiện CSVC, thời gian, chương trình, học liệu,..hỗ trợ
cho sự đổi mới.
CBQL các trường lên kế hoạch giáo dục đạo đức ở trường mình sao
cho phù với chủ trương của Đảng, Nhà nước, với ngành, với địa phương đáp
ứng như cầu hội nhập.
Bồi dưỡng đội ngũ CBGV có năng lực chuyên môn bằng cách mở các
lớp tập huấn chuyên đề về GDĐĐ cho HS để các trường tham gia thực hiện.
CBQL các trường xây dựng chương trình, tài liệu, học liệu dựa theo
văn bản của Nhà nước, của ngành, tình hình của từng địa phương hỗ trợ cho
giáo dục đạo đức theo kế hoạch đã dặt ra.
CBQL các trường có kế hoạch về thời gian, con người, cũng như kinh
phí, cơ sở vật chất để hỗ trợ công tác GDĐĐ cho HS.
Đối với GVCN, GVBM, TPT: thông qua bài học, các em được trang bị
những kiến thức cơ bản, có hệ thống từ đó được rèn kĩ năng sống, hình thành
nhứng phẩm chất đạo đức, hành vi ứng xử chuẩn mực, đúng quy trình,
CBQL xây dựng kế hoạch, họp ban liên tịch để thảo luận, góp ý và phổ
biến cho các đơn vị và các lớp thực hiện. Kế hoạch phải sát sao với từng mục
tiêu, nhiệm vụ, nội dung cụ thể. Phát triển hình thức tổ chức các chuyên đề
theo hướng phát triển năng lực học sinh bằng cách tăng cường hoạt động thực
hành trải nghiệm sáng tạo.
CBQL lên kế hoạch tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
Tổ chức sân khấu hóa ngoài trời qua giờ chào cờ đầu tuần, HS được tự
mình tổ chức các hoạt động trong giờ chào cờ theo ý tưởng của mình.
Thông qua các môn học đặc biệt là môn Đạo đức nhằm giúp các em có
nhận thức đúng đắn về một số giá trị đạo đức cơ bản, về nội dung cơ bản của
một số quyền và nghĩa vụ công dân.
Tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, các hoạt động ngoài
giờ lên lớp rất phong phú về nội dung và hình thức tổ chức như các hoạt động
tập thể, vui chơi sinh hoạt chủ điểm, văn nghệ thể dục thể thao, nêu gương
người tốt việc tốt, các hoạt động giao lưu giữa các trường, tham quan danh
lam thắng cảnh, làng nghề truyền thống, di tích lịch sử địa phương,…
Tổ chức phát động các phong trào thi đua dạy tốt - học tốt. CBQL cần
đặc biệt quan tâm chú ý xây dựng trường lớp xanh - sạch - đẹp - an toàn, thiết
lập hệ thống phát thanh truyền thông, ứng dụng công nghệ thông tin, xây
dựng phòng truyền thống, gắn các bảng vàng thành tích cá nhân, tập thể.
Khai thác các trang website để đưa những nội dung GDĐĐ bằng những
chuyên đề tự chọn, các bài tập tình huống, các mẫu hành vi phong phú về các
chuẩn mực đạo đức để các trường tham khảo, học tập lẫn nhau, đưa những
nội dung đó áp dụng GDĐĐ ở trường mình.
Tổ chức tuyên dương, khen thưởng những cá nhân, tập thể đã đạt
thành tích tốt trong học kì, kết thúc năm học. Nêu những tấm gương “người
tốt- việc tốt”, tiến bộ trong học tập, đạo đức,... .
Tăng cường giao lưu giữa các trường bằng những hoạt động phong phú
đa dạng để GDĐĐ cho HS: Giao lưu Chủ tịch Hội đồng tự quản giỏi; Giao
Mục tiêu của biện pháp phối hợp hiệu quả giữa nhà trường, gia đình và
các lực lượng xã hội trong công tác GDĐĐ cho HS nhằm phát huy sức mạnh
tổng hợp của nhà trường, gia đình và xã hội cộng đồng là trách nhiệm chăm
lo GDĐĐ cho học sinh và phát huy những tiềm năng phong phú của toàn xã
hội (về vật chất và tinh thần) tham gia vào giáo dục thế hệ trẻ.
3.2.4.2. Nội dung và cách thức thực hiện
Xây dựng môi trường nhà trường: Hiệu trưởng phải huy động các lực
lượng xã hội cùng chăm lo xây dựng nhà trường từ cơ sở vật chất, cảnh quan,
nền nếp, kỷ cương, không khí học tập...
Xây dựng môi trường gia đình: Gia đình là tế bào của xã hội, là thành
trì vững chắc để bảo vệ, chăm sóc GDĐĐ học sinh. Có thể nói gia đình là
môi trường thứ nhất, đầu tiên và lâu dài trong quá trình rèn luyện và hình
thành nhân cách thế hệ trẻ
20
Xây dựng môi trường xã hội tích cực: Xã hội là môi trường rộng lớn,
phức tạp luôn biến động, cái tích cực và cái tiêu cực đan xen nhau. Do đó,
nhà trường cùng các cấp uỷ Đảng, chính quyền, cơ quan, đoàn thể... cùng
phối hợp, ra sức xây dựng môi trường xã hội tích cực.
Nhà trường cần tích cực tham mưu với lãnh đạo của Đảng, chính quyền
địa phương để có được sự chỉ đạo, gắn kết giữa nhà trường với các tổ chức,
đoàn thể địa phương. .
3.2.4.3. Điều kiện thực hiện
- Xây dựng được mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó giữa nhà trường, gia
đình và xã hội.
- Các lực lượng tham gia phối hợp GDĐĐ cho học sinh phải nhiệt tình
tâm huyết, hết lòng vì thế hệ trẻ.
3.2.5. Biện pháp 5. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá HĐGDĐĐ các
21
Đối với việc khen thưởng, trách phạt học sinh thực hiện theo qui trình:
cá nhân, tập thể học sinh tự đánh giá, GVCN thống nhất đánh giá kết quả xếp
loại thi đua và trình Hội đồng thi đua xét duyệt. Sau khi có ý kiến của Hội
đồng thi đua Hiệu trưởng phê duyệt và tiến hành khen thưởng, trách phạt.
Các hình thức khen thưởng gắn với các phong trào thi đua. Vì vậy, cần
xây dựng phong trào thi đua lành mạnh, tránh tình trạng “ganh đua” ảnh
hưởng xấu đến chất lượng giáo dục.
BGH thường xuyên thực hiện các biện pháp kiểm tra, đánh giá công tác
GDĐĐ của các trường, GVCN, GVBM. BGH trực tiếp kiểm tra, đánh giá
hoặc phân công tổ trưởng chuyên môn tiến hành kiểm tra.
3.2.5.3. Điều kiện thực hiện
Phải động viên, khuyến khích được đội ngũ CBGV và HS thực hiện có
hiệu quả công tác giáo dục đạo đức và rèn luyện đạo đức.
Xây dựng được chế độ thưởng phạt hợp lý, cụ thể cho từng đối tượng.
Mức thưởng, phạt phải đủ để động viên khuyến khích, răn đe và phòng chống
các tiêu cực có thể xảy ra, đồng thời động viên đẩy mạnh được phong trào.
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp
3.4. Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
3.4.1. Mục đích khảo nghiệm
3.4.2. Nội dung khảo nghiệm
3.4.3. Đối tượng khảo nghiệm
Việc khảo nghiệm được tiến hành bằng cách thăm dò ý kiến 30 khách
thể gồm: các nhà khoa học, CBQL, GV.
Định lượng đánh giá bằng cách cho điểm như sau:
Mức độ cần thiết
Điểm
Mức độ khả thi
Không
cần
thiết
Cần Rất cần ĐTB
thiết
thiết
Thứ
bậc
0
9
21
2.70
2
1
6
23
2.73
1
5
1
7
22
2.70
2
2.67
Cả 5 biện pháp đề tài đề xuất đều mang tính cần thiết cao với việc
quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS các trường TH ở thành phố Bắc Giang,
tỉnh Bắc Giang.
Bảng 3.2. Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp quản lý
hoạt động giáo dục đạo đức.
TT
Biện pháp
Đẩy mạnh công tác truyền thông các
1 trường TH trong công tác giáo dục
đạo đức học sinh.
2
3
4
1
6
23
2.73
1
2
7
21
2.63
5
2
8
20
2.60
4
1. Kết luận
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, có vai trò cực kỳ quan
trọng trong đời sống xã hội. Đạo đức chỉ được hình thành thông qua quá trình
giáo dục, đó là một quá trình lâu dài, liên tục, xen kẽ giữa giáo dục, tự giáo
dục, giáo dục lại và mang tính nghệ thuật.
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc GDĐĐ cho học sinh tiểu
học đòi hỏi cá nhân, người làm công tác giáo dục phải hiểu sâu sắc tâm lí lứa
tuổi học sinh tiểu học, hiểu hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế, văn hóa,
chính trị xã hội của địa phương. Bên cạnh đó người quản lý phải hiểu mục
tiêu quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh, biết áp dụng hệ thống các
phương pháp GDĐĐ thích hợp, có hiệu quả.
Trong quản lý công tác GDĐĐ học sinh ở trường tiểu học, Hiệu trưởng
nhà trường phải xác định rõ mục tiêu, nắm vững nội dung, phương pháp
GDĐĐ cho HS, huy động được các lực lượng tham gia một cách tích cực và
có hiệu quả trong công tác này. Để quản lý công tác GDĐĐ của HS ở các
trường tiểu học được tốt thì bên cạnh việc nắm vững những vấn đề về lý luận,
Hiệu trưởng phải đánh giá một cách khách quan, khoa học về thực trạng quản
lý công tác GDĐĐ ở trường tiểu học từ đó đưa ra những biện pháp quản lý có
tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay.
Nghiên cứu điều tra thực trạng cho thấy, công tác GDĐĐ cho học sinh ở các
trường tiểu học thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang trong những năm gần đây
vẫn chưa thực sự tốt, cần có những tác động cụ thể để cải thiện. Nguyên nhân cơ
bản là công tác quản lý GDĐĐ cho học sinh còn hạn chế, các giải pháp quản lý
GDĐĐ chưa thiết thực và khả thi. Để khắc phục tình trạng này đòi hỏi đội ngũ
cán bộ làm công tác quản lý phải tìm tòi, nghiên cứu tìm ra những biện pháp để
nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh.
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng, tác giả đã đề xuất các biện pháp để
quản lý HĐGDĐĐ cho các trường tiểu học thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc
Giang: 1. Nâng cao nhận thức cán bộ quản lý về công tác giáo dục đạo đức
trong bối cảnh hội nhập; 2. Xây dựng lộ trình đạt mục tiêu giáo dục đạo đức
- Cần thường xuyên đánh giá thực trạng HĐGDĐĐ ở các trường tiểu
học để phát hiện những mặt tiêu cực, tìm ra những mặt tích cực.
- Tăng cường thực hiện quy chế phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội
trong giáo dục đạo đức học sinh.
- Có chính sách hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động GDĐĐ đạo đức cho học
sinh, động viên kịp thời những tổ chức, cá nhân có tâm huyết và thành tích trong
công tác GDĐĐ đạo đức học sinh.