BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THỦY
HOÀN THIỆN QUY TRÌNH,
THỦ TỤC BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT CỦA
QUỐC HỘI NƯỚC TA HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THỦY
HOÀN THIỆN QUY TRÌNH,
THỦ TỤC BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT CỦA
QUỐC HỘI NƯỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp
Mã số
kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi học tập, nghiên cứu.
Cảm ơn đồng nghiệp, gia đình, anh, chị, em và bạn bè đã động viên khích
lệ, tạo điều kiện, giúp đỡ, quan tâm, đóng góp ý kiến quý báu để tác giả hoàn
thành bản Luận án này.
Hà Nội, ngày 02 tháng 4 năm 2018
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thủy
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU.........................................................................................................................1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN............7
1.1. Đánh giá tình hình nghiên cứu đề tài luận án .....................................................7
1.1.1. Các công trình nghiên cứu khoa học liên quan chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của Quốc hội.........................................................................7
1.1.2. Các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến hoạt động ban
hành nghị quyết của Quốc hội ...................................................................11
1.1.3. Các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến quy trình, thủ
tục ban hành nghị quyết Quốc hội .............................................................12
1.2. Sự kế thừa, phát triển và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu ...................16
1.2.1. Những kết quả nghiên cứu mà luận án sẽ kế thừa và phát triển ................16
1.2.2. Cơ sở lý luận và giả thuyết nghiên cứu.......................................................22
1.3. Hướng nghiên cứu của luận án............................................................................24
Kết luận chương 1 ........................................................................................................25
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH THỦ TỤC
BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT QUỐC HỘI................................................................26
3.2.2. Quy định của pháp luật về ban hành nghị quyết quy phạm
pháp luật của Quốc hội theo quy trình, thủ tục rút gọn............................84
3.2.3. Quy định của pháp luật về quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết
áp dụng pháp luật của Quốc hội ................................................................85
3.3. Đánh giá quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội...................107
3.3.1. Những kết quả đạt được trong quy trình, thủ tục ban hành
nghị quyết của Quốc hội .........................................................................107
3.3.2. Những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật về quy trình,
thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội, nguyên nhân .......................111
Kết luận Chương 3 .....................................................................................................122
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY TRÌNH,
THỦ TỤC BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI NƯỚC TA............124
4.1. Quan điểm hoàn thiện quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của
Quốc hội nước ta hiện nay ................................................................................124
4.1.1. Hoàn thiện quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội
cần được tiến hành đồng thời với việc đổi mới tổ chức và hoạt
động của Quốc hội ...................................................................................124
4.1.2. Hoàn thiện quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội
phải đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.....................................126
4.1.3. Hoàn thiện quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội
phải góp phần nâng cao giá trị pháp lý của nghị quyết...........................128
4.1.4. Hoàn thiện quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội
phải bảo đảm nâng cao chất lượng nghị quyết........................................129
4.1.5. Hoàn thiện quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội
nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và
phù hợp với xu thế của các nước .............................................................130
4.1.6. Hoàn thiện quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội
: Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
CATANDTC : Chánh án Toà án nhân dân tối cao
ĐBQH
: Đại biểu Quốc hội
QPPL
: Quy phạm pháp luật
TANDTC
: Toà án nhân dân tối cao
UBPL
: Ủy ban pháp luật
UBTVQH
: Ủy ban Thường vụ Quốc hội
VBQPPL
: Văn bản quy phạm pháp luật
VKSNDTC
Thực hiện chức năng mà Hiến pháp quy định, trong những năm qua, Quốc hội
đã phát huy được vai trò của mình trong hoạt động lập pháp và đạt được những kết
quả cao trong hoạt động này. Bên cạnh đó, việc quyết định những vấn đề quan trọng
của đất nước cũng được chú trọng và đổi mới nhằm bảo đảm cho các quyết định của
Quốc hội kịp thời, chính xác, đáp ứng tốt nhiệm vụ của Nhà nước và xã hội. Nội
dung nghị quyết của Quốc hội tập trung vào nhiều lĩnh vực quan trọng của đời sống
xã hội, chất lượng nghị quyết của Quốc hội càng được đảm bảo. Để đạt được những
thành công đó, một trong những lí do chính là quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết
của Quốc hội đã không ngừng được sửa đổi, bổ sung. Tuy nhiên, quy trình, thủ tục
ban hành nghị quyết của Quốc hội vẫn còn bộc lộ một số hạn chế và bất cập. Một
trong nguyên nhân dẫn đến hạn chế này là do quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết
2
còn chưa thực sự đồng bộ và hoàn thiện, còn có quan điểm khác nhau về tính chất,
nội dung nghị quyết; công tác tham mưu cho Quốc hội trong việc ban hành nghị
quyết chưa kịp thời...
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả ban hành nghị quyết của Quốc hội, đòi hỏi
cần nghiên cứu một cách có hệ thống và đồng bộ về quy trình, thủ tục ban hành
nghị quyết để từ đó đề xuất những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện quy định của
pháp luật về nghị quyết, quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội. Trong
bối cảnh đó, tác giả Luận án chọn đề tài: “Hoàn thiện quy trình, thủ tục ban hành
nghị quyết của Quốc hội nước ta hiện nay” làm luận án tiến sĩ có ý nghĩa cả về lý
luận và thực tiễn.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết
của Quốc hội nước ta. Trong đó, tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực
tiễn về nghị quyết và quy trình thủ tục ban hành nghị quyết Quốc hội.
Phạm vi nghiên cứu được xác định là những quy định của pháp luật về quy
trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội nước ta từ khi có Luật BHVBQPPL
- Phương pháp tiếp cận hệ thống, tiếp cận liên ngành: Đây là nhóm các
phương pháp được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn
được vận dụng trong nghiên cứu luật học (phương pháp tiếp cận của chuyên ngành
Luật hiến pháp, Luật hành chính, Lý luận nhà nước và pháp luật…).
- Phương pháp nghiên cứu gián tiếp: Phương pháp được tiến hành thông qua
tổng hợp và phân tích số liệu, cụ thể là các số liệu sơ cấp.
- Phương pháp nghiên cứu trực tiếp: Trên cơ sở tham khảo những công trình
khoa học của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, những người phụ trách nghiên
cứu lĩnh vực chính trị, pháp luật để thu nhận những thông tin, đặc biệt là các quan
điểm, cách tiếp cận và sự lập luận có giá trị cho luận án.
4.2. Phương pháp cụ thể
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, tác giả sử dụng các
phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích, được sử dụng trong quá trình xây dựng khái niệm,
phân tích đặc điểm, nghị quyết của Quốc hội; phân tích quy trình, thủ tục ban hành
nghị quyết Quốc hội nước ta. Phân tích sơ cấp bao gồm các Văn kiện của Đảng và
VBQPPL của Nhà nước. Phân tích thứ cấp bao gồm phân tích các bài báo, tạp chí
chuyên ngành.
- Phương pháp tổng hợp, gồm tổng hợp những quan điểm khoa học về nghị
quyết và quy trình thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội; tổng hợp các quy định
của pháp luật về quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội, đánh giá những
4
hạn chế, bất cập trong quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết. Việc sử dụng phương
pháp này giúp đẩy mạnh tính thuyết phục, tính khoa học của các giải pháp mà luận án
đề xuất.
- Phương pháp so sánh, được sử dụng trong quá trình làm rõ sự khác nhau
giữa các nghị quyết Quốc hội và giữa nghị quyết với luật khi quy định về quy trình,
thủ tục ban hành nghị quyết Quốc hội. Phương pháp này được vận dụng trong việc
luận cho nghị quyết của Quốc hội; phân định rõ nội dung của nghị quyết với nội dung
của các VBQPPL khác (luật của Quốc hội); hoàn thiện tính chất pháp lý nghị quyết
của Quốc hội; tăng cường và nâng cao trách nhiệm của những người tham gia vào
quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội; hoàn thiện lý luận về quy trình,
thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội nước ta như: về quy trình, thủ tục lập đề
nghị của Chính phủ về Chương trình xây dựng nghị quyết và đánh giá tác động chính
sách; hoạt động soạn thảo dự thảo nghị quyết, về hoạt động thẩm định, thẩm tra; công
bố và đăng công báo nghị quyết của Quốc hội…
Về thực tiễn: Dựa và quy định của pháp luật, vận dụng đúng quy trình, thủ tục
ban hành nghị quyết trong thực tiễn hoạt động của Quốc hội.
5.1. Những nội dung kế thừa và hệ thống hóa
- Luận án kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trước đây
về một số nội dung liên quan đến cơ sở lý luận về nghị quyết của Quốc hội; kế thừa
kết quả nghiên cứu về quy trình Quốc hội xem xét thông qua nghị quyết; quy trình,
thủ tục ban hành các nghị quyết của Quốc hội về kinh tế xã hội, quyết định các vấn đề
quan trọng của đất nước.
- Luận án hệ thống hóa các quan điểm về tính chất, nội dung nghị quyết của
Quốc hội; quy định của pháp luật về quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của
Quốc hội.
5.2. Những nội dung nghiên cứu, khảo sát, phát hiện
- Phân tích khái niệm, đặc điểm nghị quyết của Quốc hội; phân loại nghị
quyết; phân loại quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết; làm rõ vai trò và yêu
cầu đối với nghị quyết và quy trình thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội
nước ta.
- Phân tích, đánh giá ưu điểm, hạn chế trong quy trình, thủ tục ban hành nghị
quyết và quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội nước ta.
- Luận giải quan điểm và các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về
quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội, cụ thể đó là: xác định rõ tính
chất pháp lý nghị quyết của Quốc hội; hoàn thiện quy trình, thủ tục ban hành nghị
quyết của Quốc hội.
quyền hạn của Quốc hội
- Đề tài khoa học cấp Bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trò, nhiệm
vụ, quyền hạn của Quốc hội trong bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị Việt Nam”
của TS Ngô Đức Mạnh đưa ra hai cơ sở để nghiên cứu: lý luận và thực tiễn để đánh
giá về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội; nghiên cứu vị trí, vai trò của
Quốc hội trong tổ chức bộ máy nhà nước; nghiên cứu các đặc điểm của Quốc hội với
tính chất là cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân và là cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhất; nghiên cứu các căn cứ để xác định chức năng, thẩm quyền của Quốc hội
trong bộ máy nhà nước trên quan điểm đổi mới.
- “Quốc hội Việt Nam trong Nhà nước pháp quyền” của PGS.TS Nguyễn
Đăng Dung năm 2007 là cuốn sách có giá trị rất lớn trong quá trình tác giả luận án
nghiên cứu. Trong cuốn sách này, việc nghiên cứu bắt đầu từ những yêu cầu chung
đối với Quốc hội theo những tiêu chí đặt ra của Nhà nước pháp quyền. Từ đó đòi hỏi
Quốc hội Việt Nam cần xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động nhằm đáp ứng
yêu cầu của một Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân
dân. Đồng thời, đưa ra những phương cách giúp Quốc hội thực hiện tốt sự uỷ quyền
của Nhân dân. Khi nói đến hoạt động của Quốc hội, cuốn sách khẳng định: “Xét cho
8
cùng Hiến pháp, luật và các nghị quyết khác của Quốc hội đều là những quyết định
của Quốc hội” [14, tr.177]. Điều đó chứng tỏ rằng, hình thức văn bản có thể khác
nhau, nhưng quyết định cuối cùng phải thể hiện được đa số ý chí của các ĐBQH,
cũng là ý chí và quyền lợi của Nhân dân. Vì thế, các quyết định của Quốc hội chỉ đạt
chất lượng tốt khi chúng được ban hành theo đúng quy trình, thủ tục, có sự phù hợp
giữa nội dung với hình thức, tên gọi của văn bản.
- “Một số vấn đề về đổi mới hoạt động lập pháp của Quốc hội trong giai đoạn
hiện nay” của tác giả Đinh Xuân Thảo (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số tháng
1/2011) đề cập trực tiếp đến chức năng lập pháp của Quốc hội. Ngoài những ghi nhận
mà Quốc hội đã và đang làm được trong thời gian qua như ban hành một khối lượng
Nguyễn Sĩ Dũng chủ biên và Hoàng Minh Hiếu đồng chủ biên xuất bản năm 2014.
Cuốn sách là thành quả nghiên cứu rất công phu về nghị viện của một số nước trên
thế giới như: Hoa Kỳ, Đức, Thụy Điển, Trung Quốc… Một trong những nội dung
được cuốn sách tập trung nghiên cứu như: bản chất, vai trò, chức năng, cơ cấu tổ
chức của Nghị viện một số nước, quy trình, thủ tục hoạt động của nghị viện một số
nước; tổ chức, hoạt động của các cơ quan mô hình tổ chức và hoạt động của cơ quan
giúp việc nghị viện. Trong đó, làm rõ mối quan hệ giữa tính chất của nghị viện với
quy trình và thủ tục làm việc của nghị viện như: tính chất làm việc tập thể của nghị
viện yêu cầu phải xây dựng những quy trình, và thủ tục làm việc hợp lý [132, tr.226];
hoạt động lập pháp của nghị viện có vai trò quan trọng đối với quốc gia, nên yêu cầu
công việc của nghị viện phải được tổ chức theo những quy trình và thủ tục chặt chẽ
[132, tr.227]; quy trình và thủ tục làm việc của nghị viện được xây dựng để đảm bảo
tính dân chủ của nghị viện.
- “Mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, Chính phủ”,
của GS.TS Trần Ngọc Đường xuất bản năm 2008; nội dung cuốn sách này nghiên
cứu 3 phần lớn, trong mỗi phần được kết cấu thành các chương. Phần 1 bao gồm cơ
sở lý luận của việc đổi mới mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc
hội và Chính phủ trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; phần 2 nghiên cứu
về thực trạng mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, Chính phủ
ở nước ta và phần 3 nghiên cứu việc cần hoàn thiện mô hình tổ chức, phương thức
hoạt động của Quốc hội, Chính phủ theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền
XHCN hiện nay.
- Quốc hội Việt Nam, Tổ chức, hoạt động và đổi mớicủa tác giả Phan Trung
Lý xuất bản năm 2010. Cuốn sách là công trình khoa học nghiên cứu công phu về
nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Quốc hội; đặc biệt chương 2 nghiên cứu đến
10
hoạt động lập pháp và giám sát của Quốc hội. Trong đó đặt ra yêu cầu cơ bản nhằm
đổi mới hoạt động lập pháp của Quốc hội như: đòi hỏi hoạt động lập pháp của Quốc
11
1.1.2. Các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến hoạt động ban
hành nghị quyết của Quốc hội
- Đề tài nghiên cứu cấp bộ “Hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo đối với Quốc
hội trong hoạt động lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước” do
GS. TS Hồ Trọng Ngũ làm chủ nhiệm. Đây là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị trên
cơ sở phân tích lý luận, thực tiễn để khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với
hoạt động của Quốc hội trong bối cảnh đất nước hội nhập sâu vào đời sống quốc tế,
xây dựng nền kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do
Nhân dân, vì Nhân dân; chứng minh nhu cầu khách quan phải tiếp tục đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động lập pháp, quyết định các vấn đề
quan trọng của đất nước; đánh giá những ưu điểm, hạn chế và tìm ra nguyên nhân tác
động đến sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong hoạt động lập pháp, quyết
định những vấn đề quan trọng của đất nước. Đồng thời, xác định phương hướng, giải
pháp tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong hoạt động lập pháp, quyết định các
vấn đề quan trọng của đất nước. Trong đó, đề tài nhấn mạnh sự tăng cường, nâng cao
vai trò lãnh đạo củaĐảng đối với Quốchội chính là để củng cố, nâng cao sức mạnh
của Quốc hội trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.
- “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng và thực hiện nghị quyết của
Quốc hội” của PGS.TS Vũ Hồng Anh xuất bản năm 2013. Nội dung tập trung nghiên
cứu một số vấn đề liên quan đến nghị quyết của Quốc hội như: lý luận về tính pháp
lý, hiệu lực hiệu quả thực hiện nghị quyết, các tiêu chí để đánh giá hiệu lực hiệu quả
nghị quyết của Quốc hội, xác định những yếu tố tác động của nghị quyết… Công
trình cũng đánh giá thực trạng về việc thực hiện nghị quyết của Quốc hội ở Việt Nam
hiện nay, đưa ra những quan điểm và một số các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
thực hiện nghị quyết của Quốc hội Việt Nam gồm: giải pháp nâng cao tinh thần trách
nhiệm của những chủ thể tham gia vào quá trình xây dựng, các chủ thể tham gia vào
quá trình thông qua nghị quyết; nâng cao chất lượng nghị quyết; nâng cao công tác
luận và các yêu cầu đối với hoạt động của Quốc hội tại kỳ họp; đánh giá mức độ hoàn
thiện của hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam về quy trình, thủ tục hoạt
động của Quốc hội tại kỳ họp cũng như việc áp dụng các văn bản này trên thực tế; đề
tài còn đưa ra những quan điểm và các nguyên tắc nhằm đổi mới quy trình, thủ tục
hoạt động của Quốc hội. Quy trình, thủ tục làm việc của Quốc hội còn quy định ở
nhiều văn bản pháp luật khác nhau, điều đó ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động tại
kỳ họp của Quốc hội. Vì vậy, các giải pháp được đặt ra nhằm tiếp tục hoàn thiện các
quy định pháp luật về quy trình, thủ tục làm việc của Quốc hội.
13
- TS Hoàng Văn Tú là tác giả của công trình nghiên cứu: “Ủy ban thường vụ
Quốc hội (UBTVQH) xem xét, cho ý kiến về dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc
hội- thực trạng và kiến nghị” năm 2011. Tác giả nghiên cứu một cách hệ thống cơ sở
pháp lý về thẩm quyền của UBTVQH trong việc xem xét, cho ý kiến về các dự án
luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, xác định giá trị pháp lý việc xem xét, cho ý
kiến của UBTVQH về dự án luật, dự thảo nghị quyết. Đề tài còn nghiên cứu và xác
định các yêu cầu xem xét, cho ý kiến của UBTVQH về dự án luật, dự thảo nghị
quyết là một trong những giai đoạn của quy trình lập pháp của Quốc hội. Đồng thời
hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản trong quy trình lập pháp của Quốc hội, trong đó
tập trung đi sâu nghiên cứu quy định của pháp luật về vị trí, vai trò của UBTVQH
trong quy trình lập pháp. Công trình đánh giá tổng kết thực tiễn hoạt động của
UBTVQH trong việc xem xét, cho ý kiến dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc
hội, đánh giá những mặt được, những mặt hạn chế và đưa ra một số nhận xét, đánh
giá khoa học bước đầu, góp phần đưa ra một số kiến nghị để sửa quy trình trong
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (BHVBQPPL); đề xuất các giải pháp để
UBTVQH thực hiện thiết thực và hiệu quả hơn nhiệm vụ trên, cũng là góp phần
nâng cao chất lượng lập pháp của Quốc hội, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội trong giai đoạn mới.
- Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Quốc Thắng: “Hoàn thiện quy trình
trong báo cáo không nhắc đến quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội.
- Sách chuyên khảo “VBQPPL và quy trình ban hành VBQPPL” của tác giả
Phan Trung Lý. Cuốn sách nghiên cứu vào những nội dung cơ bản như khái niệm,
đặc điểm của VBQPPL, nguyên tắc xây dựng VBQPPL. Bên cạnh đó, cuốn sách đã
đi sâu vào nghiên cứu những quy định mới của Luật BHVBQPPL năm 2008, xác
định và phân tích thẩm quyền của các cơ quan ban hành VBQPPL, làm rõ quy trình
xây dựng, ban hành từng loại VBQPPL, đặc biệt là quy trình xây dựng, ban hành luật,
pháp lệnh và nghị quyết của Quốc hội.
- Ở bài viết “Tiếp tục hoàn thiện quy trình, thủ tục làm việc của Quốc hội”,
của tác giả Ngô Đức Mạnh nghiên cứu ở hai vấn đề cụ thể nhằm hoàn thiện quy trình,
thủ tục làm việc của Quốc hội. Một là, cơ sở pháp lý cho hoạt động của Quốc hội, tác
giả liệt kê các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của Quốc hội. Đồng thời, chỉ ra
những hạn chế trong quy định của pháp luật hiện hành. Hai là, tác giả đề xuất những
giải pháp dựa trên những nguyên tắc nhất định như phải đảm bảo tính dân chủ, bình
đẳng, tính công khai, đảm bảo tính khoa học trong quy trình, thủ tục làm việc của
Quốc hội.
15
- Tác giả Vũ Hồng Anh có bài viết: hoàn thiện quy trình, thủ tục tiến hành
phiên họp toàn thể của Quốc hội đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp. Bài viết có
hướng tiếp cận sâu về quy trình, thủ tục tiến hành phiên họp theo quy định tại nội quy
kỳ họp Quốc hội và vai trò của quy trình, thủ tục phiên họp toàn thể. Bao gồm 4 vai
trò: sự đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp cho các quyết định của Quốc hội, đảm bảo
chất lượng cho các quyết định của Quốc hội. Bên cạnh đó, tác giả cũng phân loại
thành 5 quy trình, thủ tục phiên họp toàn thể như quy trình thủ tục quyết định cơ cấu
và tổ chức nhân sự; quy trình, thủ tục thông qua dự án luật; quy trình, thủ tục thông
qua dự thảo nghị quyết. Đồng thời đánh giá những điểm bất hợp lý trong quy trình
tiến hành phiên họp toàn thể của Quốc hộivà đưa ra 5 giải pháp cần thiết nhằm hoàn
thiện quy trình, thủ tục này.
Qua khảo cứu các công trình nghiên cứu về nghị quyết Quốc hội, đặc biệt là
quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết Quốc hội ở trong nước và nước ngoài đã nêu,
người viết luận án có những nhận xét, đánh giá sau:
1.2.1. Những kết quả nghiên cứu mà luận án sẽ kế thừa và phát triển
Thứ nhất, mặc dù đã có một số công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến
quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội nhưng chưa nghiên cứu có chiều
sâu, mang tính hàn lâm. Có thể nói, các công trình nghiên cứu nêu trên là những công
trình nghiên cứu trên diện rộng và chưa khai thác đến vấn đề trọng tâm của luận án.
Thứ hai, chủ yếu nghiên cứu về vấn đề đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả
hoạt động Quốc hội trên tất cả các chức năng của Quốc hội, trong đó có chức năng
lập pháp và quy trình lập pháp mà chưa có bất kỳ một công trình nghiên cứu nào
nghiên cứu trực tiếp đến quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Quốc hội. Hiện
nay, một số công trình có nội dung gần với đề tài chúng tôi đang nghiên cứu, nhưng
không trùng với đối tượng nghiên cứu của luận án. Đối với quy trình, thủ tục ban
hành và các giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của
Quốc hội là nội dung mới mà các công trình nghiên cứu trên rất ít được đề cập đến.
Thứ ba, nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho luận án của chúng tôi là:
- “Quy trình, thủ tục trong hoạt động của Quốc hội” như đã trình bày ở trên,
được Ban công tác lập pháp của UBTVQH ấn hành là nguồn tài liệu quý giá. Trong
tài liệu này, các tác giả chia làm 3 nội dung lớn bao trùm lên tất cả các hoạt động của
Quốc hội. Bao gồm cơ sở lý luận về quy trình, thủ tục trong hoạt động của Quốc hội
Việt Nam như quy trình lập hiến, quy trình lập pháp, quy trình trong hoạt động giám
17
sát, quy trình trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, quy trình
trong việc quyết định vấn đề về tổ chức bộ máy. Trong quy trình, thủ tục của hoạt
động lập pháp, tài liệu có đề cập đến quy trình soạn thảo, thẩm tra, cho ý kiến, thông
qua và công bố luật. Đồng thời đề cập nghị quyết có chứa QPPL của Quốc hội và
diễn giải quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết Quốc hội giống với luật. Tuy nhiên,