Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
TRẦN HOÀI THU
HƢỚNG DẪN HỌC SINH PHÂN TÍCH
GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG DẠY HỌC ĐOẠN TRÍCH
“HỒN TRƢƠNG BA, DA HÀNG THỊT” CỦA LƢU QUANG VŨ,
SGK NGỮ VĂN 12, TẬP 2, BỘ CƠ BẢN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN – 2010
THÁI NGUYÊN – 2010 LỜI CẢM ƠN
Em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc của mình tới
GS. TS Nguyễn Thanh Hùng – người thầy đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ
em trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ Văn
và khoa Sau đại học - trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên – Đại học Thái
Nguyên, đã tạo điều kiện - giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã tạo điều
kiện, giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Tác giả luận văn
Trần Hoài Thu
Luận văn đã được chỉnh sửa theo góp ý của hội đồng bảo vệ luận văn
Ngày 31/10/2010 tại Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
Trƣởng khoa Ngữ văn
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5. Phương pháp nghiên cứu 10
6. Những đóng góp của luận văn 10
7. Bố cục luận văn 11
NỘI DUNG 12
Chương 1. DẠY HỌC KỊCH BẢN VĂN HỌC “HỒN TRƢƠNG BA, DA
HÀNG THỊT” CỦA LƢU QUANG VŨ TRONG TRƢỜNG THPT 12
1.1. Lưu Quang Vũ - nhà viết kịch tài hoa 12
1.2. “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” - vở kịch với những trăn trở về lẽ sống,
lẽ làm người 14
1.3. Thực trạng dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” những
năm gần đây 16
1.3.1. Những khó khăn và thuận lợi khi dạy học đoạn trích 16
1.3.2. Đối tượng khảo sát, kết quả và phân tích kết quả khảo sát 18
1.3.3. Tài liệu khảo sát 24
1.3.4. Nguyên nhân của thực trạng dạy học đoạn trích 36
1.3.5. Hướng khắc phục tình trạng bất cập hiện nay trong dạy học đoạn
trích 38
Chương 2. “HỒN TRƢƠNG BA, DA HÀNG THỊT” – SỰ KHAO KHÁT
CUỘC SỐNG ĐÍCH THỰC CỦA CON NGƢỜI 41
2.1. Khái niệm kịch 41
2.2. Nét đặc sắc trong kịch bản văn học “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” 41
2.2.1. Mâu thuẫn phức tạp và xung đột quyết liệt 41 2.2.2. Ngôn ngữ đối thoại đầy dục vọng và có tính dự báo 46
2.2.3. Nhân vật hành động - nét đặc thù của kịch 51
2.2.4. Cốt truyện đậm chất dân gian và tinh thần hiện đại 53
2.3. Giá trị nhân văn – Nét điển hình của đoạn trích “Hồn Trương Ba, da
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cái chết đột ngột đã mang Lưu Quang Vũ rời xa chúng ta, cướp đi một
tài năng thực sự đang độ sáng tạo sung sức. Khi ông mất, trên sàn tập của
nhiều đoàn vẫn còn một loạt vở mới của ông. Những vở đang viết dang dở,
chúng theo ông ra đi; những vở đã hoàn thành sẽ ở lại, sống cùng sân khấu và
sống mãi trong lòng độc giả, sống mãi với thời gian
Trước khi đến với kịch, Lưu Quang Vũ đã khẳng định tài năng trong
thơ và truyện ngắn. Nhưng phải đến thể loại kịch, “tư tưởng và tài năng của
Lưu Quang Vũ mới được phát triển rực rỡ, sung mãn, để đưa ông trở thành
tác giả lớn, nhà viết kịch xuất sắc bậc nhất nước ta trong thế kỉ XX” (“Hồn
Trương Ba, da hàng thịt”: Văn học tuổi trẻ, số tháng 5 – 6/ 2010, trang 5 –
11, PGS. TS Nguyễn Văn Long).
Khi cho Lưu Quang Vũ chọn một vở kịch tâm đắc nhất, ông đã chọn
“Hồn Trương Ba, da hàng thịt”. Vở “Hồn Trương ba, da hàng thịt” được
viết năm 1981 nhưng đến năm 1984, trong không khí đổi mới dân chủ, vở
kịch mới được ra mắt công chúng. Những năm cuối thập niên 80, khi đi xem
tận mắt thì thấy vở kịch chẳng có gì đáng ngại nhưng khi nhìn trên mặt báo,
nghe trong dư luận thì vẫn thấy còn không ít e ngại. Mọi người vẫn kháo
nhau: “đi xem nhanh lên kẻo cấm mất” (Http://www.google.com.vn) Cùng
với thời gian, giá trị của vở kịch đã được khẳng định. Trong đó giá trị nhân
văn và tính triết lí là những điều không thể phủ nhận. Cho đến nay vở “Hồn
Trương Ba, da hàng thịt” đã được giàn dựng, công diễn trong và ngoài nước.
Vở kịch trở thành niềm tự hào cho nền kịch nói nước ta.
Chỉ là cốt truyện dân gian quen thuộc và chẳng mấy ai tranh luận về ý
nghĩa của nó nhưng khi Lưu Quang Vũ đưa lên sân khấu, vở kịch không dừng
Trần Hoài Thu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LL và PP DH Văn - Tiếng việt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LL và PP DH Văn - Tiếng việt
3
Bên cạnh việc dạy học tác phẩm tự sự và trữ tình, dạy học kịch vẫn là
vấn đề khá mới mẻ. Thực tế cho thấy, giáo viên và học sinh gặp rất nhiều khó
khăn khi lĩnh hội loại tác phẩm này. Học sinh lĩnh hội tác phẩm qua sự tiếp
nhận từ thầy cô với thái độ thờ ơ, lạnh nhạt. Hầu hết học sinh chỉ quen với
truyện ngắn, thơ, kí còn kịch lại tương đối xa lạ cho dù đã được tiếp xúc với
kịch từ THCS. Các em chỉ quen với những vở kịch sống động trên ti vi hay
trên sân khấu. Với các thể loại văn học khác, học sinh thường đón nhận hào
hứng và tiếp nhận nhanh. Còn những vở kịch ở hình thức kịch bản văn học
thường không được yêu thích và nói theo kiểu của học sinh thì đó là những
“món khó nuốt” Thực tế dạy học cho thấy, rất ít kì kiểm tra, kì thi lớn hay
nhỏ có sử dụng câu hỏi liên quan đến những đoạn trích kịch. Đây cũng là một
lý do khiến học sinh “học xong rồi quên ngay” khi các em vẫn chưa thực sự
thấu hiểu hết nội dung và ý nghĩa nhân văn của vở kịch. Tình trạng này đã
kéo dài trong suốt những năm qua, đến nay cần thay đổi; cần tìm một hướng
đi mới cho phù hợp, nhằm giúp học sinh nắm được giá trị nội dung, giá trị
nhân văn sâu sắc của những văn bản kịch ngay trên lớp học; tạo và duy trì
hứng thú cho các em với kịch bản văn học; tạo dư ba về đoạn trích cho học
sinh khi giờ học trên lớp kết thúc nhằm làm tăng tính thẩm mĩ và hiệu quả
giáo dục của kịch bản văn học lên mức cao nhất có thể.
Cho đến nay, ở nước ta đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu kịch
Lưu Quang Vũ. Một số khoá luận, luận văn tốt nghiệp về kịch Lưu Quang Vũ
theo nhiều hướng. Song vấn đề hướng dẫn học sinh phân tích giá trị nhân văn
trong dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” lại chưa có. Việc
nghiên cứu giá trị nhân văn – giá trị quan trọng nhất của vở kịch (trong từng
nhân vật đều có giá trị nhân văn nhất là nhân vật (hồn) Trương Ba) là một vấn
đề cần được quan tâm và đầu tư thích đáng.
Với thực tế dạy học hiện nay, việc dạy học đoạn trích theo hướng tập
chẳng khác gì học truyện ngắn hoặc tiểu thuyết…”. Theo ông, bài giảng chủ
yếu dựa vào văn bản kịch nhưng đồng thời cũng phải giúp học sinh hình dung
được phần nào câu chuyện dưới ánh đèn sân khấu. Vậy là tác giả đã chú ý đến
Trần Hoài Thu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LL và PP DH Văn - Tiếng việt
5
đặc trưng loại thể kịch khi giảng dạy Ông khẳng định: “Phân tích một đặc
trưng phải gắn liền với kết cấu, với bối cảnh, không gian, thời gian, lời thoại
nhân vật, hành động, xung đột” bởi tất cả những điều đó đều mang tính định
hướng ban đầu giúp ta tiếp cận tác phẩm.
Tuy nhiên, bài viết của các nhà nghiên cứu mới chỉ nhắc đến vấn đề tiếp
nhận kịch bản văn học, còn việc đưa ra những hướng tiếp nhận cụ thể, hiệu quả
thì chưa có trong bài viết. Các tác giả vẫn chưa hình thành được hệ thống
phương pháp, chưa đưa ra được những phương pháp và biện pháp tích cực.
Trong cuốn “Năm tập bài giảng nghiên cứu văn học” của Hoàng Ngọc
Hiến, NXB GD, 1996, có bài viết: “Về một đặc trưng thể loại của bi kịch”
(trên cơ sở phân tích vở “Vua Ơđíp” của Xôphơdơ). Tác giả đã chỉ ra rất rõ
một đặc trưng thể hiện của bi kịch Hy Lạp cổ đại được minh hoạ qua vở
“Ơđíp làm vua”. Ngoài ra, bài viết không đề cập tới các vở bi kịch sau này,
cũng không đưa ra gợi ý cho việc giảng dạy những kịch bản văn học này một
cách hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
Trong thực tế giảng dạy chúng ta đều nhận thấy: mỗi tác phẩm văn học
là một công trình nghệ thuật đầy sáng tạo của nhà văn. Mỗi tác phẩm thuộc một
loại thể nhất định (tuy nhiên một số tác phẩm vẫn có sự đan xem giữa các loại
thể song về cơ bản chúng vẫn thuộc một loại thể nào đó)… Bởi vậy mỗi TPVC
đều có “con đường tiếp nhận riêng”. TS Nguyễn Viết Chữ trong cuốn
“Phương pháp dạy học TPVC theo loại thể”, NXB ĐHSPHN, 2005, đã đưa ra
những phương pháp, biện pháp cụ thể cho dạy học tác phẩm trữ tình, tự sự.
Còn loại thể kịch, tác giả mới chỉ dừng lại ở góc độ gợi mở, chưa chỉ ra cụ thể
tích các giá trị nhân văn đó như nào thì tác giả lại không nhắc đến.
Nhìn chung toàn bộ tác phẩm và đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng
thịt” của Lưu Quang Vũ đã được nhắc đến và nghiên cứu trên rất nhiều khía
cạnh khác nhau. Song, đi sâu vào vấn đề hướng dẫn học sinh phân tích giá trị
nhân văn trong dạy học đoạn trích thì chưa. Cho đến nay vẫn chưa có tác giả
hay nhà khoa học nào đi sâu nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ phương pháp
giảng dạy bộ môn Ngữ văn.
Trần Hoài Thu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LL và PP DH Văn - Tiếng việt
7
Có thể nói, đây là một đề tài khoa học mới, có nhiều vấn đề khai thác
để góp phần làm đa dạng PPDH đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”.
2.2. Vị trí tác giả Lƣu Quang Vũ và kịch bản văn học “Hồn Trƣơng
Ba, da hàng thịt”
Các tác giả viết về kịch Lưu Quang Vũ khá nhiều song viết riêng về vở
“Hồn Trương Ba, da hàng thịt” lại tương đối ít. Ta có thể điểm tới: Nhân đọc
và xem “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Phan Trọng Thƣởng, Tạp chí
Văn học, trang 47, số 1, 1989. Bài viết không đi sâu vào phân tích tác phẩm từ
góc độ văn học. Bài viết chỉ đơn thuần đề cập tới suy nghĩ của tác giả khi tiếp
xúc với kịch bản văn học “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” và vở kịch được đạo
diễn Trần Đình Nghị giàn dựng, đưa lên sân khấu dựa trên kịch bản tác phẩm
cùng tên của tác giả Lưu Quang Vũ. Mười một năm sau, năm 2009, trên Tạp
chí Giáo dục, số 208, trang 40 - 42, Nguyễn Thanh Tú viết bài: Một hướng
tiếp cận văn bản “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”. Với bài viết này, tác giả đã
góp một phần quan trọng cho quá trình nghiên cứu tác phẩm khi chỉ ra hướng
tiếp cận hiệu quả. Tuy vậy tất cả vẫn chưa thực sự đi sâu vào khai thác và
nghiên cứu kịch bản văn học này theo hướng phân tích giá trị nhân văn.
Trước đến nay, “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” luôn là một kịch bản
văn học có sức hút mạnh mẽ đối với độc giả trong và ngoài nước. Kịch bản
Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu những thành tựu nghiên cứu khoa học
về PPDH TPVC, chúng tôi đưa ra những phương pháp, biện pháp thích hợp để
hướng dẫn học sinh phân tích giá trị nhân văn trong dạy học đoạn trích “Hồn
Trương Ba, da hàng thịt” - đó sẽ là định hướng dạy học kịch nói chung và
đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” nói riêng, một cách hiệu quả.
Khảo nghiệm thực trạng dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba, da
hàng thịt” trong thực tế dạy học hiện nay ở trường THPT (trên một số địa bàn
khác nhau của tỉnh Thái Nguyên).
Thiết kế giáo án thể nghiệm dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba, da
hàng thịt” (Lưu Quang Vũ) theo hướng tập trung vào việc hướng dẫn học
sinh phân tích giá trị nhân văn của đoạn trích giảng.
Trần Hoài Thu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LL và PP DH Văn - Tiếng việt
9
Tiến hành dạy thể nghiệm để đánh giá tính khả thi của giáo án thể
nghiệm và đề tài luận văn.
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Khi thực hiện luận văn chúng tôi tập trung nghiên cứu kịch bản văn học
“Hồn Trương Ba, da hàng thịt” (Lưu Quang Vũ), đặc biệt là đoạn trích cùng
tên trong SGK Ngữ văn 12, tập 2, bộ cơ bản. Những nét đặc trưng của thể loại
kịch đã được tìm hiểu thông qua kịch bản văn học “Hồn Trương Ba, da hàng
thịt”. Trên cơ sở đó chúng tôi đặc biệt chú ý làm rõ những giá trị nhân văn
sâu sắc của đoạn trích giảng “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” theo đúng tinh
thần của đề tài luận văn.
Bên cạnh đó, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu về tác giả Lưu Quang
Vũ và thực trạng dạy học kịch nói chung, dạy học đoạn trích “Hồn Trương
Ba, da hàng thịt” nói riêng để có một cái nhìn bao quát, toàn diện hơn về tác
giả - tác phẩm và tình hình dạy học đoạn trích, lấy đó làm cơ sở khoa học và
Từ việc hướng dẫn học sinh phân tích giá trị nhân văn trong dạy học
đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, chúng tôi đề xuất những hướng
tiếp cận phù hợp với vở kịch để tìm hiểu giá trị nhân văn của đoạn trích; thể
nghiệm những biện pháp, cách thức hướng dẫn học sinh phân tích giá trị nhân
văn qua đoạn trích để tiếp nhận, thấu hiểu sâu sắc tư tưởng, nghệ thuật của vở
kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” và đoạn trích cùng tên trong SGK Ngữ
văn 12, tập 2, bộ cơ bản, sao cho giờ dạy học đoạn trích đạt hiệu quả cao nhất.
Hoàn thành luận văn, chúng tôi mong muốn đưa tác phẩm “Hồn Trương
Ba, da hàng thịt” (Lưu Quang Vũ) đến gần hơn với bạn đọc để các thế hệ học
sinh nói riêng và mọi tầng lớp bạn đọc nói chung sẽ thấu hiểu thực sự những
Trần Hoài Thu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LL và PP DH Văn - Tiếng việt
11
giá trị nhân văn sâu sắc và tốt đẹp, có giá trị phổ quát toàn nhân loại của tác
phẩm (đoạn trích).
7. BỐ CỤC LUẬN VĂN
Mở đầu
Nội dung
Chương 1. Dạy học kịch bản văn học “Hồn Trương Ba, da hàng
thịt” trong trường trung học phổ thông.
Chương 2. “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” – sự khao khát cuộc
sống đích thực của con người.
Chương 3. Thể nghiệm sư phạm
Kết luận
Thư mục tham khảo
Phụ lục Trần Hoài Thu
Muối mặn đời em; …); Loại sáng tác về đề tài hiện đại (Cô gái đội mũ nồi
xám; Tôi và chúng ta; Lời thề thứ 9; …) – đây là phần chủ yếu, là điểm mạnh
và chiếm số lượng lớn trong “gia tài kịch” đồ sộ của Lưu Quang Vũ.
Trần Hoài Thu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LL và PP DH Văn - Tiếng việt
13
Hướng ngòi bút vào cuộc sống, kịch Lưu Quang Vũ đã góp một tiếng
nói thiết thực trong công cuộc đổi mới đất nước. Ông đã chứng tỏ sự nhạy
cảm đặc biệt; một khả năng phát hiện, nắm bắt cái “lõi” của hiện thực để phản
ánh rất tài tình. Ngòi bút Lưu Quang Vũ “xông” vào mọi ngõ ngách của cuộc
sống và tâm hồn con người. Ông không hạn chế mình trong bất kì loại đề tài
nào. Ở đâu ông cũng phát hiện ra vấn đề để bàn luận và trao đổi Tất cả xuất
hiện trong kịch Lưu Quang Vũ với ý nghĩa xã hội rõ nét và đậm chất nhân văn
sâu sắc.
Kịch Lưu Quang Vũ là tiếng nói phản ánh cuộc sống đang diễn ra với
hiện thực tươi mới, gần gũi. Ông có khả năng biến chi tiết đời thường thành
những điển hình nghệ thuật để tăng sự hấp dẫn cho tác phẩm. Phần lớn kịch
bản văn học của ông thường đi thẳng vào những vấn đề nóng bỏng nhất, tươi
mới nhất trong xã hội. Các nhân vật kịch như thể từ cuộc đời bước lên sàn
diễn. Sân khấu trở thành diễn đàn để giao lưu, luận bàn giữa tác giả với khán
giả… Những vở kịch của ông thường bắt đúng mạch nguồn cuộc sống, đáp
ứng được điều mọi người trăn trở hay những tâm sự đau đớn, thầm kín của
khán giả. Vì thế, ông đã gặt hái được rất nhiều thành công giữa lúc sân khấu
đang hiếm kịch bản hay.
Kịch Lưu Quang Vũ là tiếng nói trẻ trung, dũng cảm trong phong trào
đổi mới ở nước ta. Đó là kết quả của sự nhiệt tình, sức lực, sự hiểu biết về
cuộc sống của người nghệ sĩ. Đồng thời cũng là kết quả của tình yêu, lòng say
mê và khát vọng nghệ thuật. Trên đôi vai “lực lưỡng” của mình, Lưu Quang
Vũ đã gánh đỡ một nhu cầu to lớn về kịch bản cho hàng chục đoàn kịch trong
thưởng cao quý này một cách rất xứng đáng.
1.2. “HỒN TRƢƠNG BA, DA HÀNG THỊT” - VỞ KỊCH VỚI NHỮNG
TRĂN TRỞ VỀ LẼ SỐNG, LẼ LÀM NGƢỜI
Trong hầu hết các vở kịch của mình, Lưu Quang Vũ đều thể hiện tư
tưởng, triết lí phương Đông sâu sắc. Đó là nỗi trăn trở về sự sống và cái chết.
Có thể coi đây là tư tưởng xuyên suốt, chi phối những tư tưởng khác trong các
Trần Hoài Thu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LL và PP DH Văn - Tiếng việt
15
vở kịch của ông như: về cái thiện – cái ác; lòng tốt; lẽ sống - lẽ làm người;
“Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là một vở kịch như vậy – một vở kịch mang
đậm tư tưởng, triết lí phương Đông của Lưu Quang Vũ.
Với xuất phát điểm là một cốt truyện dân gian bình thường, không mấy
người quan tâm, để ý. Nhưng khi Lưu Quang Vũ đưa lên sân khấu, vở kịch
không dừng lại ở những giá trị ban đầu. Vở kịch đã đặt ra nhiều vấn đề mới
mẻ và nhận được sự quan tâm đặc biệt từ khán giả. “Hồn Trương Ba, da hàng
thịt” của Lưu Quang Vũ không chỉ nói đến vấn đề hòa hợp, sự gắn bó về ý
thức - đạo lí giữa phần hồn và phần xác trong cuộc sống hài hòa của cá nhân
con người mà còn đề cao cuộc đấu tranh cho sự hoàn thiện nhân cách con
người. Đó không phải chuyện một thời mà là chuyện của muôn đời. Đó còn là
triết lí nhân sinh về lẽ sống, lẽ làm người Những rắc rối, đổ vỡ bắt nguồn từ
sự sống tạm, sống vay mượn của hồn Trương Ba trong xác hàng thịt đã cho
thấy: cuộc sống thật đáng quý nhưng không phải như nào cũng sống được.
Sống không phải tồn tại. Sống vay mượn, chắp vá, không có sự hài hòa giữa
hồn và xác chỉ đem lại bi kịch cho con người. Cuộc sống chỉ có giá trị khi con
người được sống là chính mình, được sống trong một thể thống nhất giữa hồn
và xác. Vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” không chỉ nói đến đời sống
một cá nhân mà còn đặt ra nhiều vấn đề của xã hội. Tác giả mượn chuyện của
một người để nói mọi người. Ẩn dưới tầng sâu của vở kịch là một nỗi buồn
1.3. THỰC TRẠNG DẠY HỌC ĐOẠN TRÍCH “HỒN TRƢƠNG BA, DA
HÀNG THỊT” NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
1.3.1. Những khó khăn và thuận lợi khi dạy học đoạn trích
1.3.1.1. Khó khăn
“Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là tác phẩm thuộc thể loại kịch, một
thể loại ít được học trong chương trình Ngữ văn THPT. Bên cạnh đó, kịch bản
văn học là thể loại thường không chiếm được sự quan tâm và yêu thích của
học sinh bởi thế đoạn trích không chiếm được cảm tình của đa số học sinh.
Trần Hoài Thu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LL và PP DH Văn - Tiếng việt
17
Vở kịch ra đời trong hoàn cảnh xã hội có nhiều biến đổi: cái mới bắt
đầu manh nha, cái cũ vẫn còn tồn tại và sự đan xen giữa cái cũ - cái mới diễn
ra ở mọi lĩnh vực, trong đó có văn học nghệ thuật. Ra đời từ năm 1981 nhưng
mãi đến năm 1984 vở kịch mới được đưa lên sàn diễn để đến với công chúng.
Và trong thời gian đầu ra mắt, vở kịch đứng trước nguy cơ bị cấm diễn
(Http://www.google.com.vn) vì đã đề cập đến những vấn đề xã hội “nóng
bỏng” lúc bấy giờ. Từ đó, chặng đường vở kịch đến với công chúng là chặng
đường đầy gian nan. Những vấn đề tác giả đặt ra trong tác phẩm là những vấn
đề có tính xã hội, không phải là vấn đề dễ nắm bắt và thấu hiểu đối với học
sinh THPT. Từ đó, việc dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”
cũng không phải là việc dễ dàng.
Đoạn trích trong SGK là đoạn xung đột kịch được đẩy tới đỉnh điểm.
Đoạn trích là sự chồng chất những mâu thuẫn và xung đột trong rất nhiều
nhân vật. Phần chính đoạn trích gồm 3 cuộc đối thoại: giữa hồn Trương Ba và
xác hàng thịt; giữa hồn Trương Ba và người thân (vợ, con dâu, cháu gái); giữa
hồn Trương Ba và Đế Thích. Trước những nội dung đó, với dung lượng 2 tiết,
học sinh sẽ tiếp nhận đoạn trích không được sâu, việc thấu hiểu giá trị nhân
văn của vở kịch trở thành vấn đề quá sức với các em. Các em chưa thể hiểu
học sinh
Hứng thú học là điều rất cần thiết đối với bất kì môn học nào. Và hứng
thú học là điều mà người giáo viên cần tạo dựng được ở học sinh trước và
trong mỗi giờ dạy học.
Ở THCS, các em học theo lối truyền thống: Thầy giảng, trò tiếp thu -
chưa có khuynh hướng nghề nghiệp, thái độ học chưa được thúc đẩy bởi động
cơ nghề nghiệp trong tương lai. Nhưng đến THPT lại khác, lúc này môn học
đã có sự lựa chọn. Học sinh tích cực học nhiều với những môn các em cho là
quan trọng, gắn với nghề nghiệp mình sẽ lựa chọn. Học sinh lớp 10, đa phần
là nhận thức cảm tính. Song đến lớp 11 - 12, tư duy của các em đã phát triển
một cách độc lập, sáng tạo; phát triển khả năng tiếp nhận giá trị thẩm mĩ và
Trần Hoài Thu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LL và PP DH Văn - Tiếng việt
19
nhân văn của tác phẩm.
Việc đưa đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” vào chương trình
học là điều hoàn toàn hợp lí bởi ở lứa tuổi 17 - 18 các em đã biết phân tích,
tổng hợp, so sánh, tưởng tượng, khái quát hoá vấn đề. Biết suy nghĩ và biết
cắt nghĩa vấn đề. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần phát huy năng lực
chủ động, sáng tạo của học sinh đến mức tối đa vì ở lứa tuổi này các em luôn
có nhu cầu khám phá đời sống, tìm hiểu các vấn đề và nhiều khía cạnh của
cuộc sống nhằm làm phong phú vốn sống cho mình… Từ đó khả năng tiếp
nhận đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của học sinh THPT là có cơ
sở thực tế và khoa học. Một thực tế đáng mừng đã diễn ra, sau khi học xong
đoạn trích một em học sinh đã phát biểu rằng: “Đoạn trích hay và sâu sắc
hơn nhiều so với những suy nghĩ ban đầu của em!”.
Bên cạnh đó, học sinh lớp 12 đã có đủ điều kiện và khả năng trong
việc tiếp nhận giá trị thẩm mĩ và giá trị nhân văn của kịch bản văn học trên
cơ sở định hướng của giáo viên. Các em không lĩnh hội tri thức một chiều,