QUY TRÌNH CHĂN NUÔI BÒ SỮA TẠI TRUNG TÂM GIỐNG VÀ CHUYỂN GIAO KỸ THUẬT CỦA CÔNG TY CP GIỐNG BÒ SỮA MỘC CHÂU - Pdf 26

LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản cùng các thầy cô
trong bộ môn chăn nuôi chuyên khoa đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho chúng tôi
trong quá trình liên hệ địa điểm thực tập.
Kỹ sư Nguyễn Ngọc Bằng, bộ môn Chăn nuôi chuyên khoa đã hết lòng
quan tâm, giúp đỡ và chỉ bảo tận tình cho chúng tôi trong suốt quá trình thực tập
giáo trình.
Chúng tôi xin cảm ơn ban lãnh đạo của công ty CP giống bò sữa Mộc
Châu, lãnh đạo trung tâm giống và chuyển giao kĩ thuật cùng toàn thể anh chị
em công nhân trong trung tâm đã hết sức nhiệt tình và tạo mọi điều kiện cho
chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài tại cơ sở.
Chúng tôi xin cảm ơn tới gia đình ông Phạm Văn Tế đã tận tình giúp đỡ
chúng tôi, tạo mọi điều kiện cho chúng tôi học tập thêm những kiến thức mới
trong thực tế.
Nhóm tác giả
i
MỤC LỤC
ii
MỞ ĐẦU
Trong đợt thực tập giáo trình vừa qua từ 08/05 đến 15/05 chúng tôi gồm 5
người đã được giới thiệu thực tập tại công ty CP giống bò sữa Mộc Châu tại Thị
trấn Nông trường Mộc Châu - Huyện Mộc Châu - Tỉnh Sơn La. Để đảm bảo
những yêu cầu thực tập đề ra, nhóm chúng tôi được chia làm 2 nơi để thực tập.
Hai bạn nữ được phân công về Trung tâm giống và chuyển giao kỹ thuật tại Tiểu
khu 19/5 – Thị trấn Nông trường Mộc Châu. Tuy trung tâm này mới được thành
lập cuối năm 2010, nhưng với đội ngũ các kĩ sư dày dặn kinh nghiệm, công ty
đã xây dựng trung tâm với quy mô hơn 20ha, trong đó tổng diện tích khuôn viên
trại hiện nay là hơn 7000m
2
, diện tích chuồng trại chăn nuôi là 3000m

thuộc công ty cổ phần giống bò sữa Mộc Châu. Với những đặc điểm ngoại
hình đặc trưng: thân hình nêm, đầu thanh, cổ ngắn, mang đặc điểm của giống
cho sữa, lông màu lang trắng đen. Khối lượng trưởng thành ước tính là
500kg/con. Đàn bò của trung tâm có độ tuổi trung bình là 3 năm. Bao gồm 40
con bò cao sản( cho > 30kg sữa/con/ngày), 50 con bò có sản lượng sữa trung
bình ( cho từ 20 – 30kg sữa/ con/ ngày), 20 con có sản lượng sữa thấp (cho
<20kg sữa/ con/ ngày), 119 con bò tơ và bò chờ đẻ, 91 con bê cái trong đó có
34 con đã cai sữa và 57 con chưa cai sữa.
II. KHẢO SÁT CHUỒNG NUÔI
Với diện tích chuồng nuôi hơn 3000m
2
chuồng được thiết kế thành 2 dãy
bao gồm cả khu vắt sữa ở giữa là lối đi và máng ăn. Hai bên là sân cho bò
vận động, mỗi bên có diện tích 700m
2
. Khí hậu thích hợp với sự sinh trưởng
và phát triển của bò sữa nên chuồng được thiết kể theo kiểu chuồng mở có
bạt che khi trời mưa hoặc trời rét. Có mái tôn bên dưới có lớp chống nóng.
2
Máng ăn chạy dọc 2 dãy chuồng được lát đá hoa không có gờ tiện cho việc
đẩy cỏ cho ăn và dọn thức ăn thừa. Nền chuồng được láng xi măng với độ
dốc 3
0
, chỗ nằm cho bò cao hơn nền và có đệm cao su cho bò nằm. Mỗi dãy
chuồng được chia thành các ô chuồng (như hình vẽ) và có hệ thống máng
uống được đặt ở 2 đầu mỗi ô chuồng, có đá liếm ở bên cạnh các máng uống.
Có hệ thống máy gạt phân ở cuối 2 dãy chuồng.
Diện tích dành cho chuồng bê là 500m
2
, chuồng bê cũng được chia thành

cao sản lượng sữa trung bình
Khu bò đẻ Khu bò có sản Khu bò chờ khu nuôi bò tơ
lượng thấp đẻ
Sân dành cho vận động
Bếp ăn Làm việc Phòng ở cho kho chứa Chuồng bê
Giám đốc công nhân

Kho chứa
cỏ khô,
cỏ ủ
4
phơi héo. Yến mạch thích hợp với thời tiết lạnh nên được dùng làm thức ăn xanh
cho mùa đông.
Thức ăn dự trữ: Cỏ signal sau khi thu cắt sẽ được phơi khô làm thức ăn dự
trữ cho mùa đông.
Thức ăn ủ chua: là loại thức ăn bổ dưỡng nhất đảm bảo đủ thành phần
chất xơ, tinh bột và các vi sinh vật giúp bò tiêu hóa tốt và có nhiều năng lượng,
nâng cao khả năng chống rét. Được chế biến từ cây ngô chín sáp ủ trong điều
kiện yếm khí, ngô được thu cắt cả cây khi bắp vừa đông sữa. Quy trình ủ như
sau: cây ngô được băm nhỏ 5 – 10cm, bắp ngô cũng được băm nhỏ cho ủ vì đây
là phần có nhiều đường tạo điều kiện tốt cho quá trình lên men trong khi ủ, rồi
cho vào hố ủ nén chặt và phủ bạt kín. Sau 60 ngày có thể dùng cho bò ăn.
Ngoài những thức ăn được trồng trên diện tích đồng cỏ của trung tâm,
trung tâm còn mua một số loại thức ăn như: cỏ alfalfa, bã bia, rỉ mật, thức ăn
hỗn hợp, đá liếm để bổ sung vào khẩu phần cho đàn bò cung cấp đầy đủ chất
dinh dưỡng cho đàn bò. Cỏ alfalfa được đóng bánh nhập từ Mĩ là loại thức ăn rất
tốt cho bò sữa, với giá 800.000đ/ bánh, mỗi bánh 150kg. Bã bia cung cấp lượng
khoáng, vitamin chủ yếu là vitamin nhóm B và đạm đáng kể cho bò,thành phần
xơ trong bã bia rất dễ tiêu nên có tác dụng kích thích VSV dạ cỏ phát triển…, bã
bia được mua với giá 2.000đ/kg. Rỉ mật chứa nhiều đường là thức ăn cung cấp

là 37
0
C, cho ăn ngày 2 bữa, mỗi bữa 4kg và cho bê tập ăn cỏ alfalfa + ngô ủ +
thức ăn tinh (có hàm lượng đạm >20%) trộn lẫn và cho ăn tự do, tuyệt đối không
cho ăn cỏ tươi. Từ ngày thứ 16 đến ngày thứ 60 sử dụng hoàn toàn sữa thay thế,
6
mỗi ngày cho bê ăn 6kg, chia làm 2 bữa sáng – chiều. Từ ngày thứ 61 đến ngày
thứ 75 sử dụng sữa thay thế hoàn toàn cho ăn 3kg/ bữa vào buổi sáng, cho ăn cỏ
alfalfa + ngô ủ tự do và thức ăn tinh cho ăn 2kg /ngày chia làm 2 bữa sáng
chiều. Từ ngày thứ 76 đến ngày thứ 90 cho ăn 2kg sữa thay thế/ bữa vào buổi
sáng.
Khi bê đạt khối lượng 105 – 110kg thì chuyển bê sang khu chuồng nuôi
mới lúc này bê đã được cai sữa hoàn toàn, cho bê ăn cỏ alfalfa + ngô ủ tự do,
thức ăn tinh cho 2,5kg/ con/ngày +bã bia cho ăn 1kg / con/ ngày chia làm 2 bữa
sáng – chiều.
Dụng cụ nuôi bê được vệ sinh sạch sẽ sau mỗi lần cho bê ăn bằng xà
phòng và trước khi cho bê ăn phải tráng lại bằng nước sạch. Hằng ngày dọn
chuồng bê 2 lần vào lúc 8h và 14h và tắm cho bê một lần vào buổi sáng. (chỉ
tắm cho bê đã cai sữa)
b/ Chăm sóc bò đang khai thác sữa:
Hàng ngày, cho bò ăn 4 bữa, buổi sáng vào lúc 6h30, trưa vào khoảng lúc
13h30, buổi chiều cho ăn vào khoảng 16h và tối vào khoảng lúc 21h. Buổi sáng
và chiều dải thức ăn lần lượt như sau: Thức ăn tinh ( 10kg/ con/ bữa), ngô ủ
chua ( 15kg/ con/ bữa), cỏ alfalfa ( 5kg/ con/ bữa), bã bia ( 3kg/ con/ bữa), cỏ
signal khô băm nhỏ ( 6kg/ con/ ngày), bổ sung thêm rỉ mật bằng cách cho ăn
trực tiếp cùng với cỏ khô để tạo tính ngon miệng và bổ sung thêm năng lượng
cho bò (1 l /con/bữa, rỉ mật đã được pha loãng với tỉ lệ 1:1). Buổi trưa và tối chỉ
cho ăn thức ăn tinh + cỏ ủ. Cung cấp đầy đủ nước uống cho bò uống tự do, ở
máng nước có đặt đá liếm để bổ sung khoáng cho bò.
Tắm chải cho bò ngày 2 lần vào lúc 9h và lúc 16h, ngày gạt phân 2 lần

b. Vận hành máy vắt sữa
 Khi máy đã đạt được độ ổn định, đẩy van trên cổ góp vào vị trí mở, cài vào 2
rãnh trên cổ góp để giữ cho chốt không bật ra ngoài khi vắt sữa. Dùng tay
thuận cầm cổ góp sữa gọn trong lòng bàn tay, lật 4 núm vú theo bốn hướng
khác nhau và quằn tự do để được kín hơi và không được chạm vào cánh tay.
Dùng tay nghịch đưa lần lượt từng cái vào vú bò. Khi đưa vào vú bò nên gập
núm vú cao su lại để không tạo tiếng xì hơi làm bò giật mình. Sữa sẽ chảy từ
ra từ vú bò qua cổ góp sữa theo ống dẫn sữa đến bình sữa.
 Đối với giàn vắt sữa tự động
Giàn máy có chế độ vệ sinh tự động được nối với 2 téc nước ấm, ta mở 2 téc
nước và đặt chế độ máy sẽ tự động làm vệ sinh. Trong lúc đó ta chuẩn bị dụng
cụ gồm: khăn lau, cốc thử tia, ống nhúng. Sau đó lùa những con bò chuẩn bị vắt
sữa được đưa vào sân chờ, bầu sữa được phun rửa sạch sẽ trước khi đưa vào
giàn vắt sữa tự động, vắt tia sữa đầu để kiểm tra viêm vú, nếu không có hiện
tượng viêm vú thì tiến hành chụp núm vú cao su vào núm vú bò như đã trình bày
ở phần vận hành máy vắt sữa đơn, đến khi hết sữa máy sẽ tự động nhả ra, nhân
viên vắt sữa đi sát trùng núm vú bò. Sau khi đã vắt xong thì vệ sinh khu vắt sữa
và vệ sinh máy.
 Lịch vắt sữa hàng ngày:
 Đối với bò cao sản vắt 3 lần/ ngày: 5h, 14h, 20h30
 Đối với bò bình thường vắt 2 lần/ ngày: 5h30, 16h
 Sản lượng sữa:
 Sản lượng sữa trung bình 27kg/con/ngày
 Sản lượng đàn cao sản >30kg/con/ngày, con cao nhất đạt 41kg/ngày
 Sản lượng sữa đàn trung bình <30kg/con/ngày
9
 Sản lượng sữa đàn thấp sản < 20kg/ con/ ngày
 Cạn sữa: Đàn bò của trung tâm đều là bò mới đẻ lứa 1, mới đưa vào khai
thác nên chưa có quá trình cạn sữa.
3 Công tác thú y

bôi thuốc sát trùng vào móng bò để bò ở nơi khô ráo. Nếu nặng quá có thể
dùng kháng sinh tiêm cho bò.
 Bệnh viêm rốn ở bê: do một số nguyên nhân khách quan dẫn đến bê bị viêm
rốn, nếu không chữa kịp thời có thể tạo thành ổ áp xe thì sẽ ảnh hưởng lớn
đến đàn bê làm bê chậm lớn. Cách chữa: sát trùng rốn bê bằng dung dịch Han
– iodine 10%, dùng panh gắp hết phần hoại tử trong rốn bê sau đó rửa sạch,
rồi sát trùng lại rốn bê bằng dung dịch Han – iodine 10%, sau đó tiêm kháng
sinh phổ rộng Gentamycine vào rốn bê.
c. Thú y
Trung tâm đã có nội quy thú y ở mức độ tốt, mức độ ô nhiễm môi trường
ở trang trại thấp. Các biện pháp an toàn sinh học được áp dụng đầy đủ, vì vậy
dịch bệnh ít xẩy ra. Có tiêm phòng định kỳ các loại bệnh như: Lở mồm long
móng, tụ huyết trùng, viêm vú, định kỳ 2lần/năm. Vacxin được cung cấp từ công
ty giống bò Mộc Châu. Lịch vệ sinh, tẩy uế chuồng trại 2 ngày 1 lần phun javel
khử trùng, dụng cụ, quần áo, thiết bị được vệ sinh hàng ngày. Trại không nuôi
thêm một loại vật nuôi khác, để tránh lây bệnh từ loài khác sang bò. Ý thức
phòng dịch của công nhân rất tốt, cấm người trong trại tiếp xúc với các trại khác
trong vòng 24h. Trung tâm không sử dụng biện pháp chăn nuôi “ cùng ra, cùng
vào”, không sử dụng hệ thống biogas mà phân được tập trung vào 1 hố và được
11
sử dụng làm phân bón lót cho cỏ trồng khi đã hoai mục. Từ khi thành lập đến
nay trung tâm chưa xảy ra vụ dịch nào nghiêm trọng, một số bò trong trung tâm
bị hà móng, có một số bị viêm vú và một số bê bị viêm rốn. Hiện cán bộ thú ý
của trại vẫn đang tận tình chữa trị cho chúng.
3. Thu gom và bảo quản sữa: Sữa vắt ra được bơm thẳng đến phòng bảo
ôn để bảo quản, cách ly với môi trường bên ngoài và được vận chuyển tới trạm
thu gom sữa của công ty vào buổi sáng hôm sau.
4. Tiêu thụ sản phẩm:
 Sản phẩm chủ yếu là sữa, sữa được vận chuyển đến nhà máy sữa của công ty
với giá 11.000 đ/kg. Tại nhà máy sữa được chế biến thành sữa tươi nguyên

của gia đình đạt giải. Đó là niềm vinh dự của gia đình ông. Đồng thời, niềm tự
hào đó cũng là nguồn động lực thôi thúc ông trong công tác chọn lọc các con bò
cao sản nâng cao chất lượng đàn bò nhà mình để có năng suất cao hơn và mở
rộng quy mô.
II. KHẢO SÁT CHUỒNG NUÔI
Tổng diện tích chuồng nuôi là 1500m
2
chia làm 4 khu, gồm 2 dãy chuồng bò,
một khu vắt sữa. Khu chuồng bê, khu chuồng bò tơ và chuông cách ly được xây
dựng liền kề nhau, nằm phía đối diện 3 khu chuồng còn lại.
Diện tích nhà kho rộng khoảng 200m
2
bao gồm 4 nhà kho, một chứa thức ăn thô
khô cho mùa đông, kho chứa cỏ alfalfa nhập, nhà để sữa sau khi vắt và nhà kho
còn lại chứa thức ăn hỗn hợp.
13
Khu nhà ở có diện tích tương đối khiêm tốn. Chia làm 3 phòng, một
phòng cho công nhân, phòng tiếp khách và phòng còn lại của gia đình ở. Tổng
diện tích nhà ở chỉ khoảng 100m
2
.
Hai dãy chuồng chính được thiết kế theo hệ thống mở của Cuba cũ để lại
được xây bằng bê tông kiên cố. Mái lợp bằng broximang cao 4,5m. Nền chuồng
được láng ximăng, nền bên trong chuồng được thiết kế dốc về giữa khoảng 3
0
theo hình chữ V tạo thành rãnh thoát nước dốc ra ngoài sân chơi theo rãnh đổ ra
bể biogas. Bên trong chuồng có nơi nghỉ ngơi cho bò. Chỗ này được thiết kế cao
hơn nền chuồng, có đệm lót bằng cao su để cho bò nghỉ ngơi. Các dãy chuồng
đều xây kín một bên đầu tường. Dọc 2 lối đi được bố trí máng ăn cho bò, bên
trong máng ăn khu dãy chuồng cho ăn thức ăn bổ sung có dây treo đá liếm.

bê tập ăn thức ăn ủ chua, cỏ alfalfa, thô xanh.
Từ chuồng bê nhìn thẳng ra là khu sân chơi cho bê cai sữa và bò cách ly. Nơi
này được thiết kế bằng đất nện có cỏ mọc tự nhiên nhằm tạo một không gian
thích hợp cho bê con, đặc biệt điều này rất có lợi cho những con bò đang được
cách ly do bị bệnh chân móng. Bên cạnh chuồng bê được bố trí giàn cố định bò
để chữa trị cho bò. thường là bệnh liên quan đến chân móng.
Xát liền kề chuồng bê là chuồng bò tơ và bò cách ly. Khu này có diện tích
khoảng 120m
2
. Được bố trí một nửa có mái che và một nửa ngoài trời. Bò ở khu
này có chế độ chăm sóc riêng so với bò đang vắt sữa.
Phía cuối chuồng bò cách ly là hầm biogas. Toàn bộ hệ thống nước thải được
dẫn ra bể biogas này xử lý sau đó mới đổ ra khu vườn cỏ của gia đình.
Phía đối diện chuồng bò tơ và xát khu chờ vắt sữa là chuồng bò đẻ. Chuồng
này được lót rơm đêm rất dày và ấm áp. Có diện tích khoảng 25m
2
. Kín gió về
mùa đông nhưng rất thoáng mát về mùa hè. Giáp với dãy nhà vắt sữa là đường
15
dẫn luân chuyển bò lên xe ôtô. Nơi này được bố trí đường lên dốc, phía trên cao
thiết kế bằng với thùng xe ôtô. Phía cuối có hố sát trùng cho bò đi qua. Nhằm
tạo điều kiện thuận lợi nhất cho quá trình vận chuyển con vật đi nơi khác.
Nhìn chung: Khu chuồng bò của hộ gia đình nhà ông Tế thiết kế theo mô
hìn cũ nhưng khá hợp lý và hoàn thiện. Mô hình được thiết kế và xây dựng do
Cuba giúp đỡ, tuy đã rất lâu nhưng thiết kế còn rất kiên cố và còn rất phổ biến
hiện nay ở các trang trại bò nông hộ ở Mộc Châu. Với cơ sở như vậy đủ điều
kiện cho gia đình mở rộng quy mô đàn bò và gia đình đang học tập các kĩ thuật
mới để xây dựng củng cố lại quy mô cho thích hợp.

16

2
Nhà bếp
Nhà kho
Nhà công
nhân
Nhà ở
Nhà
khách
Vườn lan
1
3
Khu
bò tơ
17
III. KHẢO SÁT THỨC ĂN VÀ KHẨU PHẦN
Thức ăn cho bò là một yếu tố then chốt trong chăn nuôi bò sữa. Nó ảnh
hưởng và quyết định đến sự sinh trưởng của đàn bò, đồng thời là yếu tố hàng
đầu tăng năng suất và chất lượng sữa. Gia đình ông Tế đã rất chú trọng đến vấn
đề này. Gia đình ông xây dựng hệ thống đồng cỏ không những đã đáp ứng đủ
nhu cầu thức ăn cho mùa hè mà còn có đử thức ăn để dự trữ vào mùa đông và
còn có khả năng đáp ứng cho mở rộng quy mô đàn bò. Bên cạnh đó, gia đình
ông cũng nhập thêm một số loại thức ăn bổ sung cho đàn bò. Cụ thể chúng tôi
xin phép được trình bày như sau:
• Thức ăn thô xanh: Nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thâm
canh chăm sóc đồng cỏ, trồng cỏ giống mới (Cỏ VA06, Cỏ Signal, cỏ zuzi ) và
đồng cỏ mọc tự nhiên để tăng thêm dinh dưỡng cho đàn bò. Không để lãng phí
đất bằng biện pháp thâm canh gối vụ, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm,
nhờ đó năng suất cỏ đông đã đạt 350 – 450 tấn/1ha. Các loại thức ăn này sau khi
cắt xong, đươc công nhân mang về cho bò ăn ngay. Một phần để lại phơi héo
cho bữa ăn sau. Cây ngô được trồng để sử dụng cho ủ chua, chứ không dùng

• Thức ăn khô dầu: khô dầu cũng được nhập khẩu từ công ty chế biến thức ăn.
Khô dầu bổ sung cho đàn bò cao sản. Khoảng 3kg/con/ngày chia làm 2 lần cho
ăn riêng vào lúc vắt sữa.
• Thức ăn dự trữ về mùa đông: là các sản phẩm ủ chua và rơm, cỏ khô thường
xuyên được dự trữ trên 40 tấn. Cây cỏ về mùa đông không phát triển nên việc
cung cấp cho bò thức ăn thô xanh vào vào đông là rất hiếm. Thức ăn cung cấp
chất xơ chủ yếu là các sản phẩm ủ chua và rơm khô dự trữ. Rơm khô cũng được
ông mua của các thương lái nhập từ miền xuôi lên.
• Rỉ mật, bã bia, đá liếm: các nguồn thức ăn bổ sung thêm chất dinh dưỡng,
khoáng chất cho đàn bò. Giá thành tảng đá liếm là 120.000
đ
/tảng. Bã bia là
2.000
đ
/kg.
• Cỏ alfalfa nhập: cỏ được nhập từ Mỹ, do công ty phân phối cho. Một bánh có
trọng lượng khoảng 150kg với Giá thành là 6.000
đ
/kg. Lượng nhập vào của gia
đình khoảng 12 tấn/năm. Ông Tế cho biết: “giá thành loại cỏ này cũng vừa lên,
do công ty hỗ trợ một phần nên giá mới được như vậy”. Khẩu phần cho đàn bò
là 5kg/con/ ngày chia làm 2 bữa chính sáng và chiều sau khi vắt sữa.
19
Nhận xét chung: thức ăn và khẩu phần ăn đều được áp dụng theo đúng quy
trình kĩ thuật chung mà công ty khuyến cáo và chỉ đạo thực hiện ngoài ra bằng
kinh nghiệm chăn nuôi của mình ông còn có những cải thiện cho phù hợp với
đàn bò của gia đình. Thức ăn gia đình ông Tế cung cấp cho đàn bò là rất đa dạng
và phong phú. Với các nguồn thức ăn dồi dào này, gia đình ông đã đảm bảo
được nhu cầu cho đàn bò đồng thời tăng năng suất và chất lượng sữa lên đáng
kể.

công việc xong (17h) và buổi tối lúc sau khi cho bò ăn bổ sung bã bia xong
(21h). Bê con nhà gia đình ông đang ở giai đoạn 2 – 3 tháng tuổi nên giai đoạn
này gia đình chủ yếu cho ăn bột sữa (sữa bò thay thế) hoà với nước ấm cho ăn
nhằm tiết kiệm kinh phí chăm sóc. Khẩu phần là 2 – 3kg/con/bữa. Ngoài ra, đàn
bê con này cũng được bổ sung cho tập ăn các loại cỏ khác như alfalfa, cỏ tươi và
ủ chua. Các con bê này đã tiến hành khử sừng ngay từ tuần đầu tiên bằng hoá
chất khử sừng chuyên dụng.
4. Bò cạn sữa
Trước khi bò đẻ 2 tháng, tiến hành cạn sữa. Bước đầu vắt cạn sữa, rồi sau đó
tiêm thuốc ép cạn sữa vào bầu vú. Sau 2 hôm tiêm bò sẽ cạn sữa. Phương pháp
này nhanh và dễ áp dụng nên được sử dụng rất phổ biến và rộng rãi.
5. Quy trình vắt sữa
Áp dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất, gia đình ông đang dùng giàn máy
vắt sữa cùng một lúc 5 con. Với quy trình đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm,
tiết kiệm thời gian và công lao động góp phần vào tăng năng suất, hiệu quả kinh
tế cho gia đình.
21
Bò được vệ sinh bầu vú sạch sẽ trước khi vắt sữa. Các con bò bẩn quá, sau
khi vắt sữa xong mới được tắm giặt cho nó. Giải thích cho điều nghịch lý này,
ông Tế cho biết quá trình xảy ra phản xạ tiết sữa chỉ khoảng 3 – 4 phút, nếu khi
bò vào giàn vắt sữa mà tắm rửa cho nó trước sẽ mất rất nhiều thời gian và sẽ làm
giảm năng suất sữa của đàn bò.
Quá trình vận hành máy vắt sữa như sau: máy vắt sữa được nối với ống dẫn
áp được bố trí phía trên cao như đã trình bày ở trên. Tay trái cầm cổ góp, giữ cho
cân để tránh thoát khí khi mở van. Dùng ngón trỏ mở van trên cổ góp xuống,
nhanh chóng dùng tay phải đưa các núm vú chụp vào vú bò tránh để mất hơi làm
ảnh hưởng đến giàn máy và các máy vắt còn lại. Quá trình vắt sữa diễn ra
khoảng 5 phút. Khi con bò gần cạn sữa, dùng tay bóp trên 4 bầu sữa để cho sữa
xuống hết bể sữa nhằm tránh tình trạng còn sót sữa trong bầu vú rất dễ gây bệnh
viêm vú cho bò.

hộ sưng đỏ có dịch chảy ra và đặc biệt là trong giai đoạn chờ phối… phán
đoán bò động dục. Cách ly sang chuồng riêng. Tiến hành phối sau 6 – 12
tiếng kể từ khi có hiện tượng động dục. Phương pháp phối giống: thụ tinh
nhân tạo. Thú y viên của công ty sẽ về phối giống cho bò của gia đình, tinh
trùng được nhập từ Mỹ hoặc trung tâm Moncada… sau khi phối, bò được ghi
chép nguồn gốc rõ ràng. Trường hợp nếu là bò tơ phối giống lứa đầu và lứa 2
thì phối giống bằng tinh giới tính nhập từ Mỹ, có tỉ lệ >85% bê con đẻ ra là
bê cái. Thường giá một liều tinh cọng dạ giới tính rất đắt, khoảng
40USD/liều. Tuy nhiên, các hộ chăn nuôi bò được hỗ trợ hoàn toàn giá thành
liều tinh đó.
 Bên cạnh đó, mỗi còn bò được sinh ra đều được công ty đóng bảo hiểm 700
nghìn VNĐ/bò/năm. Việc loại thải bò, hay bò chết, có dịch cần tiêu huỷ đều
phải báo cáo lên công ty để giải quyết. Tuỳ theo mức độ, tuổi bò, thời gian
khai thác mà được bồi thường mức tiền nhất định hỗ trợ gia đình.
 Điều trị bệnh: các bệnh thường gặp ở bò sữa gia đình ông Tế là bệnh viêm
vú, bệnh thối móng, bệnh liên quan đến sản khoa…
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status