Khảo sát hoạt động cung ứng thuốc tại trung tâm phòng chống HIV AIDS hải dương giai đoạn 2011 2013 - Pdf 29


BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN ĐỨC CẢNH
KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG THUỐC
TẠI TRUNG TÂM PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS
HẢI DƯƠNG, GIAI ĐOẠN 2011- 2013
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I



LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS
Nguyễn Thị Thái Hằng người đã hướng dẫn, giúp đỡ em nhiệt
tình trong quá trình làm đề tài tốt nghiệp.
Cũng qua đây em xin tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu
trường Đại học Dược Hà Nội, phòng đào tạo sau Đại học, Bộ
môn Quản lý kinh tế Dược cùng các thầy cô của trường Đại học
Dược Hà Nội
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến Ths. Nguyễn Văn
Hải, Giám đốc Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS Hải Dương,
Ban Giám đốc, các đồng nghiệp cùng các phòng ban chức năng
của trung tâm, gia đình cùng bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi
giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Y Tế Hải Dương, Ban
Giám hiệu Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương, các
phòng ban của Nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
hoàn thành khóa học.

Xin chân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2014
Ds. Nguyễn Đức Cảnh

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
ADR
Tác dụng có hại của thuốc

Tỷ lệ
TTBQĐN
Tiền thuốc bình quân đầu người
TTY
Thuốc thiết yếu
TTT&DLS
Thông tin thuốc và dược lâm sàng
TT
Trung tâm
TTPC
HIV/AIDS
Trung tâm phòng chống HIV/AIDS
Ths,BS
Thạc sỹ bác sỹ
WHO
World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)
YTĐD
Ytá điều dưỡng MỤC LỤC

NỘI DUNG
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ
1
CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN
3
1. Thực trạng về tình hình cung ứng thuốc trong giai đoạn hiện nay.
3

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
30
3.1. Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến cung ứng thuốc tại TTPC
HIV/AIDS Hải Dương.
30
3.1.1. Hoạt động của HĐT&ĐT, đơn vị thông tin thuốc của trung tâm
phòng chống HIV/AIDS Hải Dương.
30
3.1.2. Tổ chức của khoa dược
31
3.1.3. Kinh phí
35
3.1.4. Trang thiết bị của khoa dược
36
3.1.5. Chỉ tiêu và công suất sử dụng giường bệnh
37
3.2. Khảo sát hoạt động cung ứng thuốc tại TTPC HIV/AIDS Hải Dương
39
3.2.1. Khảo sát hoạt động lựa chọn thuốc
39
3.2.2. Khảo sát hoạt động mua thuốc
49
3.2.3. Khảo sát hoạt động cấp phát tồn trữ thuốc
51
3.2.4 Khảo sát hoạt động giám sát sử dụng thuốc
56
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN
65
4. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động cung ứng thuốc
65


Bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 3.1.
Chức trách các cấp quản trị trong công tác dược…
33
Bảng 3.2.
Cơ cấu nhân lực khoa dược
34
Bảng 3.3.
Tỷ lệ biên chế cán bộ dược so với tỷ lệ biên chế
34
Bảng 3.4.
Kinh phí cấp cho khoa dược của bệnh viện qua các
năm
35
Bảng 3.5.
Số lượng trang thiết bị khoa dược bệnh viện qua các
năm
36
Bảng 3.6.
Chỉ tiêu giường bệnh và kết quả thực hiện qua các
năm
37
Bảng 3.7.
Các bệnh thường gặp ở TTPC HIV/AIDS Hải
dương qua các năm
40
Bảng 3.8.

Số đơn thuốc có kê thuốc kháng sinh năm 2013
59
Bảng 3.17.
Tỷ lệ TCYđược kê năm 2013
60
Bảng 3.18.
Tỷ lệ thuốc được kê có hướng dẫn đầy đủ, chính
xác
61
Bảng 3.19.
Số lượng bệnh án thực hiện đúng các quy chế
chuyên môn
62
Bảng 3.20.
Số lượng báo cáo về ADR qua các năm
63
Bảng 3.21.
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động cung
ứng thuốc tại TTPC HIV/AIDS Hải dương
64 DANH MỤC HÌNH
Hình
Tên hình
Trang
Hình 1.1.
Chu trình cung ứng thuốc trong trung tâm
9
Hình 1.2.

Hình 3.11.
Sơ đồ quy trình lựa chọn xây dựng DMTBV của
TTPC HIV/AIDS Hải Dương qua các năm
39
Hình 3.12.
Biểu đồ biểu diễn một số bệnh có tỷ lệ cao nhất qua
các năm
42
Hình 3.13.
Biểu đồ so sánh tỷ lệ thuốc nội và thuốc ngoại trong
DMTTT qua các năm
45
Hình 3.14.
Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ thuốc mang tên gốc và tên
46
thương mại trong DMTTT qua các năm
Hình 3.15.
Biểu đồ so sánh tỷ lệ tiền thuốc của 7 nhóm thuốc
sử dụng năm 2013, tại TTPC HIV/AIDS Hải dương
48
Hình 3.16.
Sơ đồ quy trình mua thuốc của TTPC HIV/AIDS
Hải dương
50
Hình 3.17.
Quy trình cấp phát thuốc tới các khoa, phòng và
bệnh nhân nội trú, ngoại trú tại TTPC HIV/AIDS
Hải dương
52
Hình 3.18.

và toàn thể xã hội, trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt.
Các cơ sở y tế là cơ sở khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho
người bệnh, là bộ mặt của ngành y tế, giữ vai trò quan trọng trong hệ thống
y tế quốc gia. Vì vậy, để đảm bảo đáp ứng tốt hoạt động khám chữa bệnh
và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, Thuốc đóng một vai trò rất quan
trọng, là một trong những yếu tố chủ yếu nhằm đảm bảo mục tiêu sức khỏe
cho mọi người [37].
Hoạt động cung ứng thuốc là một trong những hoạt động thường
xuyên, trọng tâm trong toàn bộ hoạt động của mỗi đơn vị. Cung ứng thuốc
không đảm bảo kịp thời, đầy đủ và kém chất lượng không những gây lãng
phí tiền của, mà còn gây nên những tác hại đến sức khỏe, thậm chí còn
nguy hiểm đến tính mạng người bệnh, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng
khám, chữa bệnh của đơn vị. Công cuộc đổi mới đất nước đã tạo đà cho
nền kinh tế Việt Nam phát triển với tốc độ nhanh chóng, cùng với các
ngành kinh tế khác ngành dược Việt Nam đã có nhiều tiến bộ đáng ghi
nhận. Toàn ngành đã chủ động tích cực phát triển sản xuất, mở rộng kinh
doanh, hội nhập sâu rộng với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đặc
biệt đã đảm bảo cung ứng đủ thuốc có chất lượng cho phòng bệnh và chữa
bệnh, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo
vệ sức khỏe nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực việc
2
cung ứng thuốc trong cơ chế thị trường còn nhiều mặt hạn chế ảnh hưởng
đến hoạt động cung ứng và sử dụng thuốc, không đảm bảo hợp lý - an toàn
- tiết kiệm. Việc kê đơn không đúng quy chế đang có nguy cơ phát triển và
rất khó quản lý tại các cơ sở y tế [9].
TTPC HIV/AIDS Hải Dương là trung tâm hạng II trực thuộc Sở y tế
Hải Dương. Trong công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ nhân
dân, trung tâm luôn tiếp nhận lưu lượng bệnh nhân đến khám, điều trị lớn
và ngày càng tăng với mô hình bệnh tật rất đa dạng, do đó nhu cầu thuốc
của trung tâm rất lớn. Vì vậy, việc nghiên cứu nâng cao chất lượng hoạt

chất lượng ngày càng được cải thiện. Bên cạnh đó hệ thống cung cấp thuốc
cũng đa dạng và phát triển không ngừng. Mô hình cung ứng thuốc ở từng
quốc gia, từng công ty có những hướng đi khác nhau tùy thuộc vào cách tổ
chức và khả năng tài chính của mỗi quốc gia, công ty đó.
Các công ty đa quốc gia hàng đầu về dược phẩm trên thế giới chi
phối hoạt động cung ứng thuốc trên toàn cầu, kiểm soát và chiếm thị phần
chủ yếu. Chi phí của các công ty này cho nghiên cứu và phát triển thuốc
mới ngày càng được chú trọng (chiếm 10 -24% doanh số, bình quân là 15%
doanh số). Hệ thống cung ứng thuốc trên thế giới ngày càng được mở rộng
và phát triển mạnh. Tuy nhiên sự phân bố tiêu dùng thuốc trên thế giới rất
chênh lệch giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển. Năm
1976 các nước phát triển chiếm 27% dân số thế giới đã sử dụng hơn 75% l-
ượng thuốc được sản xuất. Sau 10 năm thì khoảng cách này ngày càng
tăng. Năm 1985, 25% dân số thế giới thuộc các nước phát triển đã sử dụng
79% lượng thuốc [23].
Tiền thuốc bình quân đầu người (TTBQĐN) hàng năm trên thế giới
liên tục tăng qua các năm: năm 1976 là 20,3 USD; năm 1985 là 19,4 USD;
năm 1995 là 40 USD và năm 1999 là 63 USD. TTBQĐN hàng năm cũng
4
rất chênh lệch giữa các nước: Nhật Bản TTBQĐN hàng năm là 264 USD;
Mỹ là 230 USD; Đức là 207 USD; Thụy Sĩ trên 19 USD; Anh là 105 USD.
Trong khi đó, TTBQĐN hàng năm ở Thái Lan là 9 USD; Indonesia là 3
USD, thậm chí ở một số vùng Châu Phi là 1 USD [23].
Mặt khác thị phần dược phẩm thế giới có xu hướng phát triển chủ
yếu đáp ứng cho nhu cầu a các nước phát triển. Các sản phẩm được chú
trọng như: thuốc tim mạch, thuốc hướng tâm thần, thuốc chống viêm phù
hợp với mô hình bệnh tật của các nước đó [23].
1.2. Tình hình cung ứng thuốc ở Việt Nam.
Hệ thống cung ứng thuốc trong thời kỳ kinh tế hoạt động theo cơ chế
kế hoạch hóa tập trung, thuốc được cung ứng theo kế hoạch với giá bao cấp

sản xuất thuốc tốt (GMP). Thuốc sản xuất trong nước ngày càng đa dạng về
số lượng, chủng loại, mẫu mã đẹp, công nghệ bào chế và chất lượng ngày
một nâng cao. Giá trị thuốc sản xuất trong nước liên tục tăng, đến năm
2007 đạt trên 600 triệu USD (tăng 26,4% so với năm 2003). Giá trị nhập
khẩu năm 2007 đạt trên 535 triệu USD (tăng 11,4% so với cùng kỳ năm
2003) [29].
Thuốc sản xuất trong nước đã đáp ứng được khoảng 52,85% nhu cầu
trong nước. Nhưng trên thực tế, trình độ sản xuất thuốc trong nước còn
thấp, tình trạng thiếu vốn, kỹ thuật, công nghệ cũng như năng lực quản lý
làm hạn chế khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến và trình độ Quốc tế.
Trong khi đó, thuốc sản xuất trong nước chủ yếu chỉ là thuốc thông thường
mà khoảng 90% nguyên liệu làm thuốc phải nhập ngoại [29].
Các đơn vị kinh doanh cung ứng thuốc đang phấn đấu đạt tiêu chuẩn
thực hành bảo quản thuốc tốt (GSP) nhằm đảm bảo tốt chất lượng thuốc
trong quá trình lưu thông; đến năm 2008 đã có 80 cơ sở đạt tiêu chuẩn GSP
[29].
6
Tuy nhiên, màng lưới cung ứng thuốc ở nước ta còn rất nhiều tầng nấc
trung gian phức tạp, lạc hậu nên khả năng đáp ứng nhu cầu thuốc cho cộng
đồng còn gặp rất nhiều hạn chế. Như vậy, vấn đề đặt ra hàng đầu là phải có
được mạng lưới phân phối thuốc thật tốt để mọi người dân dễ dàng, thuận
lợi mua được thuốc.
1.2.1. Thực trạng tình hình cung ứng thuốc trong các cơ sở Y tế:
Trong sự tiến bộ của công tác dược nói chung, có sự đóng góp quan
trọng của công tác dược . Các đơn vị tiếp tục tăng cường và duy trì thực
hiện tốt chỉ thị số 05/2004/CT-BYT ngày 16/4/2004 của Bộ trưởng Bộ y tế
về việc chấn chỉnh công tác cung ứng, sử dụng thuốc trong đơn vị [9]. Hội
đồng thuốc và điều trị tăng cường năng lực can thiệp vào sử dụng thuốc
hợp lý, an toàn thông qua bình đơn thuốc, bình bệnh án, triển khai thực
hiện cấp phát thuốc tại khoa lâm sàng, đảm bảo đủ thuốc có chất lượng và

vậy, thuốc sản xuất trong nước chủ yếu mới chỉ đáp ứng để điều trị bệnh
thông thường với dạng bào chế đơn giản (trên 90%), chưa đầu tư sản xuất
thuốc chuyên khoa, thuốc đặc trị hoặc thuốc có yêu cầu sản xuất với công
nghệ cao [1], [6].
1.2.2. Tiêu chuẩn đánh giá hoạt động cung ứng thuốc ở các cơ sở y tế.
Dựa theo các báo cáo của WHO, hoạt động cung ứng thuốc các đơn
vị được đánh giá dựa theo các tiêu chuẩn sau [9], [16], [24]:
* Đầy đủ, kịp thời.
- Đảm bảo đủ thuốc chữa bệnh theo theo danh mục thuốc chủ yếu sử
dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh.
- Đảm bảo cung ứng thuốc theo danh mục thuốc của đơn vị đó.
- Cơ cấu danh mục thuốc mỗi cơ sở y tế có số lượng và chủng loại
phù hợp với mô hình bệnh tật và điều kiện thực tế của đơn vị.
8
- Xây dựng cơ số tồn kho hợp lý, đáp ứng nhu cầu điều trị cũng như
đề phòng khi có thiên tai, dịch bệnh xảy ra. Luôn sẵn có thuốc cùng loại để
thay thế khi cần.
- Chủ động nguồn kinh phí để mua thuốc.
* Chất lƣợng thuốc đảm bảo.
- Thuốc cung ứng phải đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng vì đây là một
loại hàng hoá đặc biệt, liên quan đến sức khỏe và tính mạng của con người.
- Đặc biệt không được có thuốc giả, thuốc kém chất lượng và thuốc
quá hạn sử dụng lưu hành trong đơn vị.
- Thuốc phải được bảo quản theo đúng quy chế.
* Giá cả hợp lý.
- Thuốc cung ứng giá phải phù hợp với khả năng thanh toán của
người bệnh, đồng thời phải đảm bảo hiệu quả điều trị.
* Thuận tiện.
- Việc đưa thuốc đến các khoa lâm sàng phải đảm bảo nhanh chóng, kịp
thời, thuận tiện cho việc chia thuốc tới bệnh nhân, đáp ứng thời gian cũng


Dòng lưu chuyển các hoạt động
Đường phối hợp
Hình 1.1. Chu trình cung ứng thuốc trong trung tâm.

LỰA CHỌN

MUA SẮM

SỬ DỤNG

CẤP PHÁT
Các hình thức quản
lý khác (nhân lực, tài
chính, thông tin )

10
Dịch tễ bệnh HIV/AIDS tỉnh Hải Dương: Hải Dương là một tỉnh
đồng bằng nằm giữa tam giác 3 đô thị phát triển Hà Nội, Hải Phòng, Quảng
Ninh. Tại Hải Dương tập trung nhiều khu công nghiệp, người lao động và
thường xuyên có sự di dời người lao động giữa các địa phương trong khu
Hình 1.2. Các yếu tố quyết định và ảnh hưởng tới MHBT trung tâm.
* Danh mục thuốc chủ yếu, danh mục thuốc thiết yếu và danh mục
thuốc trung tâm.
- Danh mục thuốc chủ yếu (DMTCY).
Danh mục thuốc chủ yếu là cơ sở pháp lý để các cơ sở khám chữa
bệnh lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc cụ thể cho đơn vị mình. Căn cứ
vào danh mục này, đồng thời căn cứ vào mô hình bệnh tật, khả năng kinh
phí của trung tâm để lựa chọn cụ thể từng loại thuốc có trong danh mục,
đưa vào xây dựng danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm phục vụ công tác
khám, chữa bệnh đáp ứng các mục tiêu:
- Đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, kinh tế.
- Đáp ứng nhu cầu điều trị cho người bệnh.
- Đảm bảo quyền lợi về thuốc chữa bệnh cho người bệnh thuộc diện
chi trả của bảo hiểm y tế (BHYT).
MÔI TRƢỜNG

- Điều kiện kinh tế- xã hội, tôn giáo, khí hậu, địa lý;
Tổ chức màng lƣới chất lƣợng dịch vụ y tế.
- Sinh thái, trình độ khoa học kỹ thuật TRUNG TÂM

- Phù hợp với khả năng ngân sách của BHYT và khả năng kinh tế
của người bệnh [5], [6].
- Danh mục thuốc thiết yếu (DMTTY).
Danh mục thuốc thiết yếu là một trong các nội dung chính của chăm
sóc sức khỏe ban đầu. Theo Tổ chức y tế thế giới, để thực hiện chăm sóc
sức khoẻ ban đầu chỉ cần 1 USD thuốc thiết yếu có thể đảm bảo chữa khỏi
80% các chứng bệnh thông thường của một người dân tại cộng đồng. Vì
thế danh mục thuốc thiết yếu đã mở đầu cho cuộc cách mạng của thế giới
về y tế, nó đã giúp nhiều quốc gia vượt qua tình trạng thiếu thuốc thiết yếu
cho người dân, tiết kiệm được ngân sách quốc gia và hạn chế được tác hại
không mong muốn của thuốc [5].
Như vậy, việc cung ứng thuốc với giá cả hợp lý, chất lượng đảm bảo
là một yêu cầu cấp thiết và là một trong những nội dung cơ bản của Chính
sách Quốc gia về thuốc . Hiện nay trên thế giới có hơn 150 nước đã áp
dụng và có DMTTY (chủ yếu là các nước đang phát triển). Số lượng thuốc
trong DMTTY của mỗi nước trung bình khoảng 300 thuốc [5],[6],[36].
ở Việt Nam, chính sách thuốc thiết yếu đã được Chính phủ khẳng
định là nội dung cơ bản của Chính sách quốc gia về thuốc, là một trong
những chương trình giành được sự quan tâm lớn và trở thành một trong các
nội dung mang tính chất chiến lược của ngành y tế. Khái niệm về DMTTY
đã được thể hiện rõ trong Chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu là: “Danh
mục thuốc thiết yếu là danh mục những loại thuốc thỏa mãn nhu cầu chăm
sóc sức khỏe cho đa số nhân dân. Những loại thuốc này luôn có sẵn bất cứ
lúc nào với số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào chế thích hợp, giá
cả hợp lý ”[5], [6],[36].
Năm 2005, DMTTY Việt nam lần thứ 5 được ban hành kèm theo
quyết định số 17/2005/QĐ-BYT ngày 01/7/2005 của Bộ y tế, có 355 thuốc
tân dược của 314 hoạt chất, 94 chế phẩm thuốc y học cổ truyền, 60 cây
13
thuốc nam, 215 vị thuốc nam, bắc và phân cấp cho tất cả các tuyến y tế từ

phạm vi thời gian, không gian, trình độ xã hội, khoa học kỹ thuật nhất định
luôn sẵn có bất cứ lúc nào với số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào
chế thích hợp, giá cả hợp lý.
- Quy trình xây dựng danh mục thuốc trung tâm, xin được trình bày khái
quát theo sơ đồ hình 1.

Dự thảo n Tư vấn
DMT giám sát ban hành
Căn cứ lập dự trù thuốc

Xây dựng DMT lần sau

Hình 1.3. Quy trình xây dựng DMTTT.
1.2.3.1. - Mua thuốc.
Hoạt động mua thuốc có liên quan đáng kể tới chất lượng thuốc,
thuốc được mua phải đảm bảo chất lượng và hiệu quả điều trị. Hoạt động
này bắt đầu khi có bản dự trù thuốc của năm, dựa theo kế hoạch mua thuốc.
Công việc mua thuốc là công việc thứ hai trong chu trình cung ứng thuốc.
Đây cũng là một công việc rất quan trọng và đóng vai trò lớn trong công
việc tăng cường quản lý, sử dụng kinh phí của trung tâm. Sau khi xem xét
HĐT&ĐT
(xem xét, sửa đổi
và thông qua)
GIÁM ĐỐC


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status