PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP
Người soạn: Ths. Trần Thị Thu Hà
Giảng viên Khoa Luật Hành chính – Nhà nước
Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
I.
1
2
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH
CHÍNH
1.1.Khái niệm
Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính (VPHC) là tổng thể các quy phạm
pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động xử lý VPHC.
Theo pháp luật hiện hành, hoạt động xử lý VPHC bao gồm cả hoạt động xử
phạt VPHC và xử lý hành chính. Theo đó, xử phạt VPHC là việc người có
thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả
đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi VPHC theo quy định của pháp luật
về xử phạt VPHC1. Còn các biện pháp xử lý hành chính được áp dụng đối với
các cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà
không phải là tội phạm, bao gồm: biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn;
đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc2.
Trong chuyên đề này, thuật ngữ pháp luật xử lý VPHC được giới hạn trên
phương diện xử phạt VPHC, là pháp luật xử phạt VPHC.
Pháp luật xử phạt VPHC là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh
các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động xử phạt VPHC, tức là trong việc
các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng áp dụng các biện pháp
cưỡng chế hành chính (gồm các hình thức xử phạt VPHC, các biện pháp khắc
phục hậu quả, các biện pháp ngăn chặn và đảm bảo việc xử phạt VPHC, các
và các hình thức xử phạt tương ứng với từng hành vi đó nhưng lại đặt nền tảng
pháp lý quan trọng cho hoạt động xử phạt VPHC, vì nó xác định những vấn đề cơ
bản như: nguyên tắc xử phạt, thời hiệu xử phạt, thẩm quyền xử phạt, tình tiết tăng
nặng, tình tiết giảm nhẹ, những trường hợp không bị xử phạt VPHC, các hình thức
xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả, các biện pháp ngăn chặn và đảm bảo xử
lý VPHC, thủ tục xử phạt, thi hành quyết định xử phạt và cưỡng chế thi hành
quyết định xử phạt…
1.2.2. Một số Luật chuyên ngành có quy định về xử phạt VPHC
Luật xử lý VPHC năm 2012 được coi là Luật chung, là cơ sở pháp lý quan
trọng cho hoạt động xử phạt VPHC trên tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống
xã hội. Bên cạnh Luật chung này, còn có một số Luật chuyên ngành có quy định
2
về xử phạt VPHC trong phạm vi chuyên ngành đó, chẳng hạn như Luật Cạnh tranh
năm 2004, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
năm 2006, Luật quản lý thuế năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014 và
2016), Luật an toàn thực phẩm năm 2010…
Khi xử phạt VPHC trong lĩnh vực thuế, các chủ thể có thẩm quyền không
chỉ căn cứ vào các quy định chung của Luật XLVPHC năm 2012 mà còn đồng
thời áp dụng những quy định riêng của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng
dẫn thi hành đạo luật này. Chẳng hạn, liên quan đến thời hiệu xử phạt VPHC về
thuế, Điểm a Khoản 1 Điều 6 Luật XLVPHC khẳng định: “VPHC là hành vi trốn
thuế, gian lận thuế, nộp chậm tiền thuế, khai thiếu nghĩa vụ thuế thì thời hiệu xử
phạt VPHC theo quy định của pháp luật thuế”.
Tương tự, khi xử phạt VPHC về an toàn thực phẩm, ngoài việc phải tuân
thủ chung các quy định về nguyên tắc xử phạt, thẩm quyền xử phạt, hình thức xử
phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thủ tục xử phạt…mà Luật chung đã nêu, chủ
thể có thẩm quyền còn phải nắm chắc các quy định của Luật an toàn thực phẩm
bạo lực gia đình…là những ví dụ điển hình.
Bên cạnh các Nghị định của Chính phủ, pháp luật XLVPHC còn bao gồm
các Thông tư hướng dẫn chi tiết về xử phạt VPHC trong một số lĩnh vực, đặc biệt
là những lĩnh vực phức tạp. Có thể kể tên một số văn bản sau:
Thông tư 166/2013/TT-BTC ngày 15 tháng 11 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ
Tài chính quy định chi tiết về xử phạt VPHC về thuế;
Thông tư số 186/2013/TT-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính ngày 05 tháng
12 năm 2013 hướng dẫn thực hiện xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý
phí, lệ phí.
Thông tư số 19/2014/TT- BKHCN ngày 01 tháng 7 năm 2014 của Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn thực hiện một số điều của
Nghị định số 80/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ
quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất
lượng sản phẩm, hàng hóa…
Thông tư số 31/2014/TT-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính ngày 07 tháng 3
năm 2014 hướng dẫn xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý giá tại Nghị
định số 109/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24 tháng 9 năm 2013 quy
định xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí và hóa đơn.
Thông tư số 149/2014/TT-BTC ngày 10 tháng 10 năm 2014 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính quy định về số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi
VPHC để sung vào ngân sách nhà nước.
Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 5 năm 2015 của Bộ
trưởng Bộ Khoa học Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
Nghị định 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy
định xử phạt VPHC trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
Thông tư số 155/2016/TT-BTC ngày 20 tháng 10 năm 2016 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính quy định chi tiết thi hành Nghị định số 127/2013/NĐ-CP ngày
15 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC và cưỡng
chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan và Nghị định số
từng hành vi vi phạm;
Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh VPHC. Cá nhân, tổ
chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng
minh mình không VPHC;
4
Mức tiền phạt có thể cao hơn nhưng tối đa không quá 02 lần mức phạt chung áp dụng đối với cùng hành vi vi
phạm (Điều 23 Luật xử lý VPHC năm 2012).
5
Đối với cùng một hành vi VPHC thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần
mức phạt tiền đối với cá nhân.
1.3.2. Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính
Theo Khoản 1 Điều 5 Luật xử lý VPHC, đối tượng bị xử phạt VPHC bao gồm:
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt VPHC về VPHC do cố ý; người từ đủ
16 tuổi trở lên bị xử phạt VPHC về mọi VPHC.
Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân VPHC thì bị xử lý
như đối với công dân khác; trường hợp cần áp dụng hình thức phạt tước quyền sử
dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn liên quan
đến quốc phòng, an ninh thì người xử phạt đề nghị cơ quan, đơn vị Quân đội nhân
dân, Công an nhân dân có thẩm quyền xử lý;
Tổ chức bị xử phạt VPHC về mọi VPHC do mình gây ra;
Cá nhân, tổ chức nước ngoài VPHC trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải,
vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam thì
bị xử phạt VPHC theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước
quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
hiện thủ tục về thuế theo quy định của Luật quản lý thuế. Đối với trường hợp làm thủ
tục về thuế bằng điện tử thì ngày thực hiện hành vi VPHC về thuế là ngày kế tiếp
ngày kết thúc thời hạn làm thủ tục theo quy định của cơ quan có thẩm quyền. Đối với
hành vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi
khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, ngày
thực hiện hành vi là ngày tiếp theo ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế
của kỳ tính thuế mà người nộp thuế thực hiện khai thiếu thuế, hành vi trốn thuế, gian
lận thuế hoặc ngày tiếp theo ngày cơ quan có thẩm quyền ra quyết định hoàn thuế,
miễn thuế, giảm thuế5.
-
Trường hợp xử phạt VPHC đối với cá nhân do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến
thì thời hiệu được áp dụng theo quy định nói trên. Thời gian cơ quan tiến hành tố tụng
thụ lý, xem xét được tính vào thời hiệu xử phạt VPHC.
-
Trong thời hạn quy định, nếu cá nhân, tổ chức cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt
thì thời hiệu xử phạt VPHC được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh,
cản trở việc xử phạt.
1.3.4. Thời hạn được coi là chưa bị xử phạt VPHC
Cá nhân, tổ chức bị xử phạt VPHC, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp
hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết
định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt
VPHC mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt VPHC (Khoản 1 Điều 7 Luật
xử lý VPHC năm 2012).
1.3.5. Tình tiết giảm nhẹ
Những tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ:
Lăng mạ, phỉ báng người đang thi hành công vụ; VPHC có tính chất côn đồ;
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để VPHC;
Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai, thảm họa, dịch bệnh hoặc những khó khăn
đặc biệt khác của xã hội để VPHC;
Vi phạm trong thời gian đang chấp hành hình phạt của bản án hình sự hoặc đang chấp
hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý VPHC;
Tiếp tục thực hiện hành vi VPHC mặc dù người có thẩm quyền đã yêu cầu chấm dứt
hành vi đó;
Sau khi vi phạm đã có hành vi trốn tránh, che giấu VPHC;
VPHC có quy mô lớn, số lượng hoặc trị giá hàng hóa lớn;
VPHC đối với nhiều người, trẻ em, người già, người khuyết tật, phụ nữ mang thai.
Những tình tiết nói trên nếu đã được quy định là hành vi VPHC thì không được coi là
tình tiết tăng nặng.
8
(Điều 10 Luật XLVPHC năm 2012)
1.3.7. Những trường hợp không xử phạt VPHC
Theo Điều 11 Luật XLVPHC năm 2012, không xử phạt VPHC đối với các trường
hợp sau đây:
Thực hiện hành vi VPHC trong tình thế cấp thiết;
Tình thế cấp thiết: là tình thế của cá nhân, tổ chức vì muốn tránh một nguy cơ đang thực
tế đe dọa lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc
của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại
cần ngăn ngừa.6
Thực hiện hành vi VPHC do phòng vệ chính đáng;
Phòng vệ chính đáng là hành vi của cá nhân vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức,
bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả lại một
cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích nói trên.7
1.3.8. Các hình thức xử phạt
Các hình thức xử phạt được chia thành hai nhóm: hình thức xử phạt chính và hình
thức xử phạt bổ sung.
Hình thức xử phạt chính là hình thức xử phạt được áp dụng một cách độc lập. Đối
với mỗi VPHC, cá nhân, tổ chức VPHC chỉ bị áp dụng một hình thức xử phạt chính.
Hình thức xử phạt bổ sung là hình thức xử phạt thường được áp dụng kèm theo hình
thức xử phạt chính, làm gia tăng sức mạnh, tính răn đe, tính nghiêm khắc của hình thức
xử phạt chính. Tuy nhiên, trong những trường hợp nhất định, hình thức xử phạt bổ sung
vẫn được áp dụng cho dù không áp dụng hình thức xử phạt chính11. Đối với mỗi VPHC,
cá nhân, tổ chức vi phạm có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung.
Theo Khoản 1 Điều 21 Luật XLVPHC năm 2012, các hình thức xử phạt VPHC bao
gồm:
Cảnh cáo;
Phạt tiền;
Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ
hoạt động có thời hạn;
Tịch thu tang vật VPHC, phương tiện được sử dụng để VPHC (gọi chung là tang
vật, phương tiện VPHC);
Trục xuất.
Trong đó, cảnh cáo và phạt tiền chỉ được quy định và áp dụng là hình thức
xử phạt chính; các hình thức xử phạt còn lại có thể được quy định là hình thức xử
phạt bổ sung hoặc hình thức xử phạt chính.
1.3.8.1. Cảnh cáo
Cảnh cáo là hình thức xử phạt chính được áp dụng đối với:
- Cá nhân, tổ chức VPHC không nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ và theo quy
định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo;
- Mọi hành vi VPHC do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực
hiện.
+ Xác định số lần, tỷ lệ phần trăm của giá trị, số lượng hàng hóa, tang vật vi phạm, đối
tượng bị vi phạm hoặc doanh thu, số lợi thu được từ vi phạm hành chính.
Ví dụ: Hành vi lập hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ sai về số lượng, giá trị để khai thuế
thấp hơn thực tế bị phạt tiền 1,5 lần tính trên số tiền thuế trốn, gian lận đối với người
nộp thuế trong các trường hợp: vi phạm lần đầu có tình tiết tăng nặng hoặc vi phạm lần
thứ hai có một tình tiết giảm nhẹ (Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày
16/10/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC về thuế và cưỡng chế thi hành
quyết định hành chính thuế).
-
Mức phạt tiền cụ thể đối với một hành vi VPHC là mức trung bình của khung tiền
phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có
thể giảm xuống nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu
có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá
mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt.
11
Đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế thì mỗi tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ
được tính tăng hoặc giảm 20% mức phạt trung bình của khung phạt tiền. Khi xác định
mức phạt tiền đối với người nộp thuế vi phạm vừa có tình tiết tăng nặng, vừa có tình
tiết giảm nhẹ thì xem xét giảm trừ tình tiết tăng nặng theo nguyên tắc một tình tiết
giảm nhẹ được giảm trừ một tình tiết tăng nặng. Sau khi giảm trừ theo nguyên tắc
trên, nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống, nhưng không
được giảm quá mức tối thiểu của khung phạt tiền, nếu có tình tiết tăng nặng thì mức
tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung phạt
tiền12.
Đối với các hành vi vi phạm quy định về giá, phí, lệ phí, hóa đơn, trường hợp có
một tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ thì áp dụng mức trung bình tăng thêm hoặc
+ Phạt tiền đến 40.000.000 đồng: an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã
hội; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; giao thông đường bộ; giao
dịch điện tử; bưu chính;
+ Phạt tiền đến 50.000.000 đồng: phòng cháy, chữa cháy; cơ yếu; quản lý và bảo vệ biên
giới quốc gia; bổ trợ tư pháp; y tế dự phòng; phòng, chống HIV/AIDS; giáo dục; văn hóa;
thể thao; du lịch; quản lý khoa học, công nghệ; chuyển giao công nghệ; bảo vệ, chăm sóc
trẻ em; bảo trợ, cứu trợ xã hội; phòng chống thiên tai; bảo vệ và kiểm dịch thực vật; quản
lý và bảo tồn nguồn gen; sản xuất, kinh doanh giống vật nuôi, cây trồng; thú y; kế toán;
kiểm toán độc lập; phí, lệ phí; quản lý tài sản công; hóa đơn; dự trữ quốc gia; điện lực;
hóa chất; khí tượng thủy văn; đo đạc bản đồ; đăng ký kinh doanh;
+ Phạt tiền đến 75.000.000 đồng: quốc phòng, an ninh quốc gia; lao động; dạy nghề; giao
thông đường sắt; giao thông đường thủy nội địa; bảo hiểm y tế; bảo hiểm xã hội;
+ Phạt tiền đến 100.000.000 đồng: quản lý công trình thuỷ lợi; đê điều; khám bệnh, chữa
bệnh; mỹ phẩm; dược, trang thiết bị y tế; sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi, phân
bón; quảng cáo; đặt cược và trò chơi có thưởng; quản lý lao động ngoài nước; giao thông
hàng hải; giao thông hàng không dân dụng; quản lý và bảo vệ công trình giao thông; công
nghệ thông tin; viễn thông; tần số vô tuyến điện; báo chí; xuất bản; thương mại; bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng; hải quan, thủ tục thuế; kinh doanh xổ số; kinh doanh bảo
hiểm; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; quản lý vật liệu nổ; bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản,
hải sản;
+ Phạt tiền đến 150.000.000 đồng: quản lý giá; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản
xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý, phát
triển nhà và công sở; đấu thầu; đầu tư;
+ Phạt tiền đến 200.000.000 đồng: sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả;
+ Phạt tiền đến 250.000.000 đồng: điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng
nguồn tài nguyên nước;
+ Phạt tiền đến 500.000.000 đồng: xây dựng; quản lý rừng, lâm sản; đất đai;
+ Phạt tiền đến 1.000.000.000 đồng: quản lý các vùng biển, đảo và thềm lục địa của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quản lý hạt nhân và chất phóng xạ, năng lượng
nguyên tử; tiền tệ, kim loại quý, đá quý, ngân hàng, tín dụng; thăm dò, khai thác dầu khí
có hiệu lực thi hành.
(Điều 25 Luật XLVPHC năm 2012)
1.3.8.5. Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
- Tịch thu tang vật, phương tiện VPHC là việc sung vào ngân sách nhà nước vật, tiền,
hàng hoá, phương tiện có liên quan trực tiếp đến VPHC, được áp dụng đối với VPHC
nghiêm trọng do lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức.
(Điều 25 Luật XLVPHC năm 2012)
-
1.3.8.6. Trục xuất
Trục xuất là hình thức xử phạt buộc người nước ngoài có hành vi VPHC tại Việt Nam
phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
14
(Điều 27 Luật XLVPHC năm 2012)
1.3.9. Các biện pháp khắc phục hậu quả
Theo Điều 28 Luật XLVPHC năm 2012, các biện pháp khắc phục hậu quả bao gồm:
-
Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu;
-
Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây
dựng không đúng với giấy phép;
-
-
Các biện pháp khắc phục hậu quả khác do Chính phủ quy định.
Ví dụ: Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18 tháng 11 năm 2016 của Chính phủ quy
định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực bảo vệ môi trường bổ sung thêm các biện pháp
khắc phục hậu quả sau:
+ Buộc xây lắp công trình bảo vệ môi trường theo quy định; buộc vận hành đúng quy
trình đối với công trình bảo vệ môi trường theo quy định;
+ Buộc di dời ra khỏi khu vực cấm; thực hiện đúng quy định về khoảng cách an toàn về
bảo vệ môi trường đối với khu dân cư;
+ Truy thu số phí bảo vệ môi trường nộp thiếu, trốn nộp theo quy định;
+ Buộc chi trả kinh phí trưng cầu giám định, kiểm định, đo đạc và phân tích mẫu môi
trường (đối với tất cả các thông số môi trường của các mẫu môi trường vượt quy chuẩn
15
kỹ thuật) trong trường hợp có vi phạm về xả chất thải vượt quy chuẩn kỹ thuật hoặc gây ô
nhiễm môi trường theo định mức, đơn giá hiện hành;
+ Buộc bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm gây ra theo quy định của pháp luật;
+ Buộc di dời cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến vị trí phù hợp với quy
hoạch và sức chịu tải của môi trường.
-
-
Nguyên tắc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả:
Đối với mỗi VPHC, ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, cá nhân, tổ chức VPHC
định tại Điều 54 Luật XLVPHC năm 2012. Việc giao quyền xử phạt VPHC được thực
hiện thường xuyên hoặc theo vụ việc và phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó
16
-
xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn giao quyền. Cấp phó được giao quyền xử phạt
VPHC phải chịu trách nhiệm về quyết định xử phạt VPHC của mình trước cấp trưởng
và trước pháp luật. Người được giao quyền không được giao quyền, ủy quyền cho bất
kỳ người nào khác.
Nguyên tắc xác định và phân định thẩm quyền xử phạt VPHC và áp dụng biện pháp
khắc phục hậu quả:
+ Thẩm quyền xử phạt VPHC của những người được quy định tại các điều từ 38 đến
51 của Luật XLVPHC năm 2012 là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi VPHC của
cá nhân; trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt tổ chức gấp 02 lần thẩm quyền
xử phạt cá nhân và được xác định theo tỉ lệ phần trăm quy định tại Luật này đối với chức
danh đó.
Trong trường hợp phạt tiền đối với VPHC trong khu vực nội thành thuộc ba lĩnh
vực giao thông đường bộ; bảo vệ môi trường; an ninh trật tự, an toàn xã hội thì các chức
danh có thẩm quyền phạt tiền đối với các hành vi VPHC do Chính phủ quy định cũng có
thẩm quyền xử phạt tương ứng với mức tiền phạt cao hơn đối với các hành vi VPHC do
Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương quy định áp dụng trong nội thành.
+ Thẩm quyền phạt tiền được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt
quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể.
+ Chủ tịch UBND các cấp có thẩm quyền xử phạt VPHC trong các lĩnh vực quản
lý nhà nước ở địa phương. Người có thẩm quyền xử phạt VPHC quy định tại các điều từ
39 đến 51 của Luật XLVPHC năm 2012 có thẩm quyền xử phạt VPHC thuộc lĩnh vực,
XLVPHC năm 2012 mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì
người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của
mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn
không được quá 30 ngày.
-
Quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 66 hoặc khoản 3 Điều 63 của Luật XLVPHC
năm 2012, người có thẩm quyền xử phạt không ra quyết định xử phạt nhưng vẫn
quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, quyết định tịch thu sung vào ngân
sách nhà nước hoặc tiêu hủy tang vật VPHC thuộc loại cấm lưu hành.
-
Người có thẩm quyền xử phạt VPHC nếu có lỗi trong việc để quá thời hạn mà không
ra quyết định xử phạt thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.
(Điều 66 Luật XLVPHC năm 2012)
1.3.12. Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
- Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt VPHC là 01 năm, kể từ ngày ra quyết định, quá
thời hạn này thì không thi hành quyết định đó nữa, trừ trường hợp quyết định xử phạt có
hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện VPHC, áp dụng biện pháp khắc phục hậu
quả thì vẫn phải tịch thu tang vật, phương tiện thuộc loại cấm lưu hành, áp dụng biện
pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp cần thiết để bảo vệ môi trường, bảo đảm giao
thông, xây dựng và an ninh trật tự, an toàn xã hội.
- Trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt cố tình trốn tránh, trì hoãn thì thời hiệu
nói trên được tính kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, trì hoãn.
18
19
Truy tìm đối tượng phải chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa
vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong trường hợp
bỏ trốn.
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG HOẠT
ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
II.
Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng
ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh14. Dù doanh
nghiệp thuộc loại hình nào (công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty
hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân…), gắn với ngành nghề cụ thể nào, là doanh
nghiệp xã hội15 hay doanh nghiệp coi lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu thì kinh
doanh vẫn là hoạt động chủ đạo của doanh nghiệp.
Vì vậy, tìm hiểu pháp luật xử lý VPHC liên quan đến hoạt động của doanh
nghiệp chủ yếu là tìm hiểu các quy định pháp luật về VPHC và xử lý VPHC phát
sinh trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh tế này. Mà kinh doanh là
việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư,
từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm
mục đích sinh lợi16 nên các VPHC của doanh nghiệp rất đa dạng và phức tạp, gắn
liền với nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau, được điều chỉnh bởi rất nhiều các
văn bản quy phạm pháp luật khác nhau.
2.1.
1.
2.
3.
7. Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 quy định chi tiết một
số điều và biện pháp thi hành Luật XLVPHC.
8. Nghị định 95/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22 tháng 8 năm 2013 quy định
về xử phạt VPHC trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao
động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (được sửa đổi, bổ sung
bởi Nghị định số 88/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07 tháng 10 năm 2015,
Văn bản hợp nhất số 4756/VBHN-BLĐTBXH ngày 19 tháng 11 năm 2015).
9. Nghị định số 99/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29 tháng 8 năm 2013 quy
định xử phạt VPHC trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
10. Nghị định số 109/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24 tháng 9 năm 2013 quy
định xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí và hóa đơn (được
sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 49/2016/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27
tháng 5 năm 2016).
11. Nghị định số 121/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10 tháng 10 năm 2013 quy
định xử phạt VPHC trong hoạt động xây dựng, kinh doanh bất động sản, khai
thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ
thuật; quản lý phát triển nhà và công sở.
12. Nghị định số 127/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 10 năm 2013 quy
định xử phạt VPHC và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh
vực hải quan (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 45/2016/NĐ-CP của
Chính phủ ngày 26 tháng 5 năm 2016).
13. Nghị định số 129/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16 tháng 10 năm 2013 quy
định về xử phạt VPHC về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính
thuế.
14. Nghị định số 158/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12 tháng 11 năm 2013 quy
định xử phạt VPHC trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo
(được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 28/2017/NĐ-CP của Chính phủ ngày
20 tháng 3 năm 2017).
15. Nghị định số 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12 tháng 11 năm 2013 quy
định xử phạt VPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống
năm 2013 hướng dẫn thực hiện xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý phí, lệ
phí.
26. Thông tư số 19/2014/TT- BKHCN ngày 01 tháng 7 năm 2014 của Bộ trưởng
Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số
80/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt
VPHC trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
27. Thông tư số 31/2014/TT-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính ngày 07 tháng 3
năm 2014 hướng dẫn xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý giá tại Nghị định
số 109/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24 tháng 9 năm 2013 quy định xử
phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí và hóa đơn.
28. Thông tư số 149/2014/TT-BTC ngày 10 tháng 10 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ
Tài chính quy định về số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi VPHC
để sung vào ngân sách nhà nước.
22
29. Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 5 năm 2015 của Bộ trưởng
Bộ Khoa học Công nghệ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định
99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt
VPHC trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
30. Thông tư số 155/2016/TT-BTC ngày 20 tháng 10 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ
Tài chính quy định chi tiết thi hành Nghị định số 127/2013/NĐ-CP ngày 15
tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC và cưỡng chế thi
hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan và Nghị định số
45/2016/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định 127/2013/NĐ-CP.
…
2.2. Một số quy định cụ thể về VPHC và xử lý VPHC trong hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp
- Hành vi đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp,
Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, Giấy chứng
nhận đăng ký địa điểm kinh doanh quá thời hạn quy định từ 91 ngày trở lên
(Khoản 3 Điều 25)
+ Hình thức xử phạt: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng
+ Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc đăng ký thay đổi các nội dung Giấy
chứng nhận doanh nghiệp theo quy định.
2.2.1.3. Vi phạm quy định về công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp: Hành vi
không công bố hoặc công bố không đúng thời hạn quy định nội dung đăng ký
doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp (Khoản 1
Điều 26)
- Hình thức xử phạt: Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc phải công bố nội dung đăng ký doanh
nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
2.2.1.4. Vi phạm quy định về công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước (Đ 27)
- Các hành vi: Công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước không đầy đủ, không
chính xác; Có nhiều hơn một (01) người đại diện theo pháp luật nhưng không
thông báo với cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước và Bộ Kế hoạch và Đầu tư
hoặc không công khai trên cổng thông tin hoặc trang thông tin điện tử của doanh
nghiệp; Thực hiện công bố thông tin qua người được ủy quyền công bố thông tin
nhưng không gửi thông báo ủy quyền tới cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước và
Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Không có văn bản báo cáo giải trình với cơ quan đại diện
chủ sở hữu nhà nước về việc thay đổi nội dung thông tin đã công bố; Tạm hoãn
công bố thông tin nhưng không báo cáo lý do của việc tạm hoãn hoặc không gửi
thông báo đề nghị hoãn công bố thông tin cho cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà
nước (Khoản 1 Điều 27)
+ Hình thức xử phạt: Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
+ Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc bổ sung hoặc sửa đổi nội dung thông tin công bố đối với hành vi
công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước không đầy đủ, không
+ Hình thức xử phạt: Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
+ Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc đăng ký chuyển đổi loại hình doanh
nghiệp phù hợp với quy định của Luật doanh nghiệp.
- Hành vi hoạt động khi đã kết thúc thời hạn ghi trong Điều lệ mà không được
gia hạn.
+ Hình thức xử phạt: Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
+ Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty hoặc
đăng ký giải thể.
- Hành vi không đăng ký thay đổi với cơ quan đăng ký kinh doanh khi không
góp đủ vốn Điều lệ như đã đăng ký.
+ Hình thức xử phạt: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
25