ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ TUẤN ANH
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC THANH TRA NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI
TRÊN ĐỊA BÀN THỦ ĐÔ Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và Pháp luật
Mã số: 60.38.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Mục lục
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT XỬ
LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THANH TRA
CHUYÊN NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI 8
1.1. Vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông vận tải đƣờng bộ 8
1.1.1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải 8
1.1.2. Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải 13
1.2. Khái niệm, đặc điểm, các giai đoạn áp dụng pháp luật xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải 17
1.2.1. Khái niệm áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải 17
1.2.2. Đặc điểm của áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong thanh
tra chuyên ngành giao thông vận tải 19
1.2.3. Nguyên tắc áp dung pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong thanh
tra chuyên ngành giao thông vận tải 24
1.2.4. Các giai đoạn của hoạt động áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính
trong chuyên ngành thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải 29
1.3. Vai trò và các trƣờng hợp áp dụng pháp luật xử phạt vi phạm hành
chính trong thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải 36
1.3.1. Vai trò của áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải 36
1.3.2. Các trường hợp áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong
thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải 39
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM
HÀNH CHÍNH TRONG THANH TRA CHUYÊN NGÀNH GIAO
luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thanh tra chuyên
ngành giao thông vận tải trên địa bàn Thủ đô Hà Nội 90
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động áp dụng pháp luật về
xử lý vi phạm hành chính 90
3.2.2. Giải pháp phòng ngừa vi phạm hành chính trong hoạt động thanh tra
chuyên ngành giao thông vận tải trên địa bàn Thủ đô Hà Nội 94
3.2.3. Giải pháp tổ chức thực hiện áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải trên địa
bàn Thủ đô Hà Nội 100
3.2.4. Giải pháp khắc phục hậu quả do vi phạm pháp luật hành chính trong
lĩnh vực giao thông vận tải trên địa bàn Thủ đô Hà Nội 106
KẾT LUẬN 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112 DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Tổng hợp đội ngũ cán bộ, công chức Thanh tra Sở GTVT Hà Nội 58
Bảng 2.2. Kết quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đường thủy nội địa 63
Bảng 2.3. Kết quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực cầu, đường từ
năm 2011 đến 2013 66
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1. Cơ cấu độ tuổi của cán bộ, công chức Thanh tra Sở 59
Biểu đồ 2.2. Trình độ đào tạo của Thanh tra Sở GTVT Hà Nội 59
Biểu đồ 2.3. Tình trạng vi phạm GTVT đường thủy nội địa 64
thông, xây dựng văn hóa giao thông đô thị
Là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành thanh tra chuyên ngành,
2
trong công tác bảo đảm trật an toàn giao thông, Thanh tra Sở Giao thông vận
tải Hà Nội có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ thanh tra,
kiểm tra việc chấp hành những quy định của pháp luật đối với các tổ chức, cá
nhân hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực giao thông vận tải và tham gia giao
thông; xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật; giải quyết khiếu
nại, tố cáo thuộc lĩnh vực quản lý của Ngành và Công tác phòng, chống tham
nhũng theo thẩm quyền.
Trong những năm qua, việc áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực thanh tra giao thông vận tải ở thành phố Hà Nội đã đạt
được nhiều thành tựu quan trọng như: Thanh tra Sở Giao thông vận tải thành
phố Hà Nội đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của mình; chất lượng công tác áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính
qua công tác thanh tra đã được nâng lên một bước, Thanh tra Sở đã tiến hành
thanh tra, kiểm tra, xử lý nhiều vụ việc vi phạm về các điều kiện trong kinh
doanh vận tải và về bảo đảm trật tự, an toàn trong quá trình tham gia giao
thông, vận tải; tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân khi tham gia hoạt
động vận tải hành khách và tham gia giao thông,…; góp phần giữ vững an
ninh, trật tự an toàn xã hội, giảm thiểu tai nạn giao thông, tạo môi trường ổn
định cho sự phát triển của Thành phố cũng như cả nước.
Bên cạnh thành tựu đó, công tác xử lý vi phạm hành chính thực hiện
bởi cơ quan thanh tra vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót và bất cập như: Công
tác xử lý vi phạm còn thiếu chính xác, kịp thời, nghiêm minh trong các tình
huống vi phạm pháp luật; áp dụng các điều khoản chưa phù hợp với thực tế…
Những hạn chế này đã làm ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động xử lý vi
phạm hành chính của lực lượng thanh tra, làm nảy sinh tâm lý coi thường
pháp luật, gây bức xúc, khiếu kiện trong nhân dân… Nguyên nhân của hạn
4
chính và nhiều công trình khác. Khi nghiên cứu tác công trình trên, có thể
thấy rằng, hầu hết các công trình đều đã bước đầu đi phân tích về hoạt động
áp dụng pháp luật như tác giả Đặng Thanh Sơn và tác giả Lê Xuân Thân
nhưng các tác giả này chủ yếu phân tích hoạt động áp dụng pháp luật gắn với
hoạt động xét xử của tòa án hoặc đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường pháp
chế xã hội chủ nghĩa qua hoạt động xử lý vi phạm hành chính…, hơn nữa các
đề tài này có đối tượng hướng đến rất rộng, không tập trung vào địa bàn cụ
thể. Ngược lại, tác giả Vũ Thị Giang lại đi sâu phân tích về thực trạng tổ chức
và hoạt động của Thanh tra Sở Giao thông vận tải Hà Nội, đưa ra một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Thanh tra Sở mà chưa đề cập
đến hoạt động áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính của cơ Thanh tra
Sở. Bên cạnh đó, các đề tài này cũng như các bài viết khác, các tác giả đều
chưa đề cập đến hoạt động áp dụng pháp luật gắn với xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải. Dường như
vẫn chưa có một công trình nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ
thống về việc áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong thanh tra
chuyên ngành giao thông vận tải trên địa bàn thành phố Hà Nội nhằm đưa ra
những giải pháp có giá trị khoa học để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về
xử lý vi phạm hành chính trong thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải ở
Hà Nội. Do đó, đề tài nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động áp dụng pháp luật
xử lý vi phạm hành chính của Thanh tra Sở Giao thông vận tải trên địa bàn
Thủ đô Hà Nội không bị trùng về nội dung với các đề tài trước đó, đồng thời
đã đáp ứng được tính mới của công trình nghiên cứu khoa học.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến
hoạt động áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong thanh tra, Luận
quản lý hai lĩnh vực là đường bộ và đường thủy nội địa (lĩnh vực hàng hải,
hàng không và đường sắt do Bộ Giao thông vận tải trực tiếp quản lý), do đó,
Luận văn chỉ nghiên cứu, đánh giá về hoạt đông áp dụng xử phạt vi phạm
hành chính qua công tác thanh tra chuyên ngành đối với hai lĩnh vực này, từ
đó đưa ra những nhận định khái quát và giải pháp chung nhằm nâng cao hiệu
quả áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
vận tải trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Phù hợp với mục tiêu, nội dung nghiên cứu, Luận văn được xây dựng
dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật.
Luận văn sử dụng phương pháp luận của triết học duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử; đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học
cụ thể như: Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp phân tích
và tổng hợp và so sánh, phương pháp thống kê v.v để thực hiện nhiệm vụ đặt
ra của luận văn.
6. Những đóng góp mới của Luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu tương đối có hệ thống cơ sở lý luận
và thực tiễn của việc áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong thanh
tra, do đó, Luận văn có một số đóng góp sau:
Một là, làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật xử lý
vi phạm hành chính trong lĩnh vực thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải.
Hai là, thông qua đánh giá tổng quát thực trạng áp dụng pháp luật xử lý
vi phạm hành chính trong lĩnh vực thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải
trên địa bàn Thủ đô Hà Nội, Luận văn đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng
cao hơn nữa hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải trên địa bàn Thủ đô.
7
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Để phân tích vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải,
trước hết cần khái quát về pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông vận tải để khi giải quyết những vấn đề cụ thể không phải quay lại
xem xét những vấn đề chung. Vì vậy, trong phần này bên cạnh việc tập trung
phân tích các yếu tố các dấu hiệu vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông vận tải, luận văn khái quát về pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông vận tải.
Trong khoa học pháp lý, pháp luật là những quy tắc hành vi, quy tắc xử
sự mang tính bắt buộc chung, do nhà nước ban hành, thừa nhận nhằm điều
chỉnh các quan hệ xã hội. Hệ thống pháp luật là một chỉnh thể thống nhất,
được chia thành các ngành luật, mỗi ngành lập là tổng thể các quy phạm pháp
luật điều chỉnh một lĩnh vực pháp luật, có đối tượng điều chỉnh và phương
pháp điều chỉnh riêng. Mỗi ngành luật được chia thành các chế định, mỗi chế
định pháp luật là một nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã
hội gần gũi nhau, cùng tính chất. Chế định pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính là một chế định pháp luật thuộc ngành luật hành chính, là tổng thể các
quy phạm pháp luật quy định về hành vi vi phạm hành chính, các biện pháp
xử lý vi phạm hành chính, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước, người có
thẩm quyền trong xử lý vi phạm hành chính, trình tự thủ tục áp dụng các biện
9
pháp xử lý vi phạm hành chính. Do tính đặc thù của quản lý hành chính nhà
nước, sự đa dạng, phức tạp của vi phạm hành chính, nên trong mọi lĩnh vực
của quản lý hành chính nhà nước đều có những hành vi vi phạm quy tắc quản
lý hành chính nhà nước. Vì vậy, chế định xử lý vi phạm hành chính là một
chế định rất lớn, bao gồm nhiều những “chế định” nhỏ, hay “tiểu chế định”,
trong đó có “chế định” xử lý vi phạm hành chính [12, tr.186]. Từ đây có thể
suy ra pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải
là tập hợp các quy phạm pháp luật quy định những hành vi vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông vận tải, các biện pháp xử lý vi phạm hành
phải là vi phạm hành chính hay không, thì chúng ta phải có những căn cứ pháp
lý xác định hành vi đó và phải được pháp luật về lĩnh vực giao thông vận tải
quy định là hành vi vi phạm hành chính; đồng thời, hành vi đó phải bị ngăn
chặn, xử phạt bằng các biện pháp hành chính được pháp luật về lĩnh vực giao
thông vận tải quy định. Cần tránh tình trạng áp dụng “tương tự pháp luật”
trong việc xác định vi phạm hành chính đối với tổ chức và cá nhân.
Đối với một số loại vi phạm hành chính thì dấu hiệu về mặt khách
quan của nó còn có thể có sự kết hợp với những yếu tố khác. Những yếu tố
khác có thể là: (i) Thời gian thực hiện hành vi vi phạm; (ii) Địa điểm thực
hiện hành vi vi phạm; (iii) Công cụ, phương tiện vi phạm; (iv) Hậu quả và
mối quan hệ nhân quả.
- Dấu hiệu về mặt chủ quan
Dấu hiệu bắt buộc về mặt chủ quan của vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông vận tải là dấu hiệu lỗi của chủ thể vi phạm. Vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông vận tải là hành vi có lỗi thể hiện dưới dạng lỗi
cố ý hoặc lỗi vô ý của tổ chức, cỏ nhân. Người thực hiện hành vi này phải
trong trạng thái có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của
11
mình nhưng đã vô tình, thiếu thận trọng mà không nhận thức được điều đó
hoặc nhận thức được nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi vi phạm hành
chính. Ngược lại, nếu chủ thể thực hiện hành vi đó khi không có khả năng
nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì hành vi do họ thực hiện
không phải là vi phạm hành chính.
Ngoài yếu tố lỗi là dấu hiệu bắt buộc về mặt chủ quan của mọi vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải thì trong một số vi phạm hành
chính cụ thể, pháp luật còn xác định dấu hiệu mục đích là dấu hiệu bắt buộc.
Vì thế khi xử phạt hành chính cá nhân, tổ chức về vi phạm hành chính này
cần xác định rõ hành vi của họ có thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu mục đích hay
không, ngoài việc xem xét các dấu hiệu khác.
hành chính hay không, cần xác định yếu tố lỗi trong mặt chủ quan của họ.
(ii) Người đủ 16 tuổi trở lên có thể là chủ thể của vi phạm hành chính
trong mọi trường hợp.
(iii) Tổ chức có thể là chủ thể vi phạm hành chính, bao gồm các cơ
quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực
lượng vũ trang nhân dân.
(iv) Cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng có thể là chủ thể của vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải theo quy định của pháp luật Việt
Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có
quy định khác.
- Dấu hiệu về khách thể
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải cũng như các vi
phạm pháp luật khác đều xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo
vệ. Dấu hiệu khách thể để xác định vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông vận tải là hành vi vi phạm này đã xâm hại đến trật tự quản lý hành
13
chính nhà nước trong lĩnh vực giao thông vận tải, hay vi phạm hành chính là
hành vi trái với các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực
giao thông vận tải như quy tắc về an toàn giao thông, quy tắc về phòng ngừa
đua xe trái phép … được quy định trong các văn bản pháp luật của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền.
Từ những đặc điểm nêu trên, có thể đưa ra một số khái niệm:
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải là những hành vi
của cá nhân, tổ chức vi phạm quy định của pháp luật trong lĩnh vực giao
thông vận tải một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy
định của pháp luật phải bị xử lý vi phạm hành chính, bao gồm: Các hành vi vi
phạm quy tắc giao thông vận tải; các hành vi vi phạm quy định về kết cấu hạ
tầng giao thông vận tải; các hành vi vi phạm quy định về phương tiện tham
gia giao thông vận tải; các hành vi vi phạm quy định về người điều khiển
Xử phạt hành chính là phản ứng (chế tài) của Nhà nước trước các hành
vi xâm hại quy tắc quản lý nhà nước trong lĩnh vực giao thông vận tải. Biểu
hiện của phản ứng đó là việc áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính. Việc
áp dụng các biện pháp xử phạt này có tác dụng trực tiếp điều chỉnh hành vi xử
sự của chủ thể vi phạm; tức là buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi
trước Nhà nước và có tác dụng đình chỉ vi phạm hành chính qua đó mà bảo
vệ và duy trì trật tự quản lý nhà nước.
Hai là, cơ sở để xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải là
vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải.
Chỉ có hành vi nào xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước trong lĩnh vực
giao thông vận tải mà chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự do các
cá nhân, tổ chức đủ năng lực chủ thể thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý mới bị
xử phạt hành chính.
Từ quy định trên, khi áp dụng các biện pháp xử phạt đòi hỏi các cơ
15
quan nhà nước hoặc cán bộ nhà nước có thẩm quyền phải xác định rõ có vi
phạm hành chính xảy ra hay không, tính chất và mức độ của vi phạm như thế
nào, hành vi vi phạm đó có quy định trong các văn bản pháp luật quy định về
xử phạt hành chính hay chưa.
Ba là, hoạt động xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải
được quy định qua nhiều trình tự, thủ tục, nhiều giai đoạn nhưng kết quả của
hoạt động này phải được thể hiện bằng quyết định xử phạt hành chính về lĩnh
vực giao thông vận tải.
Trong xử phạt hành chính, các chủ thể có thẩm quyền xử phạt được
thực hiện hai loại hành vi:
- Hành vi ban hành quyết định xử phạt, quyết định xử phạt hành
chính phải được thể hiện bằng văn bản hay bằng một hình thức khác do
pháp luật quy định;
- Hành vi hành chính khác như nhằm đình chỉ hành vi vi phạm, lập biên
tự, Cảnh sát phản ứng nhanh, Cảnh sát cơ động, Cảnh sát quản lý hành chính
về trật tự xã hội, Trưởng Công an cấp xã (trong một số trường hợp); Thanh tra
đường bộ, đường thủy nội địa và Cảnh sát trật tự, Cảnh sát phản ứng nhanh,
Cảnh sát cơ động, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
- Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thanh tra giao
thông vận tải thường diễn ra nhanh chóng, ngay khi có hành vi vi phạm và
trình tự, thủ tục áp dụng cũng tương đối gọn nhẹ. Do xuất phát từ thực tế công
việc, thường khi xảy ra trường hợp vi phạm pháp luật thuộc thẩm quyền xử
phạt, lực lượng chức năng sẽ xem xét, đánh giá, phân tích các khía cạnh của
vụ việc để đưa ra cách giải quyết phù hợp. Đối với những trường hợp tiến
hành thanh tra theo đoàn, việc áp dụng pháp luật trong hoạt động này có thể
kéo dài hơn, tuy nhiên, nếu so sánh với các lĩnh vực khác như văn hóa, điện
lực, trật tự đô thị thì hoạt động này diễn ra tương đối nhanh chóng.
17
- Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận
tải qua thanh tra chuyên ngành thường gắn liền với hành vi hành chính cụ thể,
mang tính trực tiếp; là những hành vi phương hại đến kết cấu hạ tầng giao
thông, hành vi gây nguy hại cho chính chủ thể vi phạm và những người tham
gia giao thông. Nó đòi hỏi phải nhanh chóng kịp thời và chính xác, nếu không
được phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời sẽ dễ dẫn đến hậu quả là tai
nạn và tai nạn nghiêm trọng. Đặc trưng này tạo nên tính đặc thù trong Hoạt
động xử phạt vi phạm hành chính của lực Thanh tra Giao thông, nó khác với
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng hay trong các lĩnh vực
quản lý nhà nước khác
Từ những đặc điểm trên có thể đi đến định nghĩa sau: Xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải là một loại hoạt động cưỡng chế
hành chính cụ thể mang tính quyền lực nhà nước phát sinh khi có vi phạm
hành chính về giao thông vận tải; biểu hiện ở việc áp dụng các chế tài hành
chính mang tính chất trừng phạt do các chủ thể có thẩm quyền nhân danh
bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc tổ chức xã hội
được Nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hóa quy phạm pháp luật vào các
trường hợp cụ thể, đối với cá nhân, tổ chức cụ thể. Quan điểm khác thì cho
rằng, áp dụng pháp luật là: “Hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
hoặc cá nhân, tổ chức xã hội được Nhà nước trao quyền vận dụng những quy
phạm pháp luật thích hợp nhằm xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý của các
cá nhân hay tổ chức trong trường hợp cụ thể đưa ra áp dụng”[21].
Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật của Viện Nhà nước
và Pháp luật - Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh thì: Áp
dụng pháp luật vừa là một hình thức thực hiện pháp luật diễn ra trong hoạt
động thực hiện quyền hành pháp và thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước.
Đây là hoạt động thực hiện pháp luật của cơ quan Nhà nước, được xem như là